Đạo Phật Khất Sĩ
CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Thiền ngộ (Phần 3)

TẮC THỨ CHÍN: KHẾ NGỘ TỰ NGÃ

Mã Tổ truyền thừa được tám mươi bốn vị Đại tông sư, mỗi mỗi trong số họ đều thấu tỏ trời đất, quát gió gọi mây. Trong số nhiều huynh đệ đó, Ma Cốc Bảo Triệt khâm phục nhất là sư huynh Nam Tuyền Phổ Nguyện. Ngài đã từng đi theo Nam Tuyền Phổ Nguyện đến Trường An tham yết Quốc sư Huệ Trung, giữa đường bị một vòng tròn của Nam Tuyền mà quay lại; Họ cũng đã từng kết bạn đi Hàng Châu thăm viếng một vị Quốc sư khác là Kính Sơn Quốc Nhất, lại một phen ở nửa đường gặp phải một bà lão bán nước trà có kinh nghiệm tu luyện.

Hôm nay, Thiền sư Ma Cốc Bảo Triệt lại xách tích trượng ra ngoài hành cước.

Đầu tiên, Ngài đi đến phía Bắc phủ Kinh Triệu, tìm đến đạo tràng của một sư huynh đồng môn là Thiền sư Hoài Huy – chùa Chương Kính. Đi mấy ngàn dặm, khó khăn lắm mới gặp được sư huynh đã xa cách nhiều năm, thế mà chẳng chào hỏi gì, chỉ đi ba vòng quanh Thiền sàng của Thiền sư Chương Kính Hoài Huy, nện tích trượng xuống, đứng đó hồi lâu nhưng im lặng chẳng nói gì.

Các Thiền tăng thời xưa vân du tham học, một đôi giày cỏ đi khắp chốn tòng lâm trong thiên hạ, một cây tích trượng lượng hết Thiền nhân trong chín châu, chẳng qua cũng chỉ cần một việc khai ngộ kiến tánh này. Cho nên, hễ đến một nơi nào, đương nhiên họ phải biết rõ vị lão Hoà thượng đang ngồi cao cao trên thiền sàng có phải thật có pháp nhãn không. Đây gọi là ‘tân nghiệm chủ’ (khách nghiệm chủ), bạn có biết, năm đó Đại sư Vĩnh Gia Huyền Giác đến Tào Khê gặp Lục Tổ, cũng đã từng đi nhiễu bên phải ba vòng, dựng tích trượng mà đứng, để lại một giai thoại thiên thu ‘Nhất Túc Giác’ (xem Tùng Thư ‘Thiền Đông Thiền Tây’).

Thiền sư Chương Kính Hoài Huy nhìn ông gật gật đầu, nói: “Đúng rồi, đúng rồi”.

Ma Cốc lại cầm tích trượng xuống phía Nam, đi đến mấy ngàn dặm, từ ven sông Vị Hà ở Thiểm Tây đi đến bờ Trường Giang ở Trì Dương An Huy. Vì ở đó có Thiền viện Nam Tuyền do sư huynh Phổ Nguyện trú trì.

Trong phương trượng, Đại sư Nam Tuyền đang ngồi thiền. Lúc Ngài nghe có tiếng người đi vào nhà, từ từ mở mắt ra, Ngài không khỏi vừa kinh ngạc vừa mừng vui – Ngài nhìn thấy sư đệ với mình tình như thủ túc – Ma Cốc Bảo Triệt gió bụi dặm trường đến thăm. Ngài vừa muốn bước xuống thiền sàng đón tiếp nhưng Ma Cốc lại mặt mày rất nghiêm túc, đoan trang, bước tới trước một bước, đi quanh thiền sàng của Ngài ba vòng, khua khua tích trượng rồi đứng yên lặng.

Nam Tuyền thấy như vậy lắc đầu nói: “Không đúng, không đúng!”

Chúng ta nên biết rằng Ma Cốc lại mang câu nói ‘đúng rồi, đúng rồi’ của Thiền sư Chương Kính Hoài Huy mà đến, cho nên lúc đó Ngài liền nói Chương Kính nói đúng, sao Đại Hoà thượng lại nói không đúng?”

Nam Tuyền nói: “Chương Kính thì đúng, chỉ do ngươi không đúng, đây chỉ là sự chuyển động do sức gió, không phải xuất phát từ tự tánh, cuối cùng cũng không tránh khỏi sự tan hoại”.

Động tác mà Ma Cốc đã làm đều giống nhau, tại sao một người lại nói đúng, một người lại nói sai? Năm đó, Đại sư Hoằng Giác làm xong động tác này rồi, Lục Tổ Huệ Năng bảo rằng: “Một người xuất gia nên biết lễ nghi, bạn từ đâu đến mà lại ngạo mạn như thế?”.

Vì sao Lục Tổ nói Đại sư ngạo mạn? Đã không nói Ngài đúng, cũng không nói Ngài là không đúng, rốt cuộc thì như thế nào mới đúng?

Một lời nói khế hợp muôn kiếp làm cọc buộc lừa. Thật ra, đúng và sai vốn là những lời lẽ khế hợp với mặt mũi xưa nay, nhưng nó cũng giống như cái cọc gỗ buộc lừa. Nếu bạn chỉ tìm hiểu trên phương diện này mà không phải là do sở đắc từ tự tánh thì chính là bị chuyển do sức gió, há chỉ đem bản thân ra làm một con lừa ngu ngốc cột vào trong đó để ngàn năm cũng khó mà thoát khỏi.

Thiền tâm linh động, pháp không phải là định pháp, như tự chứng ngộ, tự khẳng định làm cho tự ngã thăng hoa.

Thiền sư Bảo Triệt sở dĩ được gọi là ‘Ma Cốc’ bởi vì lúc về già, Ngài trú trì tại núi Ma Cốc Bồ Châu (nay là phía Tây huyện Vĩnh Tế tỉnh Sơn Tây). Đó là vùng đất nằm bên bờ sông Hoàng Hà nơi giáp ranh của tỉnh Sơn Tây và Thiểm Tây. Trong lịch sử những cây cầu của thế giới có dự định kế hoạch xây dựng cây cầu nổi trên sông Hoàng Hà ở Vĩnh Tế mang ý nghĩa thời đại cũng cách chùa của Ngài không xa lắm.

Một năm nọ vào giữa mùa hè, một vị tăng hành cước đến Thiền viện Ma Cốc, thấy Thiền sư Ma Cốc Bảo Triệt đang phẩy quạt, nên hỏi: “tánh của gió thường trú, ở đâu cũng có, vì sao Hoà thượng lại phải quạt?”

Ma Cốc trả lời: “ngươi chỉ biết tánh của gió thường trú, mà không biết ở đâu cũng có”.

Tâm của Thiền tăng giờ giờ phút phút phải trú trong sự linh động sáng suốt thanh tịnh, cho nên Ngài lập tức nhạy bén nắm lấy thiền cơ vi diệu, đánh rắn tuỳ theo gậy, nên hỏi tiếp: “Lý lẽ ở đâu cũng có là gì vậy?”

Ma Cốc yên lặng không đáp, chỉ tiếp tục phe phẩy chiếc quạt trong tay- Thiền lý đã có mặt khắp nơi, đương nhiên cũng chính ở trên sự dao động của cái quạt! Thiền tăng nhanh chóng khế nhập thiền cơ vi diệu, niềm vui khai ngộ khó mà miêu tả hết, tình cảm cảm kích đối với Sư phụ cũng không thể nào dùng lời lẽ để biểu đạt, nên Thiền tăng quỳ rạp xuống đất, không ngớt dập đầu bái tạ.

Thiền tăng Lương Toại vốn là một vị Pháp sư rất có danh tiếng, ông nghiên cứu kinh luận nhiều năm, mỗi khi ông đăng đàn giảng kinh trong Giảng tứ (nơi tuyên giảng Phật pháp) ở Bồ Châu, mấy trăm thính chúng dường như đang tắm gội gió xuân, uống nước cam lồ, nghe đến nổi sung sướng ngây ngất, như mê như say. Thế mà, danh vọng ngày càng tăng và vinh dự bao trùm trời đất cũng hoàn toàn không thể tiêu trừ những nghi hoặc trong nội tâm sâu thẳm của mình. Ông tự biết rất rõ ràng, tuy mình có những hiểu biết về vũ trụ nhân sinh, nhưng lại còn có nhiều điều chưa hiểu biết, lấy cái biết hữu hạn để suy luận cái chưa biết vô hạn cũng chỉ là người mù rờ voi; Mà sự giảng kinh thuyết pháp của ông càng như người mù dẫn người mù, giống như người mù cưỡi ngựa mù, trong đêm tối đi gần đến vực sâu…

Thế là, ông mang một mối nghi hoặc lớn lặng lẽ rời khỏi Giảng tứ, đi tham yết Thiền sư Ma Cốc. Tại phương trượng, ông đổ núi vàng, nghiêng trụ ngọc, năm vóc sát đất quỳ bái đảnh lễ Thiền sư Ma Cốc – nên biết, vài năm lại đây, ngoài lễ Phật ra, còn toàn là người ta quỳ lễ bái ông! Thế mà, Ngài chưa kịp đứng dậy, càng không kịp thưa hỏi những câu hỏi như ‘Gì là tâm yếu của thiền? Đại ý của Phật pháp?’, Thiền sư Ma Cốc đã nghênh ngang bỏ đi.

Ngài cầm lấy cuốc, tự chăm sóc thửa ruộng hoang sơ của mình.

Đây là hạng người nào? Tại sao ngay lễ tiết tối thiểu cũng không hiểu?

Lương Toại đứng ngây ra nơi pháp đường, trong lòng ông vốn đã chứa đầy nghi hoặc, bây giờ lại phát sinh thêm một mối nghi tình lớn. Đúng là thêm sương trên tuyết, đã uất ức còn cho thêm oan trái, đêm đen như mực lại bị đánh thêm một đấm vào mắt. Thế mà, trong hành động không hợp tình hợp lý của Ma Cốc, Ngài lại thấp thoáng cảm nhận ra một vài điều gì đó? Rốt cuộc là điều gì? Ngài lại không nói rõ ràng ra, thế là Ngài lại đứng lên, đuổi theo phương hướng đã mất dạng của Thiền sư Ma Cốc.

Một vùng biển xanh ngắt, một vùng trời hy vọng. Thiền sư Ma Cốc vung cuốc, xem ra đám cỏ hoang cành lá đan xen khó gỡ, rối tung rối bời, gặp phải nhát cuốc sắc bén thì ôi thôi chẳng còn gì – phiền não của con người cũng giống như cỏ hoang tạp loạn, chẳng có đầu mối, căn nuyên, nếu như cũng có thể vứt bỏ đi, đoạn tận cội gốc thì tốt biết bao!

Lương Toại đứng rất lâu bên bờ ruộng, Thiền sư Ma Cốc chỉ dốc toàn tâm toàn ý cuốc cỏ, chẳng thèm để ý tới ông.

- Đây chính là đang chỉ thị thiền yếu! Lao động tức là tu thiền, cuốc cỏ chính là chặt đứt phiền não. Đáng tiếc, Lương toại chưa thể khế cơ, bỏ lỡ cơ hội.

Đợi Thiền sư Ma Cốc cuốc đến bờ ruộng bên kia, Lương Toại mới chắp hai tay, vừa muốn mở lời thỉnh giáo nhưng Ngài giống như người chưa bói đã biết sớm nhìn thấu tâm tư của Lương Toại, quay người lại, đi về chùa, rồi gài chặt cửa phương trượng.

Lương Toại đành cúi đầu, chẳng còn cách nào nên bỏ đi. Sáng sớm hôm sau, trời vừa tờ mờ sáng, Lương toại đã vội vàng đến Thiền viện Ma Cốc. Thế mà, Thiền sư Ma Cốc thấy ông ta vội vội vàng vàng đi đến, ‘hứ’ lên một tiếng rồi đóng cửa phòng lại.

- Một tiếng đóng cửa khá lớn! Nhưng Lương Toại suốt đêm trong lòng mệt nhoài lảo đảo, chẳng để ý được nhiều như thế, ông bất chấp tất cả, bổ nhào tới trước cửa, giáng mạnh vào cửa phương trượng những tiếng kinh động, giống như trống đánh giặc.

“Thùng, thùng, thùng! Thùng, thùng, thùng,…”

“Ai?” Một tiếng hét lớn bên trong cửa.

“Con, Lương Toại”.

Ai ngờ, ông vừa mới trả lời tên của mình: “Lương Toại”, đột nhiên dường như có một tiếng vọng lớn ‘thình’. Mối nghi trong lòng Lương Toại nổ tung! Giống như nước lũ bị vây khốn trong trăm ngàn vạn năm, cuối cùng đã tìm ra nơi thoát. Những nghi hoặc khốn đốn kia giống như những nỗi phiền muộn uất ức, những cặn bã không thể tiêu hoá chất chứa trong lòng đều được trút hết.

Cảnh giới khai ngộ kỳ diệu như thế đấy!

Chẳng biết trải qua bao lâu, có thể là một năm, có thể là trăm ngàn đại kiếp, lúc đất hoang trời già, cũng có thể đó chẳng qua chỉ là một chớp mắt cực ngắn (nháy mắt và vạn kiếp có xa cách gì đâu). Lương Toại tỉnh lại từ trong trạng thái tinh nhanh nhạy bén, ông đứng trước cửa phòng Ma Cốc chắp tay thưa: “Hoà thượng chớ quở trách con, nếu con không đến lễ bái Ngài, chút nữa là bị kinh sách lừa dối suốt đời rồi”.

Liên quan đến thiền cơ: Tự Báo Họ Tên

Vào một đêm hôm nọ, một tên ăn trộm bí mật xâm nhập vào nhà một người khác. Thế rồi, hắn ta tìm đông, tìm tây, ngoài trừ gạo trong hủ ra thì chẳng có vật gì đáng để lấy cả. Cũng không thể tay không mà ra về được. Vì thế, hắn cởi áo choàng ngoài trải lên trên đất, quay người lại đổ gạo trong hủ ra. Nhưng ngay lúc hắn trút gạo lại phát hiện áo choàng của mình không còn nữa.

Hoá ra, lúc tên trộm mới vào nhà, người đàn ông trong nhà đã tỉnh giấc. Anh ta nghĩ, dù sao thì trong nhà cũng chẳng có thứ gì đáng giá, nên cứ nằm yên. Sau đó, lúc anh ta nhìn thấy tên ăn trộm dùng áo để bọc gạo, bèn lặng lẽ đưa cái móc ra khều cái áo kia lại.

Lúc đó, người đàn bà cũng nghe có tiếng động tĩnh, liền nói với người đàn ông: “Hình như có ăn trộm, anh dậy xem xem”.

Người đàn ông nói: “Em ngủ đi, có ăn trộm nào đâu!”.

Người đàn bà chìm trong mông lung, nửa tin nửa ngờ, lẩm bẩm: “Nhưng mà, em thấy hình như…”

“Chắc chắn em đang nằm mơ thôi, trong nhà chúng ta làm gì có ăn trộm”.

Ai ngờ, lúc này tên ăn trộm không nhịn được nữa mở miệng nói: “Tại sao không có trộm? Ta mới trải áo choàng ra nền đất, quay lại thì chẳng thấy nữa”.

Người đàn ông nói: “Ngươi là ai? Đợi ta tìm ra áo sẽ đưa cho ngươi đem về!”.

“Tôi là ‘A Nhị’”.

Khen rằng: “Trộm gạo không được lại mất áo,

Tự khai nhà cửa lộ tông tích;

Lương Toại hai chữ nói ra miệng,

Ngộ được tự ngã vốn giống Phật”.

Tên trộm khai rõ tên họ của mình rồi, bỗng nhiên tỉnh ngộ ra, mình vốn là ăn trộm!

Thiền giả nếu ngay lúc đó thừa nhận chính mình, thì cũng sẽ hoát nhiên đại ngộ. Mặt mũi xưa nay của chính mình vốn là bản thân chân thật chẳng khác gì chư Tổ các đời.

Cuối đời nhà Minh, ở Ma thành hoàng Châu có một thiếu niên họ Hùng mới mười sáu tuổi đột nhiên bị bệnh đậu mùa, hơi thở thoi thóp, tính mạng nguy hiểm. Anh trai lớn và chú của nó trong tình trạng hết sức lo lắng, quỳ xuống trước tượng Bồ tát cầu nguyện. Xin Bồ tát phù hộ, nếu như thiếu niên có thể giành lại được tính mạng, đợi sau khi nó lành bệnh sẽ cho nó xuất gia.

Nói ra cũng linh, quả thật thiếu niên họ Hùng lành bệnh. Thế là, nó liền đến Đãng Sơn cắt tóc đi tu, pháp danh là Vô Niệm. Vô niệm xuất gia hoàn toàn không phải cam tâm tình nguyện, cho nên một ngày làm Hoà thượng là một ngày chán nản, từ trước đến nay chưa hề dụng tâm tu hành. Một hôm, một vị lão tăng trịnh trọng dặn dò cậu ta: “Một hạt gạo trong chùa lớn như núi Tu Di, ăn cơm không tu học phải mang lông đội sừng mà trả nợ”.

Vô Niệm nghe xong không khỏi dựng tóc gáy: ‘Đúng vậy! Bạn là người xuất gia, chẳng làm việc gì, chỉ toàn hưởng dụng sự cúng dường của tín chúng, nếu như không tu hành, đương nhiên phải làm trâu làm ngựa để đền trả sự bố thí cúng dường của người ta!’.

Vô Niệm tự phát thệ nguyện: ‘Đời này nhất định phải thông suốt việc lớn sanh tử!’.

Cậu thu xếp hành lý, cầm gậy trúc đi hành cước tham học. Trên đường vân du, cậu đã từng nghe một vị Tăng nhân đưa ra một công án như thế này: Có một vị Tăng hỏi Thiền sư Đại Hưu: “Ý của Tổ sư từ Tây Thiên đến là gì?” Thiền sư Đại Hưu trả lời: “Dưa vàng trái cà”.

Vô Niệm rất kinh ngạc: Lẽ nào dưa, cà những thứ bình thường này chính là ý chỉ mà Tổ sư Đạt Ma mang từ Tây Thiên đến? Cậu ta thật không thể hiểu được áo diệu ở trong đó, trong lòng rất nghi hoặc. Cậu ta mang mối nghi hoặc nặng nề này thẳng đến Lộ Sơn tham bái Thiền sư Đại An. Thiền sư Đại An vừa thấy cậu ta bèn hỏi: “Con tên là gì?”

“Vô Niệm”. Vô Niệm trả lời tên của mình, đương nhiên rất quen thuộc.

“Vô Niệm là ai?”

Thiền sư Đại An hỏi rất lạ lùng, Vô Niệm mù tịt, không thể đối đáp. Thật đúng là đã có tuyết lại còn thêm sương, trong oan khuất lại thêm tai ương. Vốn cậu ta muốn giải quyết mối nghi hoặc trong lòng, không ngờ lại bị úp thêm một đầu sương mù, đúng là tìm không ra đâu là phía Bắc – Ai là Vô Niệm? Vô Niệm là ai?

Cậu ta đứng ngồi không yên, chẳng màng đến cơm nước, suốt ngày suốt đêm tham cứu câu thoại đầu này. Tham mãi đến lúc trời đen đất tối, chẳng biết Đông, Nam, Tây, Bắc gì gì nữa cả. Tham mãi, tham đến như ngây như dại, không biết thân đang ở đâu, tâm ở phương nào? Một hôm, lúc cậu đi vào nhà bếp, nhìn thấy một thau bột để trên đất, rất là trở ngại, bèn bưng đặt vào tủ. Do cậu không để ý – đang mãi tham thiền, lỡ tay đụng phải cửa tủ, bỗng cửa tủ đập lên đầu cậu ta –

Một tiếng ‘ầm’ bất ngờ bỗng nhiên đánh vỡ mối nghi trong lòng cậu ta, dường như trong chốc lát cậu ta bị rơi từ trong thùng sơn đen ra, người toát mồ hôi dầm dề, trước mắt là một vùng ánh sáng chói loà!

Vô Niệm nhìn lên trời cười ha hả: “Khắp mặt đất đâu đâu cũng là ‘Vô niệm’, chẳng còn nghi ngờ gì nữa”

(Phụ chú: Trong Thiền tăng thường thường dùng ‘giặc’ để khoa trương cơ trí của đối phương. Thiền sư Tuyết Phong cũng đã từng khen ngợi Tổ sư Lâm Tế Nghĩa Huyền là ‘bạch niêm tặc’ – không để lại dấu vết gì. Đồng thời Thiền tông cũng thường đêm sự bỗng nhiên phát hiện bản lai diện mục, hoát nhiên đại ngộ, nên nói ‘bắt giặc bắt được trái tim’ (tróc tặc hoạch tạng) ).

TẮC THỨ MƯỜI: QUY TÔNG CHÉM RẮN

Thiền sư Quy Tông Trí Thường, thường kết bạn với Nam Tuyền Phổ Nguyện hành cước. Hai vị này là đồng môn, học vấn lại tương đương, khí chất tương đồng, thấy biết giống nhau, ngay hình dáng cũng có mấy phần tương tợ, lại thêm hai vị đều là người có thần thái kỳ dị riêng có của người đã khai ngộ, cho nên mọi người thường lẫn lộn hai vị này với nhau. Trong mắt trí Thường có vảy cá, lúc Ngài đang dùng thuốc xoa bóp trị liệu, do chưa nắm bắt được lượng thuốc cho phù hợp, nên hai mắt đều đỏ lên. Cũng tốt, lần này người ta phân biệt rõ giữa Ngài và Nam Tuyền – vì thế, người đời gọi Ngài là ‘Quy Tông Mắt Đỏ’.

Vào một năm nọ, lúc hai vị đang trên đường vân du đến Lô Sơn, Trí Thường yêu thích phong cảnh đẹp đẽ nơi đây, bèn ‘lạc thảo’ tại đó – hoàn toàn không phải lạc thảo là làm cướp. Thiền sư làm ‘Lạc thảo’ là vì họ vốn đã liễu sanh thoát tử, hoàn toàn có thể an trú trong niềm vui thiền định thanh tịnh, thoải mái nhàn hạ. Nhưng, để phổ độ chúng sanh họ không tiếc hạ thấp thân phận của mình, ở trong hiện thực phiền não, ô trược để giáo hoá chỉ dạy cho người sau, nên gọi là ‘lạc thảo’.

Bồ tát Địa Tạng Vương bảo: “Ta không xuống địa ngục, ai xuống địa ngục?”, chính là bản thâộtàn tâm toàn ý làm lạc thảo.

Thiền sư Trí Thường trú trong chùa Quy Tông rất nổi tiếng. Chùa Quy Tông là chùa xưa nhất ở Lô Sơn, nằm gần suối Ngọc Liêm dưới chân núi Kim Luân phía Nam Lô Sơn. Nó vốn là biệt thự của Vương Hữu Quân – Vương Hy Chi nhà thư pháp vĩ đại nhất trong lịch sử Trung Quốc. Năm thứ sáu niên hiệu Hàm Khang đời Đông Tấn (340 Tây lịch). Vương Hy Chi, một tín đồ thuần thành của Phật giáo, mở rộng xây dựng thành một ngôi chùa. Cung thỉnh Ngài Phật Đà Da Xá là một nhà phiên dịch kinh điển Phật giáo rất nổi tiếng một Cao tăng Ấn Độ, vào trú trì. Trong thời nhà Tống, em của Tô Đông Pha – Tô Triệt – cũng tôn sùng Thiền tông như Tô Đông Pha, từng có bài thi phú:

Đến nghe Quy Tông chuông sớm hôm,

Vất vả buồn lo đến tiêu phong,

Hồ xanh đá rải trong khe suối

Bạch tháp vi phân trên núi tùng.

Cửa Phật vút cao cùng mây núi,

Bếp tăng ngồi đợi thập phương cúng.

Muốn dạo núi bắc chùa đông tây,

Hang đá nối nhau đến mấy tầng.

(Lai thính Qui Tông tảo vãn chung,

Bì lao lại thượng tử tiêu phong.

Mặc trì mạn luỹ khê trung thạch,

Bạch tháp vi phân lĩnh thượng tùng.

Phật vũ tranh hùng nhất sơn giáp,

Tăng trù toạ đãi thập phương cúng.

Dục du sơn bắc đông tây tự,

Nham cốc tương liên cánh chỉ trùng.)

Bạch tháp được ông nhắc đến trong bài thơ là một ngôi phù đồ (tháp Phật) rất tinh xảo, đẹp mắt ở đỉnh núi phía sau. Truyền thuyết cho rằng chính là tháp xá lợi của Phật Đà Da Xá.

Những ngôi chùa lớn nhỏ ở Khuông Lô tính đến mấy chục ngôi. Sở dĩ Chùa Quy Tông sau này đứng vào bậc nhất ở Lô Sơn, chủ yếu không phải do ở sự quy mô của nó mà nhờ đạo phong tu hành. Giữa niên hiệu Hiến Tông Nguyên Hoà đời nhà Đường (806 – 820 Tây lịch), Thiền sư Trí Thường lại mở rộng chùa chiền, nêu cao ngọn cờ đốn ngộ Thiền phong được truyền thừa thành một ngôi chùa lớn nhất ở Lô Sơn. Tên “Quy Tông” của nó cũng chính nhờ vậy mà có.

Trồng Ngô Đồng cốt để mời chim Phượng, ao sâu thả tơ để câu rồng dữ.

Tên tuổi Quy Tông Mắt Đỏ đã sớm vang khắp Thiền lâm, tin tức Ngài giảng pháp tiếp chúng ở Lô Sơn cứ mãi truyền ra. Tăng nạp trong thiên hạ đua nhau hội họp về. Mấy trăm Thiền tăng tề tập về pháp đường chuẩn bị rửa tai cung kính lắng nghe những lời khai thị thiền yếu tinh diệu. Ai ngờ, Quy Tông lại nói: “Các vị chớ dụng sai tâm, ở đây không có chỗ cho các vị dụng tâm. Các vị tìm gì ở đây? Đừng bao giờ tìm kiếm kiến giải trên thân thể người khác, bất kỳ người nào cũng không thể giác ngộ và giải thoát thay cho các vị. Tâm tánh các ngươi không thông, ánh sáng không chiếu, chính vì do tâm còn chướng ngại, trước mắt còn có vật vướng”.

Có một vị Thiền tăng rất dũng cảm, nghe những lời biện luận hùng hồn này vẫn dám đứng lên thưa hỏi: “Thưa Đại Hoà thượng, ý chỉ huyền diệu của Thiền là gì?”

Ngài Quy Tông mỉm cười, bảo: “Đã là Thiền chỉ huyền diệu thì không ai lãnh hội được”.

Đạo lớn vô môn, vô môn tức pháp môn; thiền chỉ huyền diệu, không có ai lãnh hội được; Đó chính là lãnh hội nơi chỗ không thể lãnh hội! thế mà Thiền tăng lại bỏ qua thiền cơ nhạy bén của Thiền sư Quy Tông ngay lúc đó, vẫn cứ xem Thiền là thứ thực có, nên không hiểu, thưa tiếp: “Vậy thì, có người cứ nghĩ đến ý chỉ của Thiền, thì nên làm như thế nào?”

Thiền sư Quy Tông nhẫn nại giải thích: “Cứ nghĩ đến chính là chấp trước, là trái với tông chỉ của Thiền”.

Đã không thể hướng đến, thế thì đừng hướng đến nữa. Tâm trí của Thiền tăng rơi vào trong nhị nguyên đối lập, nên cho rằng chẳng phải cái này tức là cái kia, chẳng phải cái kia tức là cái này, không ngừng so sánh, phân biệt, lựa chọn, cho nên ông lại hỏi tiếp: “Lúc không nghĩ về nó thì như thế nào?”

“Không nghĩ về, thì ai tìm cầu ý của Thiền tông vậy?” Thiền sư Quy Tông hỏi lại.

Bởi vì Thiền tăng trong lòng mờ mịt, cho nên bị hỏi lại càng mù tịt hơn. Bây giờ càng mù tịt, không còn thấy gì nữa. Thiền sư Quy Tông lắc lắc đầu, thở dài nói: “Đi di, ở đây không có chỗ cho ngươi dụng tâm”.

Nhưng, thói quen khó sửa. Thiền tăng lại dụng tâm ‘nơi đây’, hỏi theo một cách khác: “Thiền, lẽ nào lại không có cửa phương tiện, để cho những chúng sanh bị khổ nạn như chúng ta có thể khế nhập?”.

Gọi là phương tiện tức là thiện xảo, chỉ cho trí phương tiện và trí tuệ Bát nhã. Thiền sư đã khai ngộ , tâm hành tịch diệt, chứng đạt được thật lý, tức là trí tuệ Bát Nhã, họ có thể quán sát căn cơ của chúng sanh, thông hiểu trí tuỳ cơ ứng biến (quyền mưu) gọi là trí phương tiện. Quả nhiên, Thiền sư Quy Tông mở cửa phương tiện nói rằng: “Trí lực diệu kỳ của Quán Âm có thể cứu độ khổ ách của thế gian”.

Thiền tăng lại hăng hái: “Trí lực diệu kỳ của Quán Âm là gì?”

Thiền sư Quy Tông thuận tay cầm tích trượng gõ xuống nắp đỉnh ba cái, hỏi: “Nghe thấy không?”

“Nghe thấy rồi, nghe thấy rồi!”

Nhưng Thiền sư Quy Tông lại nói: “Sao ta lại không nghe thấy?”

Vị tăng kia cứng lưỡi không đáp được,Thiền sư Quy Tông quơ quơ thiền trượng, đuổi ông ta ra khỏi pháp đường.

Để đánh tan tâm lý ỷ lại của các đệ tử, đã lâu lắm Thiền sư Quy Tông không thăng toà thuyết pháp, mà có lên pháp đường thì Ngài cũng chỉ ngồi im lặng chẳng nói lời nào. Một hôm, Ngài ở trong pháp đường luôn miệng nói: “Hôm nay ta muốn giảng Thiền, các vị muốn nghe thì bước lên phía trước gần hơn một tí”.

Các đệ tử vội vàng quây quần lại, Thiền sư Quy Tông nói: “Ngươi nghe hạnh Quán Âm, khéo ứng hiện các nơi”.

Một đệ tử hỏi: “hạnh Quán Âm là như thế nào?”

Thiền sư Quy Tông duỗi tay ra, búng ngón tay, hỏi: “Các vị, các vị có thể nghe thấy không?”

Các đệ tử đồng thanh trả lời: “Có thể nghe thấy”.

Thế mà Thiền sư Quy Tông lại buột miệng chửi lớn: “Các người là một lũ ngu ngốc, đến đây tìm kiếm gì vậy?”

Vừa chửi, Ngài vừa múa thiền trượng, đuổi các đệ tử ra khỏi pháp đường, sau đó một mình cười lớn trở về phương trượng.

Thiền sư Quy Tông có một bài kệ, có lẽ có thể có ít nhiều bày tỏ được thiền cơ trong đó:

“Da trâu bịt đầu cột,

Đầu cột kêu hu hu,

Tai phàm không nghe thấy,

Chư thánh cười ha ha”.

( Ngưu bì vãn lộ trụ,

Lộ trụ thu thu khiếu,

Phàm nhĩ thính bất văn,

Chư Thánh kha kha tiếu.)

Một vị Thiền tăng muốn đi ra ngoài hành cước, lúc anh ta đến phương trượng cáo biệt, Thiền sư Quy Tông quan tâm hỏi xem anh ta đi đến nơi nào. Vị Tăng này đáp không đúng câu hỏi, thưa rằng: “Con đến các tòng lâm ở phía Nam Bắc Đại Giang, học tập năm vị thiền”.

Thiền sư Quy Tông nói: “Ở những nơi khác có năm vị thiền, ở chỗ ta chỉ có một vị thiền”.

Vị Tăng này xem ra cũng nhạy bén lập tức hỏi dồn: “Một vị Thiền là gì?”.

Thiền sư Quy Tông cũng không nói, đưa Thiền trượng lên rồi đánh Thiền trượng xuống. Gậy rơi xuống đầu, tư duy tính toán tự nhiên bị cắt đứt. Đó chính là một vị Thiền! Trong tâm Thiền tăng trống rỗng linh hoạt, nên vội vàng hét lên: “Sư phụ, đừng đánh, đừng đánh, con biết rồi!”.

“Nói, mau đi!”.

Vị Tăng này vừa muốn mở miệng, Thiền trượng của Quy Tông lại đánh xuống…

Thiền, mở miệng là sai, động niệm là quấy. Đợi bạn mở miệng, lại đánh cho thôi. Vị Tăng này rỗng rang tỉnh ngộ. Sau đó, anh ta vân du đến núi Hoàng Bá, tham bái Thiền sư Hy Vân. Thiền sư Hy Vân hỏi anh ta: “Sư thúc Quy Tông có dạy thiền gì không?”

Thiền tăng đem câu chuyện này kể với Ngài. Thiền sư Hoàng Bá Hy Vân tự cho mình rất cao tay. Ngoài Sư phụ Bách Trượng Hoài Hải của mình ra, ngay cả Nam Tuyền Sư Thúc cũng không chịu thua, nay lại chắp cả hai tay, tán thán rằng: “Mã Tổ truyền ra 80 vị đệ tử, nếu bị thiện tri thức hỏi, thì ai nấy đều như trẻ con, trong đũng quần ướt đẫm. Chỉ có Sư Thúc Quy Tông còn được như thế”.

Một mùa xuân nọ hoa rừng lãng mạn nở đầy, một vị Tăng vân du đạp lên hương hoa mà đến. Ngài chính là một đệ tử quan trọng nhất của Thiền sư Quy Tông – Phù Dung Linh Huấn. Dưới sự tôi luyện của Sư phụ, tuy Linh Huấn ngộ nhập được Thiền lý nhưng chưa thông suốt, chưa thấu triệt, trong tâm vẫn con ngưng trệ, một ít mây mờ che phủ. Ngài khắc khổ tham thiền tu học nhiều năm, Ngài toạ thiện tụng kinh, học tập giáo nghĩa,… Dường như Ngài đã nếm qua tất cả các phương pháp tu hành nhưng vẫn chưa có tiến bộ gì, cuối cùng vẫn chưa đạp phá được cửa tù sau chót. Ngài khổ não, tiều tuỵ, nhưng cũng chẳng còn cách nào. Trong một mùa gió bấc thổi mạnh, hoa tuyết bay bay, Linh Huấn nản lòng thoái chí đến từ biệt Sư phụ. Thiền sư Quy Tông hỏi Ngài đi đến đâu? Linh Huấn trả lời rất thương cảm: “Đệ tử ngu muội phải trở về quê hương Lĩnh Trung (Phúc Kiến), làm một ông Tăng lo bếp núc cho qua ngày thôi”.

Ngài Quy Tông trịnh trọng nói: “Con ở chỗ Ta đã nhiều năm, sửa soạn hành lý xong, quay lại đây một tí, Sư phụ sẽ nói thêm Phật pháp cho con một lần nữa”.

Linh Huấn rất cảm động, cho rằng chắc là Sư phụ muốn nói với mình Phật pháp tinh diệu bí mật gì dây. Ngài vội vàng thu dọn hành trang rồi đi đến pháp đường. Thiền sư Quy Tông vẫy vẫy Ngài lại, nói: “con đến gần một tí, ta có lời nói với con”.

Linh Huấn bước lên phía trước, Thiền sư Quy Tông sửa sửa áo lại cho Ngài rồi nói: “Con nên nhớ, thời tiết lạnh lẽo, trên đường đi nhớ bảo trọng!”.

Đột nhiên, những tri giải, giáo nghĩa trong lòng Linh Huấn liền quên sạch! Ngài đã đại triệt, đại ngộ.

Đạo không phải hư ảo kỳ bí, Thiền không có gì lạ lùng, càng bình thường càng dễ tiếp cận với chân đế của Thiền đạo.

Chùa Quy Tông dựa lưng vào Lô Sơn, phong cảnh thanh tú đẹp đẽ, hướng về thành Giang Châu (nay là Cửu Giang, cũng gọi là Tầm Dương) nổi tiếng trong lịch sử.

“Sông Tầm Dương đêm đêm tiễn khách

Lá Phong rơi hoa thu xào xạc

Ở trong đó ai người khóc ngất

Giang Châu Tư Mã áo dầm châu.

(Tầm Dương Giang đầu dạ tống khách

Phong diệp hoạch hoa thu sắt sắt

Toạ trung khấp hạ thuỳ tối đa

Giang Châu Tư Mã thanh sam thấp).

Đây là bài thơ Tỳ Bà Hành lưu truyền thiên cổ của Bạch Cư Dị, cũng chính trong thời kỳ này, ông viết trong thời kỳ nhậm chức quan Tư Mã ở Giang Châu. Bạch Cư Dị hiệu là Cư Sĩ Hương Hải, là đệ tử đắc pháp của sư đệ của Ngài Quy Tông –Phật Quang Như Mãn. Khi ông nhậm chức tại triều đình ở kinh thành, vẫn được một vị Đệ tử khác của Mã Tổ là Hưng Thiện Duy Khoan (xem Tùng Thư ‘Thiền Nam Thiền Bắc, Kim Tiên Nhân Mục’) hướng dẫn. Theo vai vế, ông là sư cháu của Thiền sư Quy Tông, cho nên trong thời gian ông đang nhậm chức Tư Mã ở Giang Châu, ông là khách thường xuyên của Thiền sư Quy Tông, thường đến chùa ngồi thiền.

Chỉnh đốn áo khăn quét tịnh sàng,

Một bình nước mát một lư nhang.

Phiền não gì gì đều bỏ hết,

Thẳng đến Bồ đề cũng muốn quên.

Tham yết lâu dần cất gươm đai,

Yến tiệc tạm thôi bình chén bỏ.

Thế gian vô dụng già nua đến,

Chỉ cần tiêu dao ngồi đạo tràng.”

(Chỉnh đốn y cân phất tịnh sàng

Nhất bình thu thuỷ như lư hương

Bất luận phiền não tiên tu khứ

Trực đáo Bồ đề diệc nghỉ vong.

Triêu yết cửu đình thu kiếm bội

Yến du tiệm bãi phế hồ thương

Thế gian vô dụng tàn niên xứ

Chỉ hợp tiêu dao toạ đạo tràng).

Từ trong bài thơ, chúng ta có thể thấy được rằng cảnh giới tu hành của Bạch Cư Dị rất cao siêu. Ông không những tự mình đến lễ Phật tham thiền mà còn kéo cả cấp trên của mình – Lúc nhậm chức Thái thú ở Giang Châu có một vị đại nho Lý Bột được gọi là ‘Lý Vạn Quyển’ - đến dưới toà của sư thúc Quy Tông tu tập, có thể nói cũng trải qua một phen ‘Mài dũa tu luyện’ (xem Tùng thư ‘Thiền Nam Thiền Bắc, Giới Tử Nạp Tu Di’).

Một hôm, tranh thủ giờ rảnh rỗi, Bạch Cư Dị cởi bỏ áo quan cải trang thành một thư sinh, tung tăng đến chùa Quy Tông. Vừa vặn gặp phải Thiền sư Quy Tông toàn thân lấm bùn đang quét tường. Ngài quay đầu lại thấy Bạch Cư Dị cải trang thành Nho sinh. Cười cười rồi hỏi: “Quân tử nho hay tiểu nhân nho?”.

“Đương nhiên là Quân tử nho”.

Thiền sư Quy Tông dùng cái bay trét bùn ở trên tay phải vỗ vỗ lên khay đựng bên tay trái, cũng pháủa thiền cơ cuồn cuộn. Bạch Cư Dị tâm tỉnh thần hội, lấy cái dĩa sắt xúc một ít bùn kịp thời đưa đến trước mặt Quy Tông, cũng chính là trình lên kiến giải của mình. Quy Tông đón lấy bùn, dường như là khen rằng: “Chẳng lẽ Bạch Thị lang tuấn cơ lanh lẹ?”

Là một thiền giả, Bạch Cư Dị là một người khéo bề xoay xở, mới không tiếp nhận lời khen ‘không mang ý tốt’ này! Ông cố làm ra vẻ khiêm tốn nói: “Không dám, không dám!”.

Lúc này Ngài Quy Tông mới gật gật đầu nói: “Chỉ có bổn phận đưa bùn thôi!”.

Tạo nên cảnh lao động trét tường, động tác đưa bùn kịp thời, chuẩn xác như vậy cũng chính là sự lý giải đối với thiền chính xác nhất và cũng nói lên rằng Bạch Cư Dị đã khế nhập nhất hành tam muội trong sinh hoạt hằng ngày, chứng đạt sâu sắc tinh tuý của Phật pháp.

Dưới chân núi phía Tây Bắc Lô Sơn còn có một ngôi chùa rất hiển hách, nổi tiếng – chùa Đông Lâm. Chùa này do một vị cao tăng trứ danh của Trung Quốc là Đại sư Trí Viễn xây dựng vào năm thứ sáu niên hiệu Thái Nguyên đời Đông Tấn (381 Tây lịch). Tại đây, Đại sư Trí Viễn đã sáng lập ra Liên Xã (Bạch Liên Xã), tuyên dương chỉ dạy pháp môn Di Đà Tịnh Độ, làm cho chùa trở thành một trong tám tông phái lớn của Phật giáo Trung Quốc – là nơi phát nguồn của tông Tịnh Độ. Cũng chính ở đây, danh sĩ Đào Uyên Minh và Đại sư Huệ Viễn đã kết thành bạn bè thâm hậu và để lại một điển cố “Hổ Khê Tam Tiếu” rất nổi tiếng, dí dỏm, hứng thú, cao nhã, truyền tụng cho đến ngày nay.

Lúc Thiền sư Trí Thường trú trì chùa Quy Tông, chùa Đông Lâm là một chùa giảng kinh - lấy việc tuyên dương diễn giảng kinh luận làm tông chỉ. Vị toạ chủ chùa này đã từng bị Thiền sư Quy Tông dùng thiền cơ sắc bén mạnh mẽ chèn ép đến nỗi chán chường thê thảm. Ngày hôm đó, lại có một vị Pháp sư rất có trình độ về kinh giáo đến tìm, thị giả nói: “Sư phụ con không có trong chùa, Ngài đang cuốc đất ngoài đồng”.

Thiền sư Quy Tông mắt tuệ thông thiên nên sớm nhìn thấy tim gan phèo phổi của ông ta. Ngài vẫn chăm chỉ cuốc đất, không để sót một gốc cỏ dại nào. Lưỡi cuốc đưa lên đưa xuống rất có tiết tấu làm kinh động một con rắn nấp trong đám cỏ rậm, Pháp sư bên cạnh vì phản ứng bản năng la lên một tiếng: “A !”

Con rắn bị kinh động đó định bỏ chạy, Ngài Quy Tông đưa cuốc lên cuốc xuống một nhát, con rắn đang sống bị chặt làm đôi!.

“Ái chà!” sự kinh ngạc của Pháp sư biến thành tiếng kêu kinh hoảng , nhưng không phải do sợ mà là cảm thấy rất kinh ngạc, vì thế Pháp sư vội nói: “Trời ạ! Đây là sát sanh. Từ lâu ta đã hướng đến Đại sư Quy Tông , không ngờ chỉ là một Sa môn thô tháo (Hoà thượng thô lỗ).

Pháp sư vẫn còn một câu chưa kịp nói ra: “Tạo nghiệp sát sanh, tất nhiên phải chịu nhân quả báo ứng, đoạ xuống mười tám tầng địa ngục!”

Nhưng Thiền sư Quy Tông Trí Thường lại hỏi: “Ông thô hay tôi thô?”

Pháp sư cảm thấy trong lời nói của Quy Tông ẩn chứa huyền cơ, bèn hỏi ngược lại: “Như thế nào là thô?”

Đại sư Quy Tông dựng cuốc lên.

Pháp sư lại hỏi: “Như thế nào là tế?”

Thiền sư Quy Tông làm lại lần nữa động tác chặt rắn vừa rồi.

Pháp sư nhìn con rắn đã chết trên mặt đất, dường như có chút lãnh hội. Ông chau mày suy nghĩ, rồi nói: “Nói như vậy thì cứ theo vậy mà làm thôi”.

Thế mà, Thiền sư Quy Tông lại không chấp nhận, Ngài trợn mắt, quở mắng: “Theo đó mà làm tạm thời đặt qua một bên đi, ông thấy tôi chém rắn ở chỗ nào?”

Pháp sư không thể đối đáp được.

Từ bi của Phật giáo là tấm lòng, sát sanh là một giới cấm lớn của nhà Phật, Thiền sư Quy Tông là một cao tăng đắc đạo, tại sao lại phải làm trái giới luật, chém chết con rắn kia? Càng kỳ lạ hơn, rõ ràng Ngài chém rắn thành hai đoạn ngay trước mặt người ta mà còn lại hỏi ‘ngươi thấy ta chém rắn ở chỗ nào?’ Trong đây tự có sẵn thiền cơ vô hạn, nếu có thể thông suốt được thì sự nghiệp tham học của bạn mới có thể đạt đến trí tuệ Bát Nhã bao gồm cả trí phương tiện.

Liên quan đến thiền cơ: Hai Công An Giống Nhau

Quy Tông chém rắn, từ xưa đến nay đã bàn luận rất nhiều.

Trong công án này, trước khi Pháp sư đến tham học vẫn là người học pháp ở trong giáo nghĩa - Vị tăng chuyên nghiên cứu kinh luận – Ông luôn luôn học tập kinh điển, văn nghĩa, giáo lý, nên không khỏi dần dần bị rơi vào trong sự trói buộc của các thói quen tìm tòi lý luận, theo văn mà hiểu nghĩa…. Và đối với loại trói buộc này ông lại không hay không biết. Chính vì thế, ông mới dùng những kiến giải, phân biệt, đối lập giữa thô và tế, đúng và sai,… để cật vấn Quy Tông Trí Thường.

Quy Tông Trí Thường là Thiền sư, biết ông ta không thể dùng lý làm thí dụ, cho nên mượn việc chém rắn, chống cuốc, làm tư thế chém rắn cho đến phủ nhận lời nói hành động của mình trước đó: “Ông thấy ta chém rắn ở đâu?...” từ đó mà biểu hiện ra sự thực hành trong đạo Phật vẫn là cảnh giơi tuyệt đối, siêu việt những kiến giải tương đối như đúng sai, thiện ác, thô tế,…

Gần như đồng thời với việc chém rắn của Ngài Quy Tông, Nam Tuyền Phổ Nguyện cũng làm kinh thiên động địa bằng cách diễn thị công án ‘chém mèo’. Tăng chúng Đông đường và Tây đường vì việc nuôi dưỡng một con mèo mà phát sanh tranh chấp. Nam Tuyền Phổ Nguyện đem con mèo ra, muốn khảo nghiệm xem trong học tăng có người nào có thể chứng đắc triệt ngộ hay không, nên nói rằng: “nếu đắc đạo thì thả con mèo đi, nếu không đắc đạo thì chém?”

Chúng tăng không ai có thể đáp, thế là Nam Tuyền vung dao chém chết con mèo.

Mèo và rắn tuy không giống nhau nhưng Quy Tông chém rắn và Nam Tuyền chém mèo thì cùng một việc.

Quy Tông ở Giang Tây, Nam Tuyền ở An Huy, hai nơi cách nhau ngàn dặm, tại sao hai vị Đại tông sư dường như đồng thời diễn xuất một màn kịch dường gần như hoàn toàn tương đồng? - Họ đều vì muốn cắt đứt vọng tưởng phân biệt của Tăng chúng, nên mượn hành động không bình thường như chém rắn, giết mèo để đoạn trừ những chấp trước tương đối giữa có và không của Tăng chúng. Đồng thời hai người họ đều dùng thủ đoạn kịch liệt này để hiển bày: khí phách trượng phu, vĩ đại; lòng dạ thẳng thắn vô tư, trí tuệ rộng lớn, mở đóng đúng lúc, có thể chết, có thể sống của các Thiền sư đã khai ngộ. Vào thời nhà Tống, Thiền sư Tuyết Đậu Trọng Hiển, một cao tăng tông Vân môn, từng khen công án Nam Tuyền giết mèo:

Lưỡng đường câu thị đỗ thiền hòa,

Bạt động yên trần bất nại hà;

Lại đắc Nam Tuyền năng cử linh,

Nhất đao lưỡng đoạn nhậm thiên ba.

Nhưng mà giết mèo và chém rắn rốt cuộc là sát sanh, mà Phật giáo lại cấm sát sanh! Ở đây, phải đề cập đến sự lý giải của Đại thừa Phật giáo đối với giới luật.

Theo sự ghi chép trong kinh Phật, có một đời khi đức Phật Thích Ca Mâu Ni còn tu hạnh Bồ tát, Ngài đi thuyền trên biển, cùng đi với Ngài có bốn mươi vị thương nhân buôn bán châu báu. Trên đường đi, họ bất ngờ biết được Thuyền trưởng và các Thuyền viên đã có âm mưu bí mật, muốn giết hết toàn bộ những người thương nhân kia, ném thi thể của họ xuống biển, để cướp bóc chiếm đoạt những châu báu mà họ mang theo. Trong lúc ngàn cân treo sợi tóc, Bồ tát không do dự ra sức chém chết thuyền trưởng, lấy đó để uy hiếp những thuyền viên tham dự âm mưu kia, bảo toàn tính mạng cho bốn mươi người vô tội kia.

Cũng chính trên tinh thần cơ bản này, năm đầu của thời đại Nam Tống, quân nhà Kim đem quân xâm lược Nam Tống. Đứng trước nguy cơ tồn vong của đất nước, sanh linh lầm than, người trực tiếp chống giặc ở tiền phương là quân Nhạc Gia, mà trong số những nhân vật nổi tiếng trong xã hội dám công khai đưa tay chủ chiến, kêu gọi lớn nhất lại vẫn là một vị Hoà thượng - Đại Huệ Tông Cảo. Ngay cả khi ngày lên pháp đường giảng thuyết Phật pháp vẫn luôn mang đầy nhiệt huyết yêu nước và khí phách hào hùng đấu tranh chống cường địch:

“Cung thần tí hễ bắn,

Xuyên qua nghìn tầng giáp,

….Cung thần tí hễ bắn,

Cửa nghìn trùng liền mở;

Kiếm xuy mao vừa hươi,

Vạn kiếp nghi tình dứt”.

‘Cung thần tí’ là một loại vũ khí có sức sát thương lớn nhất của quân Tống đương thời, đã lập nhiều kỳ công trong chiến trường đánh quân Kim. Đại Huệ Tông Cảo đã nghị luận việc chính sự của triều đình một cách táo tợn như thế, đại gian thần Tần Cối làm sao mà không hận thấu xương cho được! Ông ta đã lưu đày Ngài lần nọ đến lần kia, lưu đày đến tận nơi Mai Châu xa xôi hoang dã - nếu không vì Ngài là một người xuất gia, e rằng đã sớm bị chém đầu giống như Nhạc Phi vậy.

Điển hình nhất là cư sĩ Thái Bảo Lưu Bỉnh Trung một trọng thần thuộc Nguyên Triều Khai Quốc.

Lưu Bỉnh Trung (1216 – 1274 Tây lịch) là người ở Hình Châu (nay là Hình Đài tỉnh Hà Bắc) tự là Trọng Hối, nguyên tên là Lưu Khản. Năm ông mười bảy tuổi, làm Tiết độ Sứ phủ lệnh sử Hình Đài, lấy tiền lương phụng dưỡng cha mẹ. Sau đó, ông ném bút từ chức mà đi, ông theo Thiền sư Thiên Ninh Chiếu xuất gia làm Tăng, pháp hiệu là Tử Thông. Nhờ có nhiều huệ căn từ kiếp trước, Tử Thông nhanh chóng khám phá ra bản lai diện mục, hiển bày đại trí huệ vốn có, làm một Hoà thượng Ký thất (thư ký).

Lúc đó, Tống – Kim giằng co nhau, chiến tranh loạn lạc nhiều năm, máu nhuộm đỏ đất, nước sôi lửa bỏng, dân không thể sống được. Tử Thông, với trí tuệ siêu việt của một thiền giả dự đoán rằng người có thể nhanh chóng kết thúc chiến tranh, thống nhất đất nước chính là Mông Cổ quật cường, mạnh mẽ, không biết sợ ở phương Bắc; Mà trong số nhiều thân vương của Mông Cổ, mà người hùng tài đại lược, có hoài bão lớn lao chính là Hốt Tất Liệt. Thế là, Thiền sư Tử thông cầm gậy mang bát, xuất hiện trong quân trường của Hốt Tất Liệt.

Vài ba câu của Ngài đã làm cho một trong những vị Đế vương vĩ đại nhất trong lịch sử Trung Quốc, năm vóc sát đất nghe lời theo kế. Từ đó về sau, tất cả những kế hoạch cơ mật của Hốt Tất Liệt, ngay cả đăng lâm ngôi vị, thống nhất thiên hạ, phần lớn đều xuất phát từ sự tính toán mưu lược của vị Thiền sư này.

Sau khi Hốt Tất Liệt (Thế Tổ) lên ngôi, Ngài lập tức thúc giục triều đình lập ra Tuyên phủ ty, chuyên an ủi bá tánh dị tộc trong thiên hạ, cho họ an cư lạc nghiệp. Đại quân Mông Cổ thẳng tiến vào Giang Nam, với sự can dự mạnh mẽ của Ngài, Hốt Tất Liệt đã sửa đổi thói xấu giết dân trong thành sau khi chiếm đóng, lấy việc không giết hại làm công đức. Phàm đánh thành bắt địch, đều giữ lại mạng sống không tính toán nhiều.

Thậm chí, hiện nay người Bắc Kinh đều cảm kích vị Thiền sư này, bởi vì lấy thành Bắc Kinh làm đại đô đầu tiên, cũng nhờ sự quy hoạch và đốc thúc của Ngài mà xây dựng nên. Đến năm thứ tám niên hiệu Nguyên (1271 Tây lịch), Ngài chế định ra triều nghi quan chế hoàn toàn mới mẽ, tấu thỉnh Hốt Tất Liệt chính thức xây dựng quốc hiệu là “Đại Nguyên” - Từ chế độ đến tên gọi là triều đại Nguyên đều do Ngài mà có.

Đến tháng tám năm thứ hai niên hiệu Nguyên, vị đại thần địa vị cao tột này vẫn là một Thiền sư mặc áo Tăng, ăn chay, ở giản dị, đã viết ra bài kệ rằng:

“Ta không phụ đời, đời há phụ Ta,

Ta ở trong đời, như trăng trong nước,

Như hoa trên trời, hoa rụng trăng lặn, là cái gì? Đốt!”

Vị Thiền giả vì muốn dẹp bằng chiến loạn, thống nhất giang san mà không tiếc làm một thảo khấu, lấy giết để ngăn việc giết, lấy chiến tranh để dừng chiến tranh. Sau khi cứu độ được vô số tính mạng, kiến lập công huân bất hũ, xây dựng hoà bình, cuối cùng cũng có thể an trú Niết bàn. Ngài ném bút lông, kiết già phu toạ, an nhiên mà đi.

TẮC THỨ 11: VỪA QUAY ĐẦU NHÌN LINH QUANG CHỢT HIỆN

Hơn 1200 năm trước, đang trong mùa hoa hồng liễu xanh, muôn chim ca hót. Một thư sinh khí thế oai hùng tràn đầy sức sống đang đi vào một trạm nghỉ trên đường ở Giang Nam.

Vị thanh niên tú tài này họ Tuyên, vốn là người dân của đất tỳ Lăng (nay thuộc vùng Giang Tô). Từ nhỏ anh ta đã học Nho, tu tập khoá thi cử, chuẩn bị cho việc thi đỗ Tiến sĩ trong tương lai để làm rạng danh tiên tổ. Tuyên Tú Tài bẩm tánh thông minh, lại siêng năng học tập, mười năm đèn sách không chút biếng lười, học đến nỗi kinh luận đầy đầu, văn phong hoa mỹ. Năm nay, đúng mùa thi lớn, anh ta ôm ấp chí hướng cao xa của mình, trên đầu mang kỳ vọng tha thiết của cha mẹ muốn đến kinh thành Trường An cho kịp thi cử.

Nhưng mà thời gian từ đây cho đến hội thi mùa thu vẫn còn sớm, vì sao mùa xuân anh ta đã vội vàng lên đường? Cổ nhân nói: “Đọc một vạn quyển sách đi một vạn dặm đường”. Trong bụng anh ta đã chứa đầy một vạn quyển sách, cho nên anh ta mượn cớ đi thi, để đi cho được vạn dặm đường – môn học thứ hai của học đường, đối với đời người dài đăng đẵng có lẽ càng quan trọng hơn.

Từ Giang Tô đến Trường An, đi dọc theo Hà Bắc lên là nhanh và tiện nhất. Nhưng anh ta đã muốn rèn luyện không ngại đi đường vòng, cho nên đi ngược theo dòng Trường Giang theo phía Tây mà đến. Suốt đường cưỡi ngựa xem hoa, vừa đi vừa nghỉ, không định rõ ngày đến Giang Châu. Anh ta định sau khi lên Lô Sơn tham quan một chuyến rồi quay trở lên phía Bắc vào kinh để dự thi. Dưới chân núi Lô sơn, anh ta tình cờ gặp một tú sĩ áo trắng phong độ nhanh nhẹn. Hai người vừa gặp mà như đã quen biết từ xưa, bèn kết bạn vui chơi thoả thích ở Khuôn Lư: Vọng Giang Đình. Sông lớn chảy về Đông, sóng đục cuộn trào, cốc cẩm tú hoa đỏ tợ như bó đuốc đang lên khói: suối tam điệp, ngân hà rơi xuống chín tầng mây; Cửa Hàm Phàn mặt nước sóng xanh mênh mông mờ mịt…

Lô Sơn cảnh đẹp lạ thường, đẹp không sao tả xiết, đôi bạn học rộng mới quen này tiếc là gặp nhau quá muộn. Nhưng hai người lại phải đi ngược với nhau. Người bạn mới quen của Tuyên Tú tài tuy học thông kim cổ nhưng không màng công danh, không giống như anh ta phải vào kinh theo đuổi việc thi cử, mà lại muốn đi xuống Hồng Châu ở phía Nam, đến tham bái Đại sư Mã Tổ Đạo Nhất. Vị Đại sư Mã Tổ này có điểm gì thần kỳ mà có thể khiến một vị thư sinh học rộng hiểu nhiều này lại bỏ Nho học Thiền? Mà bây giờ vừa đến thời tiết cuối xuân, cách hội thi mùa thu vẫn còn sớm, Hồng Châu cách Giang Châu này chẳng qua cũng chỉ là lộ trình ba trăm dặm, nên Tú Tài họ Tuyên mới quyết định cùng đi thăm sự hiếm hoi này.

Tại chùa Khai Nguyên ở Hồng Châu, Mã Tổ Đạo Nhất hỏi anh ta: “Tú Tài đi đâu vậy?”

Tuyên Tú Tài trả lời: “Vào kinh thi tuyển làm quan”.

“Phải đến Trường An, Tú Tài không sợ xa à?”

Tuyên Tú Tài nói đùa: “Xa nhưng cũng hết cách rồi, ở chỗ đại sư đây có trường thi khác không?”

Mã Tổ hỏi: “Hiện tại sợ điều gì?”

Tú Tài nói: “Ở chỗ Ngài có tuyển làm quan không?”

Mã Tổ Đạo Nhất hét một tiếng lớn: “không những Tú Tài mà ngay cả Phật cũng không làm”.

Trời ạ! Ngay cả Phật cũng không làm, đây là cảnh giới gì vậy? Tuyên Tú Tài bỗng nhiên có chút tỉnh ngộ, lập tức ném thùng sách xuống, xuất gia theo Mã Tổ, pháp danh là Linh Mặc. Mã Tổ vừa xuống tóc cho anh ta, vừa nói rằng: “Xuống tóc cho ngươi thì ta có thể, nhưng đại sự nhân duyên của ngươi lại không do nơi ta”.

Tuyên Tú Tài, không, trước mắt đã trở thành thiền tăng Linh Mặc, còn không tin tưởng sao? Tăng Nạp trong thiên hạ đều nói chỗ Mã Tổ này là trường tuyển Phật, mọi người không quản đường xa ngàn dặm đua nhau đến quy nạp, đại sự nhân duyên không phải kết thúc tại chỗ Ngài thì còn đến chỗ nào đây?

Linh Mặc liền ở lại dưới toà Mã Tổ, làm ruộng lao động, tham thiền tu tập. Sau khi thọ giới cụ túc, đã có tư cách để đi vân du, nhưng anh ta vẫn không nở rời bỏ ra đi. Nhưng mà, cứ mở mắt nhìn các huynh đệ lần lượt như cá chép vượt long môn, hoá thành phi long xuyên mây lướt gió mà đi, bản thân tuy siêng tu khổ luyện, lại lâu lắm rồi không thể thoát khỏi cửa thiền cuối cùng.

Một hôm, Thiền sư Linh Mặc và Bách Trượng Hoài Hải theo làm thị giả Mã Tổ Đạo Nhất đi du lãm trên núi. Một bầy vịt trờ kêu cáp cáp bay ngang trên đỉnh đầu. Mã Tổ ngớ ngẩn hỏi Bách Trượng Hoài Hải: “Là gì vậy?”.

Bách Trượng Hoài Hải ngước mắt nhìn nhìn: “Là vịt trời”.

Sở dĩ Mã Tổ biết rõ mà cứ hỏi là do tự có thiền cơ linh diệu của nó, là đang điểm hóa cho Hoài Hải cảm ngộ được tâm tánh có tác dụng mọi lúc của mình, nhưng tâm của Hoài Hải lại đuổi theo sự chuyển động của cảnh giới ở bên ngoài, chỉ có thể nhìn thấy vịt trời. Đợi đến lúc vịt trời mất tăm mất dạng trên bầu trời, Mã Tổ lại hỏi: “bay đi đâu rồi?”.

Tâm của Bách Trượng Hoài Hải vẫn ở trên cảnh tượng bên ngoài là bầy vịt này, nên thuận miệng nói: “Bay qua rồi!”.

Mã Tổ thấy Hoài Hải đối diện với khế cơ rất tốt nhưng lại không lãnh ngộ, bèn đau lòng xuống tay véo lỗ mũi Hoài Hải. Cứ vặn miết làm Hoài Hải đau đến nỗi cứ la oai oái. Mã Tổ hét một tiếng lớn: “Còn nói là bay đi rồi!”.

Bách Trượng Hoài Hải chịu đau, tự nhiên đại ngộ.

Linh Mặc tận mắt nhìn thấy toàn bộ quá trình này, vừa nóng vừa giận, vô cùng phẫn nộ, bất chấp tất cả xông vào Mã Tổ kêu gào: “Sư phụ, Ngài không công bằng! Ban đầu, con bỏ con đường tốt đẹp phía trước xuất gia theo Ngài, chẳng phải là vì hiểu rõ tâm địa, ngộ triệt mặt mũi xưa nay sao? Nhưng cho đến nay, con vẫn như còn dính chặt trong thùng dầu hắc vậy? Vừa rồi cơ duyên tốt như vậy vì sao Ngài chỉ điểm hoá riêng cho Thượng toạ Hoài Hải mà không dẫn dắt cho con?”.

Mã Tổ chỉ tay vào Linh Mặc cười ha hả. Linh Mặc bị cười lo quá, vội bước tới bịt miệng Sư phụ, nói: “Hôm nay Ngài phải nói rõ cho con!”.

Mã Tổ nói: “Được. Ngươi xem, đôi giày này của Hoài Hải đẹp biết bao! Bảo ông ta mở ra, mang vào chân ngươi”.

Linh Mặc không làm, bởi vì chân của mình to hơn chân của Hoài Hải nhiều.

“Sư phụ, giày của sư huynh nhỏ quá, đẹp nhưng con không thể mang được”.

Mã Tổ trừng mắt nhìn Linh Mặc, trách mắng một cách vô lý: “Vậy giày đẹp, vì sao để cho ông ta mang? Ngươi không biết lấy dao gọt bớt chân mình à?”

Linh Mặc đã rõ, Mã Tổ đang lấy đôi giày để ví dụ cho nhân duyên ngộ đạo vừa rồi. Mỗi người có mỗi cơ duyên, cũng như trị bệnh, phải theo bệnh mà cho thuốc. Linh Mặc bổ nhào xuống quỳ trên đất, cứ dập đầu như giã gạo, khóc lóc khẩn cầu rằng: “Thưa sư phụ! Xin ngài đại từ đại bi, chỉ cho con một con đường khai ngộ sáng suốt”.

Mã Tổ nghiêm túc nói: “Ta đã sớm nói cho ngươi rồi, sư phụ xuất gia của ngươi là Ta, ông thầy sáng tâm thấy tánh lại là một người khác. Nhưng ngươi không tin, lại muốn tìm con đường tắt nơi ta. Xem ngươi kìa, bộ dạng như vậy, lúc nào mới đi đây?”.

Vậy thì, xin Sư phụ chỉ cho con vị Tông sư có duyên với con đó đi!”

Mã Tổ gật gật đầu nói: “từ đây đi lên phía Tây bảy trăm dặm, liền đến Nam Nhạc Hằng Sơn. Trên một tảng đá lớn ở Hằng Sơn, có Hoà thượng Hy Thiên đang ở trên đó. Mọi người đều gọi Ngài là Đại sư Thạch Đầu. Ngươi đi tìm ông ta, nhất định có thu hoạch lớn”.

Linh Mặc như con tuấn mã được cởi dây cương, ngước mặt lên trời hét một tiếng lớn rồi phủi bụi mà đi.

Linh mặc đi suốt ngày đêm, năm ngày đã đi hết lộ trình bảy trăm dặm, đến được chân núi Hằng Sơn. Nhưng, trước khi tham bái Thạch Đầu Hy Thiên, anh ta tự nhủ: “Nếu như một lời tương khế, ta sẽ ở lại; Nếu như hai bên không khế hợp thì ta liền đi!”

Thiền sư ngày xưa chính vì có khí khái này nên việc khai ngộ kiến tánh không thể có chút khách khí. Linh Mặc chưa đặt hành lý xuống, giày cỏ vẫn chưa cởi, lên thẳng pháp đường – tiết kiệm thời gian để lúc cần đi khỏi phải phí sức. Anh ta lễ bái rồi, chẳng nói lời nào, lẳng lặng đứng qua một bên.

Đại sư Thạch Đầu liếc anh ta một cái, chỉ một cái là đủ rồi, biết anh ta là một đấng pháp khí khó mà có được. Chẳng qua, ngọc chưa mài chưa thành trang sức, thiền không kích thích thì không khế cơ. Đại sư Thạch Đầu nhìn xuống rồi nhẹ nhàng hỏi: “Từ đâu đến?”

“Giang Tây”. Linh Mặc đáp rất chính xác, nhưng đã lạc thiền cơ rất tốt.

Đại sư Thạch Đầu vẫn không đổi giọng: “Học ở đâu?”

Điều này còn phải hỏi sao? Tuyển Phật Trường của đại sư Mã Tổ ở Giang Tây rất hưng thịnh, tăng nạp trong thiên hạ đều như sông đổ về biển. Không học thiền theo Mã Tổ còn có thể học với ai đây? Linh Mặc không thèm trả lời, phủi áo mà đi – anh ta vẫn là người nói sao làm vậy. Nhưng mà lúc anh ta vừa đi ra đến cửa, đột nhiên nghe tiếng đại sư Thạch Đầu hét theo sau lưng: “Cao Tăng!”

Linh Mặc một chân còn ở trong cửa, một chân đã bước ra ngoài cửa, chợt quay đầu lại. Anh ta vừa quay đầu, Đại sư Thạch Đầu liền hét: “Từ sanh đến chết chỉ là cái này, quay đầu lại làm gì?”

Dưới sự kích phát của đại sư Thạch Đầu, Linh Mặc quay nhìn một cái, đã lãnh ngộ rõ ràng ‘cái này’ của mình xưa nay. Việc anh ta làm đầu tiên sau khi khai ngộ là lập tức bẻ gãy cây gậy mà mình dùng để đi hành cước - Từ đó không đi vân du tham vấn nữa, đạo tràng của Thiền sư Thạch Đầu chính là quê nhà tâm linh, chính là chỗ trở về nhà ngồi an ổn.

Năm đầu niên hiệu Trinh Nguyên đời nhà Đường (785 Tây lịch), Thiền sư Linh Mặc trú trì tại đạo tràng Bạch Sa gần núi Thiên Thai ở Triết Giang, sau này quan sát sứ ở Việt Châu bị sự sắc bén của Ngài thuyết phục nên cung thỉnh Ngài đến Ngũ Tiết Sơn ở Vụ Châu (nay là Kim Hoa) hoằng hoá. Trong sử gọi Ngài là “Ngũ Tiết Linh Mặc”.

Một hôm, tại pháp đường, một vị đệ tử hỏi rằng: “Cái gì lớn hơn trời đất?”.

Trên thực tế, đệ tử đang truy hỏi về tự tánh. Tổ sư có câu: “Trời không thể che, đất không thể chở. Điều nói đến đó chính là tự tánh. Nhưng mà tự tánh thì vô hình vô tướng, nói nó giống như một vật tức không trúng, cho nên câu trả lời của Thiền sư Ngũ Tiết Linh Mặc là: “Không ai biết được nó”.

Đệ tử lại hỏi tiếp: “Vậy có thể mài dũa không?”

Thiền sư Ngũ Tiết nói: “Ngươi ra tay thử xem”.

Tự tánh không có hình tướng, làm sao mà gọt dũa? Nhưng nếu như không thể gọt dũa làm sao toả ánh sáng chiếu soi khắp đại địa được? Vì thế, ở đây có thể ra tay thử một lần xem!

Một vị đệ tử khác ở dưới toà cảm nhận được thiền cơ tuyệt diệu, nghe đến nỗi trăm hoa nở rộ. Không nhịn được nữa, đứng dậy chắp tay thưa: “Pháp môn này, từ trước khi thế giới bắt đầu đến sau khi thế giới huỷ diệt là trạng thái gì vậy?”

Ngũ Tiết Linh Mặc không đáp mà hỏi ngược lại: “ngươi nói xem trạng thái trước mắt, đã hình thành bao lâu rồi?”

“Thưa sư phụ, đệ tử không hiểu”. Anh ta đang làm ra vẻ ngơ ngác sững sờ, có ý đồ dẫn dụ sư phụ lộ ra chút tin tức gì.

“Đi! Ở chỗ ta không có chỗ cho ngươi hỏi”.

Thiền sư Ngũ Tiêt mới là người không bị mắc lừa anh ta, bởi vì mặt tô son trét phấn thì không thấm nước mưa, bụng chứa đầy tức giận thì không thể ăn cơm được. Những thứ từ bên ngoài đến không phải là của quý trong nhà mình. Sự giác ngộ của sư phụ là của sư phụ, sư phụ không thể giải thoát thay cho bạn được.

Đệ tử ‘tặc tâm chưa dứt’: “lẽ nào Hoà thượng lại không có cách gì tiếp dẫn người sao?”

Thiền sư Ngũ tiết vốn có thủ thuật hàng long phục hổ, cho nên dám đặt thân vào đầm rồng, không sợ mất thân nơi miệng hổ, mà cố ý nói rằng: “Đợi ngươi yêu cầu dẫn dắt ta liền dẫn dắt cho ngươi”.

Câu nói này lại dường như là miếng mồi làm cho người cắn câu. Đệ tử quả nhiên vội vả cắn câu: “Bây giờ xin Hoà thượng dẫn dắt”.

Thiền sư Ngũ Tiết Linh Mặc hỏi rằng: “Ngươi thiếu cái gì?”

Sau khi Lục Tổ triệt ngộ nói: “Không ngờ tự tánh vốn đầy đủ, có thể sanh ra vạn vật”. Đức Phật sau khi thành đạo dưới cội Bồ đề, câu đầu tiên mà Ngài nói cũng là “Chúng sanh đều có đức tướng trí huệ của Như Lai. Đã là tự tánh ai ai đều có đủ, mỗi mỗi đều tròn đầy, vậy thì ngươi còn thiếu thứ gì? Ngươi có thể khiếm khuyết gì đây?” Đệ tử bỗng nhiên tỉnh ngộ.

Người đệ tử thứ ba công phu rất thâm sâu, thẳng thắn hỏi: “Làm sao để đạt được vô tâm tam muội?”

Thiền sư Ngũ Tiết khí phách như sông núi, “Núi đổ biển che vẫn bình tĩnh an nhiên, mặt đất rung động vẫn ngủ yên, há được mấy người?”

Trời ạ! Đây thật là một cảnh giới thần kỳ: Núi cao đổ xuống, biển lớn lại che ngược lên, nhưng khi Thiền sư khai ngộ nghe được, lại an nhiên chẳng phản ứng gì. Đại địa rung động, đất động núi lay, lại có thể điềm nhiên nằm ngủ, chẳng lo lắng gì!

Chúng ta thấy, ba vị Thiền tăng này giống như ba con cá chép vàng linh động hoạt bát tranh nhau nhảy vào long môn. Bởi vì họ dùng tâm thiền linh động của mình để cảm nhận được thiền cơ mà Thiền sư Ngũ Tiết đã từ bi thể hiện cho họ. Thiền tăng thứ nhất từ trên phương diện không gian mà hỏi; người thứ hai hỏi trên phương diện thời gian; Vị thứ ba trực tiếp hỏi như thế nào là vô tâm? Họ hỏi tuy từ những góc độ khác nhau, kỳ thực thì đều trở về một, đều chưa từng xa lìa tự tánh, tự tánh không phải một không phải khác, không gần không xa, không thiếu không thừa, không lay không động.

Ngày 23 tháng 3 năm Nguyên Hoà thứ 13, Thiền sư Linh Mặc Ngũ Tiết tắm gội đốt hương, ngồi ngay ngắn trên thiền sàng, nói kệ cho đệ tử:

“Pháp thân viên tịch, thị hiện đến đi.

Ngàn Thánh cùng nguồn, vạn linh về một.

Ta nay còn mất, như giả hưng suy.

Vốn không nhọc tâm, chỉ giữ chánh niệm.

Nếu vâng lời ta, thật báo ân ta.

Cố chấp chống trái, chẳng phải con ta”.

Lúc đó có một Thiền tăng hỏi: “Hoà thượng đi về đâu vậy?”

Thiền sư Ngũ tiết nói: “Chẳng đi về đâu”

“Vì sao ta nhìn không thấy?”

“Không có mắt có thể nhìn thấy”.

Thiền sư ngũ Tiết nói xong, nhẹ nhàng ra đi.

Liên quan đến thiền cơ: Bỗng Nhiên Quay Đầu.

Đêm gió xuân trăm hoa đua nở, gió càng thổi hoa rơi như mưa, ngựa quý xe chạm trổ hương thơm ngào ngạt, ống tiêu véo von.

Bình ngọc lấp lánh xoay, suốt đêm cá rồng múa.

Đàn bướm đậu vàng trên cây liễu tuyết, cười nói rộn ràng thầm lấy hương đi. Tìm người trong đám đông tìm trăm ngàn lần, bỗng nhiên quay đầu.

Người kia lại đứng ngay đó, nơi đèn hoa sắp tàn.

Nhà văn học vĩ đại lao nhọc khéo léo dùng ngòi bút tài hoa của mình, trình hiện cho chúng ta một bức tranh về xem đèn tết Nguyên Tiêu đẹp đến nỗi khiến lòng người run sợ. Đặc biệt là ba câu cuối cùng, miêu tả một cách sinh động về ‘mỹ nhân’ - Cảnh giới tuyệt đối quan - Sự truy tìm lý tưởng “Tìm người trong đám đông tìm trăm ngàn lần” - Thật là vất vả, “Bỗng nhiên quay đầu” – Vì ngẫu nhiên mà càng thêm kinh ngạc vui mừng: “Người kia” – Người đẹp tuyệt đối; “Nơi đèn hoa sắp tàn” – nơi đèn đuốc mờ nhạt, thật là nơi khiến người ta chẳng chú ý tí nào.

Sau khi gian nan tuyệt vọng tìm kiếm, trong lúc vô ý ngẫu nhiên quay đầu lại. Trong lúc bỗng nhiên, tại nơi bình thường nhất lại phát hiện ra điều lý tưởng đang hiển hiện tại đó – Quá trình này và sự giác ngộ của Thiền sư Ngũ tiết linh Mặc có gì tương tợ?

Ở đây có một điểm then chốt - Chỉ có sau khi kéo cự ly thích hợp mới có thể trong lúc không chú ý, tại chỗ không chú ý, bỗng nhiên phát hiện ra. Ngày xưa, các Tổ sư Thiền tông thường sử dụng phương pháp này, sáng tạo ra loại khế cơ này, khiến cho Thiền tăng hốt nhiên đốn ngộ.

Quốc sư Vô Nghiệp ở Phần Dương, trời sanh có tướng khác thường, rất đỗi thông minh. Ngài chín tuổi đã xuất gia, bắt đầu học tập kinh điển Đại thừa như kinh Kim Cang, Pháp hoa, Hoa Nghiêm, Duy Ma, …

Ngài đọc một thực hành mười, liếc qua là thuộc lòng. Tuổi còn trẻ mà Ngài đã vinh dự là Đại Pháp sư khắp nơi. Sau này, Ngài nghe nói Thiền phong Hồng Châu của Mã Tổ nổi bật trong thiền lâm, Tăng nạp trong thiên hạ không ai không quy tâm. Thế là, với lòng hiếu kỳ, Ngài lặng lẽ ẩn vào trong đám đông Thiền tăng, đi vào chiêm lễ.

Hôm đó, Mã Tổ nhìn thấy Vô Nghiệp ở trong Tăng chúng, oai nghi đỉnh đạc, dáng vẻ cao lớn, bình tĩnh như núi nhạc, đi nhanh tợ gió, tiếng như chuông đồng. Trong lòng Mã Tổ không khỏi mừng thầm, nhưng miệng lại nói với Thiền sư Vô Nghiệp rằng: “Như toà nhà Phật, đáng tiếc trong không có Phật”.

Vô Nghiệp vừa nghe, liền giật mình: Đúng vậy, mình tuy giảng kinh thuyết pháp nhiều năm, nhưng chỉ là nghiên cứu trên bình diện tri thức, trong tâm hoàn toàn chưa thực sự chứng ngộ. Ngài vội vàng dập đầu trước Mã Tổ, thưa rằng: “Đối với kinh điển Tam thừa, con đều biết sơ qua về đại ý, thường nghe Thiền môn có câu: “tức tâm tức Phật”, đối với câu này con không hiểu lắm”.

Mã Tổ bảo: “Chỉ có cái tâm chưa hiểu đó chính là, ngươi nên thể hội ngay đó, chẳng nên tìm tòi đâu khác”.

Đáng tiếc, Vô Nghiệp tâm đang rong ruổi bên ngoài, không hồi quang phản chiếu ngay lúc đang là, cho nên bỏ lỡ thiền cơ quý báu của Mã Tổ, và ngược lại hỏi: “Ý của Tổ sư từ Tây Trúc đến là gì?”

‘Ý từ Tây Trúc đến’; Tây ý, nếu như lãnh ngộ ngay lúc đó, tức tâm tức Phật há chẳng phải là Tây lai ý sao? Cho nên, Mã Tổ nói: “Đại đức, tâm của ngươi như nước sôi sùng sục, đang huyên náo, chẳng yên tĩnh tí nào, ngươi tạm thời lui ra, hôm khác lại đến vậy”.

Vô Nghiệp hơi thất vọng, buồn rầu quay lưng, ấm ức chậm rãi đi ra bên ngoài… Ngay lúc Ngài sắp đến cửa pháp đường, đột nhiên một tiếng gọi lớn sau lưng: “Đại đức!”

Vô nghiệp với phản ứng bản năng ngoái đầu lại.

Mã Tổ vội hỏi tiếp: “Là gì vậy?”

Giống như sấm nổ giữa trời thanh, đoàng một tiếng. Vô Nghiệp đột nhiên đại triệt đại ngộ.

Mã Tổ đã rất tinh thông phương pháp này, vì sao không trực tiếp dùng ngay nơi thân Ngũ Tiết Linh Mặc, mà lại chỉ điểm Linh Mặc đi gặp Đại sư Thạch Đầu? – kéo xa một cự ly nhất định, mới có thể nảy sinh hiệu quả, bỗng nhiên quay đầu.

Phương pháp này truyền đến tay Bách Trượng Hoài Hải, đệ tử của Mã Tổ Đạo Nhất, Ngài lại đem nó phát triển thành một kiểu giáo pháp mang tính thông thường: Tại núi Bách Trượng, đến lúc thượng đường, mọi người vừa sắp xếp chỗ xong. Bách Trượng Hoài Hải không những không thuyết pháp ngược lại còn vung mạnh thiền trượng, đánh tứ tán mọi người. Lúc mọi người chạy đến cửa pháp đường, Ngài lại đột nhiên gọi mọi người, chúng Tăng bỗng nhiên quay đầu. Ngài lại nhanh chóng truy đuổi: “Là cái gì?”.

Đây, chính là “Câu nói vàng ngọc dưới pháp đường của Bách Trượng” đã nổi tiếng trong thiền lâm trăm ngàn năm nay, vô số Thiền tăng nhờ thiền đường áo diệu này mà khế nhập thiền. Thiền sư Ngũ Tiết Linh Mặc cũng tốt, Thiền sư Phần Dương Vô Nghiệp cũng tốt, cho đến ‘câu nói vàng ngọc dưới pháp đường’ của Bách Trượng cũng vậy, bỗng nhiên quay đầu, hoát nhiên đại ngộ, xem ra dường như không cần chút công phu nào. Kỳ thực, nếu không có cơ sở ‘từ trong đám đông tìm nàng trăm ngàn lần’, bạn cũng đã trăm ngàn lần quay đầu, ngoài tổn thương cổ bạn, thì chẳng được gì!

Trong quyển “Nhân Gian Từ Thoại” (Câu Nói Của Nhân Gian) của Vương Quốc Duy nói rằng: “Những kẻ đại học vấn thành sự nghiệp lớn từ xưa đến nay, ắt đã trải qua ba cảnh giới”:

Đêm qua, gió tây làm tàn lụi cây xanh, chỉ còn lầu cao trơ trọi, nhìn xa tận chân trời.

Áo đai dần rộng trọn không hối hận, vì ai hao gầy đến nỗi thân tiều tuỵ.

Tìm người từ trong đám đông từ trăm ngàn lần, bỗng nhiên quay đầu, người kia đang ở đó, nơi đèn hoa dần tắt.

TẮC THỨ 12: NÚI XANH KHÔNG TRỞ NGẠI MÂY TRẮNG BAY

Thiền sư Tử Ngọc Đạo Thông là một môn đệ thư hương họ Hà xuất thân tại Lô Giang. Vì thế, thừ nho đã đọc được nhiều sách Thánh hiền, viết nhiều thi trù ca phú, mở miệng là chi hồ giả dã. Lúc Ngài mười tuổi, Phụ thân vào kinh dự thi, hội thi Tam Trường tiến sĩ tức đệ. Ngay lập tức có một văn bằng điều quan của Sử bộ, phụ thân liền lên ngựa đến nhậm chức ở huyện Nam An - Tuyền Châu - Linh Trung (Phúc Kiến). Sợ để Ngài ở lại quê nhà không ai quản thúc, bỏ bê việc học tập, phụ thân sai một người nô bộc về dẫn Ngài đến Tuyền Nam học tập. Ai ngờ, lần đi này của Ngài không phải đi vào học đường mà đi vào Phật đường – xuất gia làm chú tiểu.

Hôm đó, Phụ thân vì đến nơi bình an nên dẫn Ngài đến chùa dâng hương hoàn nguyện. Quan Phụ mẫu đến thăm, Hoà thượng trú trì đương nhiên rất lịch sự, đã phá lệ cho phép cha con họ tham gia khoá tụng hằng ngày của Tăng chúng. Họ theo sau một đám Tăng nhân đi vào điện Phật yên lặng đứng một hồi lâu bên bàn thờ Phật – yên tĩnh.

Một thiếu niên trẻ tuổi như Ngài, chưa từng có cảm giác yên tĩnh như thế này, không những sự uyên náo của thế giới bên ngoài ngừng lại mà ngay sự náo loạn của nội tâm cũng hoàn toàn bình lặng trở lại. Mà thứ yên tĩnh này không phải là chết lặng, không phải là ngưng trệ, không phải là sự đông cứng, mà tràn đầy sức sống. Lúc này, tâm của bạn rõ ràng có thể cảm nhận được, có một mạch nước ngầm đang lặng lẽ vận hành, lặng lẽ tích tụ. Trong sự tịch mặc tiềm ẩn tiếng sấm cuồn cuộn, nó dường như lúc nào cũng có thể nổ tung.

“Beng!”

Tiếng khánh lớn vang lên, tiếp đó, một âm thanh tự nhiên phá thinh không mà đến – “Nam – Mô”

Tiếng này giống như là tiếng vang gọi đến từ trung tâm của vũ trụ; tiếng này như tiếng líu ríu phát ra từ nơi linh hồn sâu thẳm; tiếng này dường như Ngài đã chờ đợi nó từ rất lâu, rất lâu, dường như từ lúc mới ra đời Ngài đã đang đợi nó đến … Ngài dường như bỗng nhiên nhận được dòng điện kích thích mãnh liệt vậy, làm cho sững sờ, đờ đẫn, ngẩn ngơ – Nhưng mà, Ngài lại có thể cảm nhận được một cách rõ ràng, một luồng khí từ trong những đốt xương sống xông lên phía trên, xuyên thẳng qua não tuỷ, xuyên ra ngoài vỏ não, cùng với thanh âm khát vọng từ trăm ngàn năm này hợp thành một thể…

Lúc đó, ngài ngổn ngang trăm mối, nước mắt dàn dụa, bất giác quỳ xuống…

Hôm đó, Ngài không đi theo phụ thân về nhà, bởi vì từ thời khắc đó trở đi, ngài đã hiểu rõ ở đây mới thật sự là nhà của mình. Ngài giống như kẻ du tử lưu lạc nhiều năm, nay đã trở về nhà của mình, tức không thể rời được nữa.

Thế là, học đường rộn rã tiếng đọc sách đã vắng đi một chỗ, trong chùa lại thêm một Sa di đuổi quạ nhỏ tuổi pháp danh là “Đạo Thông”.

Lúc đó, Mã Tổ Đạo Nhất gào thét xuất thế - tại núi Phật Tích ở Kiến Châu (nay là Kiến Dương) tỉnh Phúc Kiến khởi công xây dựng Tòng Lâm.

Tiểu Đạo Thông được chuyển đến chỗ của Mã Tổ, cùng với những hạt châu lớn nổi tiếng trong lịch sử của thiền tông như Huệ Hải, Chí Hiền,… ngài đã trở thành những người đệ tử đầu tiên của Mã Tổ. Hơn nữa, Đạo Thông lại luôn luôn đi theo bên cạnh Sư phụ, từ Phúc Kiến đến Giang Tây, từ núi Tây Lý ở Lâm Xuyên (nay thuộc Phủ Châu tỉnh Giang Tây) đến núi Cung Công ở Nam Khang (nay thuộc huyện Nam Khang tỉnh Giang Tây). Đi theo Sư phụ suốt ba bốn mươi năm, vì thế, công lực của Thiền sư Đạo Thông được tích luỹ sâu dày và rộng lớn thể tính kể được.

Lúc ngài gần năm mươi tuổi mới bắt đầu ra ngoài vân du. Lúc sắp đi, Mã Tổ Đạo Nhất bảo với ngài rằng: “Có một nơi, núi sông đẹp đẽ, cây cối tốt tươi. Nham thạch giống như viên ngọc đẹp màu tím ấm nhuần, rất có ích cho đạo nghiệp của con. Lúc nào gặp được nơi này, con có thể ở lại đó”.

Thiền sư Đạo Thông suốt đường cứ đi đi mãi, đầu thiền trượng gánh trăng sáng của Giang Nam, nón lá rách lợn lờ nơi khói mây Nam Nhạc, trong tay nải gói ghém sóng nước Giang Hán; dưới giày cỏ đầy hương hoa ở Kinh Lạc,…

Ngài giống như một đám mây trắng nhẹ nhàng, núi xanh không giữ lại được, cây xanh không thể ngăn trở, phiêu du tự do tự tại trong không gian vô cùng. Mùa thu năm nọ, lúc sương sớm ở Bắc phương chuyển những lá phong trở thành vàng rực, từ núi đồi khắp đến đồng hoang, Thiền sư Đạo Thông từ Lạc Dương đến Đường Châu, trong lúc bất giác ngoái đầu, nhìn thấy một toà núi cao ở phía Tây. Núi hiên ngang giữa trời, vẹt đất mà lên. Bốn bề vách núi cheo leo, núi cao hiểm trở dị thường, cỏ cây xinh tươi, vô cùng đẹp đẽ. Ngài hỏi thăm mọi người, mọi người nói với ngài đây là núi Tử Ngọc. Thiền sư Đạo Thông không ngăn được trống ngực liên hồi, vội vã leo lên núi. Ngài leo lên đến đỉnh núi, bỗng nhiên phát hiện trên đỉnh núi có một tảng đá to, vuông vắn, toả ra sắc tím óng ánh xuyên suốt!

“Đây là núi Ngọc tím!”.

Thiền sư Đạo Thông kinh ngạc la lên một tiếng, đương nhiên cũng đã hiểu rõ, ở đây toà núi Ngọc tím này chính là nơi Mã Tổ đã dự liệu huyền ký. Thế là, Ngài bèn ở lại nơi này, phát cây chặt gai, sắp đá làm tường, xây cất thiền xá. Không lâu sau, Thiền tăng nghe tiếng vân tập đến. Núi Ngọc tím ngày xưa hoang vu nay trở thành đạo tràng lớn đào tạo Long Tượng Thiền Môn.

Núi, nhờ người mà hưng thịnh, người nhờ núi mà được tiếng. Từ đó, Thiền sư Đạo Thông được tôn xưng là “Tử Ngọc” (Ngọc Tím).

Đương thời, Châu trưởng Tương Dương là Vu Thuần không tin Phật pháp, hạ lệnh ở trong phạm vi quản lý của ông ta, không cho phép Tăng Ni hành cước. Mỗi khi có vị Tăng vân du không biết điều lệ nhập cảnh, sẽ bị bắt đánh đập nặng nề, chỉ cần có thể tìm ra một tội cỏn con không đáng gì, liền bị chém đầu không tha.

Thiền sư Tử Ngọc Đạo Thông sau khi nghe được chuyện, muốn tìm đến cửa quan để hoá giải tai nạn này.

Lúc vừa xuất phát, có đến mười người hùng dũng oai phong đi theo Thiền sư Đạo Thông. Một đoàn trượng phu khí phái ung dung đi làm việc nghĩa, kiên cường bất khuất vì nghĩa lớn. Thế mà vừa đến địa giới Tương Dương, mấy người kia lại mỗi mỗi tìm ra các lý do khác nhau, kiếm cớ không đi nữa.

Thiền sư Tử Ngọc Đạo Thông mỉm cười, một mình bước vào con đường Tương Dương đầy nguy hiểm.

Ngài vừa mới nhập cảnh, đã bị một đám quân binh bắt lại, một cái gông dùng cho phạm nhân tử tội, đột nhiên bị đeo lên trên cổ của Ngài. Thiền sư Tử Ngọc bị áp giải đến thành Tương Dương, đưa vào trong nha phủ, áp giải đến trước mặt Vu Tướng Công.

Vu Địch uy phong lẫm lẫm ngồi trên toà cao, một tay đè chuôi kiếm, hét lớn: “Ê đồ lừa, lẽ nào nhà ngươi không biết ta nắm quyền sanh sát trong tay ta sao?”

Thiền sư Tử Ngọc cười ha hả, nói: “Ngươi có biết Pháp vương không sợ sống chết không?”.

Trên đời, sức uy hiếp lớn nhất đối với con người đương nhiên là sự sống chết, tồn vong. Nhưng mà đối với một người không còn sợ sống chết mà nói, nếu lấy cái chết mà uy hiếp thì không ăn nhằm gì.

Sắc mặt Vu Tướng Công hơi ôn hoà một tí, hỏi rằng: “Hoà thượng, trên đầu ông vẫn có lỗ tai đấy chứ?”

Ý của ông ta là: Lẽ nào ông chưa từng nghe tiếng ta là người chuyên môn đối địch với Tăng nhân sao?

Thiền sư Tử Ngọc nói: “Lông mày không che khuất tầm mắt, Bần Tăng và Tướng Công gặp nhau, lẽ nào có gì chướng ngại sao?”.

Tay của Vu Tướng Công cuối cùng cũng buông chuôi kiếm ra. Ông ta liếc nhìn rồi hỏi: “Trong kinh Phật (phẩm Phổ Môn trong kinh Pháp Hoa), nói: ‘Gió đen thổi thuyền của nó trôi vào nước La Sát’. Câu nói này phải chăng là thật? Đại Hoà thượng, ngươi đã là cao tăng đắc đạo, xin ông hãy cho tôi xem thế nào là ‘trôi vào nước Quỷ La Sát?’”.

La Sát (tiếng Phạn là raks! asa), là tên gọi chung cho tất cả ác quỷ thuộc ác ma trong thần thoại Ấn Độ. Mặt mũi của nó hung dữ đáng sợ, bẩm tánh rất tàn ác, chuyên ăn máu thịt người. Đã là thần thoại, làm sao có thể biến hiện? Vu Tướng Công dùng vấn đề này, đặt Thiền sư Tử Ngọc Đạo Thông vào giữa hai cái khó. Đúng vậy, nếu ngươi không thể xem thần thoại hư vô huyền ảo biến thành cảnh tượng chân thật, thì không có cách gì khiến cho người ta có cảm giác được sự tồn tại của nó, như vậy chứng tỏ những điều kinh Phật nói đều không phải là chân lý!

Thiền sư Tử Ngọc hai mắt khép nhẹ, im lặng không nói.

Vu Tướng Công thấy Ngài không đối đáp gì, trên mặt lộ vẻ vừa chế nhạo, vừa cười đắc ý…

Nhưng mà, ngay lúc ông ta đắc ý quên hình, bỗng nhiên nghe một tiếng hét của Thiền sư Tử Ngọc, hung dữ quát mắng: “Vu Địch, ông là kẻ ngốc nghếch vô tri, ngu xuẩn nhất trong thiên hạ, hỏi việc này để làm gì?”

Vu Tướng Công vô cớ bị mắng chửi làm nhục, đương nhiên lửa giận bốc lên, phẫn nộ biến sắc. Chỉ thấy bộ mặt ông ta biến dạng, hai mắt lộ vẻ hung dữ, bặm môi, nghiến răng, tức giận vô cùng, sát khí đằng đằng đứng phắt dậy. Soạt một tiếng, lưỡi kiếm dài lạnh toát được rút ra, từng bước, từng bước tiến dần đến Thiền sư Tử Ngọc Đạo Thông… Thiền sư Tử Ngọc lại một mực bình tĩnh, lấy tay chỉ ông ta, cười nói: “Tướng Công, ông xem, đây chính là ‘trôi vào nước Quỷ La Sát’”.

Vu Tướng Công không khỏi giật mình, dừng bước. Đúng vậy, sắc mặt của mình hung dữ, ánh mắt tàn ác, không phải chính là quỷ la sát hay sao? Nghĩ đến đó, thanh kiếm trong tay ông ta liền nhẹ bỗng vô lực rơi xuống.

Là người, là quỷ, tất cả đều tại lòng người. Một niệm ôn hoà lương thiện tức là thế giới cực lạc; Một niệm tà ác sân hận, đoạ vào nước quỷ la sát!

Vu tướng Công không cam tâm, đã là quỷ phải làm khó cho Tử Ngọc ngươi mới được, thế là ông liền hỏi: “Thế nào là Phật?”. Không ngờ, Thiền sư Tử Ngọc liền gọi: “Vu Tướng Công!”

Vu Tướng Công chẳng nghĩ ngợi gì, chỉ đáp theo bản năng. Thiền sư Tử Ngọc liền nói tiếp: “Không cần tìm cầu đâu khác”.

Cái gì, ta chính là Phật? Lẽ nào, ta thật sự có thể thành Phật? Lẽ nào, ta thật sự là Phật?

Vu Tướng Công dường như suy nghĩ, dường như có chút tỏ ngộ, lo lắng hốt hoảng, trong lòng rỗng rang, sáng suốt….

Từ đó, ông ta đổi khuôn mặt La sát thành lòng dạ Bồ tát, chính thức lễ bái dưới toà Thiền sư Tử Ngọc, học Phật, tham thiền, dần dần ngộ đạo, hết lòng hộ trì Phật giáo.

Đệ tử của Tổ sư Thạch Đầu Hy Thiên - Đại sư Dược Sơn Duy Nghiễm sau khi biết được việc này không tiếc nuối than rằng: “Aí chà, đáng tiếc, hán tử họ Vu sống vùi trong núi Tử Ngọc rồi!”.

Vu Tướng Công nghe câu này, lập tức từ Hồ Bắc đi ngược xuống Hồ Nam, lên núi Dược Sơn, đến bái kiến Đại sư Duy Nghiễm. Dược Sơn Duy nghiễm hỏi: “Nghe nói Tướng Công làm Phật sự lớn ở núi Tử Ngọc, phải không?”

Vu Tướng Công khiêm tốn nói: “Không dám!”, rồi nói tiếp: “Nghe nói, Ngài có lời cứu độ cho con, hôm nay con đặc biệt đến tham bái”.

Dược Sơn Duy Nghiễm nói: “Ông có nghi hoặc gì đều có thể hỏi tất?”

Vu Tướng Công hỏi lại câu cũ: “Thế nào là Phật?”

Dược Sơn hét lớn: “Vu Địch!”

Vu Tướng Công lanh lẹ, máy móc trả lời: “Có!”.

Dược Sơn nhanh như chớp hỏi tiếp: “Là cái gì?”

Vu Tướng Công đột nhiên đại triệt đại ngộ!

Ông ta trở về núi Tử Ngọc sám hối với Thiền sư Tử Ngọc Đạo Thông rằng: “Đại Hoà thượng từ bi vô hạn, đã nhiều lần chỉ thị cho con tức tâm tức Phật, chỉ do con trước nay không dám thừa nhận”.

Thiền sư Tử Ngọc đi xuống pháp toà, khoác tay ông ta cười lớn: “Trượng phu tự có chí xung thiên, khói mây trong tam giới đợi rảnh để xem”.

Có một vị Thiền tăng thông minh liền hỏi: “Thế nào là ra khỏi được Tam giới?”.

Tam giới, tức là dục giới, sắc giới và vô sắc giới. Ba giới này là thế giới qua lại của sanh tử, ra khỏi ba cõi tự nhiên đạt được giải thoát triệt để. Nhưng mà, từ góc độ thiền mà nói, tam giới vốn là không, vốn không có người, thì ra khỏi cái gì? Vì vậy, Thiền sư Tử Ngọc hỏi lại: “Ông ở trong tam giới bao lâu rồi?”.

Vị Tăng kia mơ hồ chưa ngộ, hỏi tiếp: “Rốt cuộc thì làm sao ra khỏi?”

Thiền sư Tử Ngọc nói ra một câu tuyệt xuất thiên cổ:

“Núi xanh không ngăn mây trắng bay!”.

Liên quan đến thiền cơ: Hư Vân Giáo Hoá Căn Nguyên.

Thiền sư Tử Ngọc dùng trí tuệ và cơ trí của thiền giả để nhiếp phục Thái thú Tương Dương Vu Địch Tướng Công cường bạo hung ác, dường như có phần mang sắc thái truyền kì. Nếu nói, thời gian ngàn năm ngăn cách sự giao lưu trực tiếp giữa chúng ta và người xưa, vậy thì câu chuyện Đại sư Hư Vân cao tăng thời cận đại giáo hoá dẫn dắt tướng quân Căn Nguyên, có thể khiến chúng ta tai nghe mắt thấy phong thái truyền thừa liền một mạch từ xưa đến nay của các Thiền sư.

Cuối triều nhà Minh, xã hội rối ren, phong khí ngày càng xuống dốc, trong cửa Phật tự nhiên cũng long xà hỗn tạp, cho nên khó tránh khỏi có một số người giới luật lỏng lẻo, hành vi bại hoại. Một viên phân chuột cũng đủ làm thối một nồi canh ngon. Vì thế, sau khi dân quốc kiến lập, khắp nơi trong cả nước sự tình đuổi Tăng phá chùa thỉnh thoảng xảy ra.

Lúc đó, tướng quân Lý Căn Nguyên nhậm chức Tổng trưởng quân chính kiêm Tham Nghị Viện, Viện Trưởng tỉnh Vân Nam hận tận xương cốt những hành vi trái pháp của Tăng đồ, bèn đưa ra tên gọi “Túc Thanh Xã Hội”, khai đao với toàn bộ Tăng Ni, Tự viện trong toàn tỉnh. Đương thời, lão Hoà thượng Hư Vân đang trú trì tại chùa Chúc Thánh ở núi Kê Túc, Tân Xuyên tỉnh Vân Nam. Tướng quân Lý Căn Nguyên nghe nói vị Hoà thượng nầy rất có tiếng tăm trong cả nước cho đến toàn vùng Đông Nam Á. Quốc Vương, Vương Hậu Thái Lan từng quy y với Ngài, ngay Từ Hy Thái Hậu, Hoàng Đế Quang Tự cũng đã từng quỳ lạy Ngài, Ngài còn được triều đình nhà Thanh sắc phong. Ngay tên gọi chùa Chúc Thánh ngôi chùa Ngài trú trì cũng do Hoàng Đế nhà Thanh ngự ban. Ông ta nghĩ: Một Hoà thượng nghèo hèn vì sao lại có ảnh hưởng lớn như vậy? Trong đó nhất định có trò ma quỷ gì đây! Thế là, ông ta đích thân dẫn quân đội, sát khí đằng đằng, từ Côn Minh tiến trẳng về núi Kê Túc.

Các vị tăng ở núi Kê Túc, tay không tấc sắt, thân không có gan giết lấy con gà, chỉ có thể chiến đấu không tới một ngày. Chúngđệ tử khuyên lão Hoà thượng Hư Vân nhanh chóng chạy trốn, lão Hoà thượng lại hỏi: “Có thể chạy thoát sanh tử không?”

Tháng tám, quân đoàn hổ lang của Lý Căn Nguyên bắt đầu đến núi Kê Túc, tiến đóng ở chùa Tất Đàn, bắt đầu những hành động điên cuồng trước nay chưa hề có: Đuổi hết Tăng nhân, phá bỏ chùa chiền, chặt phá tượng Phật, thiêu đốt kinh sách,… Trong tình hình khẩn cấp như vậy, lão Hoà thượng Hư Vân một mình đi đến chùa Tất Đàn nơi Lý Căn Nguyên chiếm đóng, đi thẳng đến Vạn Thọ điện nơi ông ta lấy làm bộ chỉ huy. Lúc đó, tướng quân Lý Căn Nguyên đang hội kiến với Án Sát sứ Tứ Xuyên trước đây là Triệu Phiên. Triệu Phiên và Hoà thượng Hư Vân là chỗ thâm giao, nên vội vàng đứng dậy, lịch sự thưa hỏi lão Hoà thượng đến đây có việc gì? Hoà thượng Hư Vân nhân cơ hội đó nói rõ mục đich đến. Trước mặt Triệu Phiên, Lý Căn Nguyên không tiện lập tức hạ lệnh bắt Hoà thượng Hư Vân, bèn đạp bàn giận dữ: “Phật giáo các ông có ích gì cho bá tánh? Có ích gì cho xã hội?”

Lão Hoà thượng Hư Vân không lo lắng, từ tốn nói: “Từ bi của Phật giáo là tấm lòng, phương pháp tế thế lợi dân của Phật giáo là giáo hoá lòng người, bỏ ác hướng thiện. Tâm là cái gốc của vạn sự vạn vật. Cái gốc được nay thẳng tức vạn sự được thuận tiện hanh thông, vạn vật được an ổn; Tiến đến làm cho thói dân hiền hoà, xã hội an ninh, thiên hạ thái bình”. Lý Căn Nguyên nghe những lời này, khẩu khí có phần hơi ôn hoà, chỉ vào tượng Phật trong đại điện, nói: “Cần những pho tượng xi măng, gỗ chạm, đồng đúc này để làm gì? Lãng phí tiền tài của xã hội”.

Thiền sư Hư vân nói: “Vốn dĩ Thiền tông chúng tôi, lúc Mã Tổ Đạo Nhất sáng lập tùng lâm không xây dựng điện Phật. tức tâm tức Phật, tâm là Phật; Tâm, Phật và chúng sanh ba thứ này đều không sai khác. Sở dĩ sau này trong tòng lâm xây dựng đại điện hùng vĩ, thờ phụng tượng Phật trang nghiêm cũng vì để đáp ứng cho xã hội, giáo hoá dân chúng”.

“Câu này giải thích như thế nào?”

“Tướng để biểu thị cho Pháp; Tượng Phật cao lớn trang nghiêm có thể khiến cho người ta phát tâm cung kính, nể sợ. Con người nếu không có sự kính sợ, chắc chắn chẳng có việc ác nào mà không dám làm! Thói đời, tất nhiên mỗi ngày mỗi đi xuống! Hơn nữa, theo lễ nghi thế tục mà nói, tượng Phật và Bồ tát này cùng với sự thờ cúng bài vị Tổ tiên, tượng vẽ Thánh Diện cũng có thể làm cho chúng ta không thể quên đi quá khứ, khiến cho tâm chúng ta có chỗ trở về, công hiệu của nó không thể nghĩ bàn. Ngay nơi bản thân Phật giáo của chúng ta mà nói, Phật tổ Thích Ca Mâu Ni đích thân nói ra trong ‘kinh Kim Cang’ rằng: “Tất cả những gì có hình tướng đều là hư vọng. Nếu thấy các tướng không phải là tướng tức là thấy Như Lại!”

Lý Căn Nguyên bất giác gật gật đầu, mời Hoà thượng Hư Vân ngồi xuống, bảo binh lính dâng trà. Sau đó, ông ta lại hỏi: “Nhưng, vì sao có những vị Hoà thượng làm việc rất tốt, ngược lại còn làm rất nhiều việc xấu, trở thành ký sinh trùng của dân chúng, phế vật của nước nhà?”.

Lão Hoà thượng Hư Vân không khỏi mỉm cười, nói: “Xưa nay đều có rất nhiều tú tài chẳng ra gì, nhưng hoàn toàn không thể vì đó mà mắng chửi Khổng Tử, càng không thể vì thế mà trừng phạt tất cả những kẻ ăn học. Còn nữa, Lý tướng quân, ông rất ngay thẳng, đúng đắn, quân đội do ông thống lĩnh tuy nhiên có kỷ luật nghiêm minh, nhưng tuyệt đối không thể không có những binh lính cá biệt có những hành vi hung ác, ức hiếp bá tánh, lẽ nào lại vì đó mà giải tán quân đội, chém giết tướng quân? Cũng vậy, Tăng đoàn cũng là hiền ác không đều, không thể vì những Tăng nhân phạm pháp mà phế bỏ toàn bộ Tăng chúng. Biển không chê cá, tôm, do nó dung chứa tất cả mà thành biển lớn; Đất không chê nhơ bẩn vì nó bao chứa tất cả mà thành dày sâu. Lý tướng quân có cho là như vậy không?”

Trên mặt Lý tướng quân mây vẹt sương tan.

Ngày hôm sau, ông ta đích thân đến Thiền tự Chúc Thánh, nơi ở của lão Hoà thượng Hư Vân để thăm viếng, và theo chúng tăng tụng kinh ăn chay, tham thiền và còn bái Hoà thượng Hư Vân làm Thầy, khẩn cầu Đại sư truyền Tam quy cho ông ta (quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng), trở thành một vị cư sĩ thành tín. Lúc sắp xuống núi, tướng quân Lý Căn Nguyên làm một bài thơ tặng ân sư:

“Lau bay ngày mưa mát,

Đá vang đêm gió mây,

Sách xưa ngàn vạn quyển,

Cổ tích mực bao vây.”

(Lô phi thanh trú vũ,

Thạch hưởng dạ đằng phong.

Tàn thư thiên vạn quyển,

Cổ tích mặc oanh oanh.)

Lão Hoà thượng Hư Vân cũng có một bài kệ tặng lại:

“Ba cõi bất an là hầm lửa

Ở đâu an ổn để an cư

Như Lai thị ngã nghĩa chân thật

Ma ma Phật Phật đều như nhau”.

(Tam giới vô an thị hỏa trạch,

Cánh vu hà xứ khả an cư.

Như Lai thị ngã chân thật nghĩa,

Ma dã như liệt Phật giả như).

    Chia sẻ với thân hữu: