Đạo Phật Khất Sĩ
CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Thiền ngộ (Phần 6)

TẮC THỨ 21: SA DI CAO THỌ GIỚI

Sa di Cao bẩm sanh dường như là một nhân vật huyền bí, trước nay chưa có ai biết ông từ đâu đến, sẽ đi về đâu, càng không ai biết quê hương của ông ở đâu, sư phụ là ai. Thậm chí, ngay đến pháp hiệu của ông, bạn bè cùng tham học với ông đều không biết được - mọi người chỉ biết ông họ Cao, nên gọi ông là “Sa di Cao”. Quanh năm suốt tháng ông vân du tham vấn khắp trong các tòng lâm, đến nỗi bàn chân sinh bệnh, bước đi tập tễnh. Thế là, con đường mây nước ngàn dặm dưới chân ông không có được một bước bằng phẳng - cuộc đời hành cước của ông từ đó luôn trở ngại vô cùng.

Năm nọ, ông từ Nam Nhạc Hằng Sơn xuống, bước thấp bước cao đi lên phía Tây Bắc cực kỳ gian nan. Ông phải đi đến Giang Lăng xa xôi hơn hai ngàn dặm để thọ giới.

Thọ giới, là một việc quan trọng nhất của một Tăng nhân. Nói một cách nghiêm túc, chỉ có thọ 250 giới điều cụ túc, mới có thể xem là một vị Tăng chính thức, mới có tư cách ra ngoài tham học.

Vốn dĩ, từ Hằng Sơn đến Giang Lăng có thể đi thuyền qua sông Tương xuôi dòng mà xuống đi ngang qua Hồ Động Đình 800 dặm, vào Trường Giang ngược dòng mà lên, tất có thể đến. Thế nhưng, chiếc thuyền tiền của này, một người xuất gia không có đồng tiền trong lưng há có thể thuê được sao! Vì thế, Sa di Cao vẫn phải dùng đôi chân chậm chạp của ông bước thấp bước cao, từng bước từng bước, để lần dò trên con đường vạn dặm kia. Ông qua sông Liên, vượt qua sông Tư, chẳng phải ngày một ngày hai mà từ trên đỉnh Nam Nhạc bên bờ sông Tương đến được dưới chân Dược Sơn ở Cảnh Nội - Vũ Lăng ( nay là Thường Đức) bên bờ sông Nguyên. Ông đang men theo một con suối nhỏ quanh co uốn lượn, tràn ngập ánh sáng thâm u và vang lên khúc nhạc thanh tĩnh, bỗng nhiên, trong con suối nhỏ phía trước truyền lại một giọng ngâm:

Vũ Lăng dòng sông hẹp

Thuyền chèo vào rừng hoa

Chớ bảo trong suối thẳm

Thần tiên biết bao xa

Nước về gặp chướng xanh

Mây qua suối xanh râm

Ngồi đây nghe vượn hú

Tâm bỏ ngoài trần lao.

Một lão ông, chèo một chiếc xuồng con, xuôi dòng mà trôi. Người trong núi hoang mà có thể thuận miệng xướng lên một bài thơ “Vũ Lăng Phiếm Thuyền” của Mạnh Hạo Nhiên, hơn nữa, tình này cảnh này, không những phù hợp với ý của bài thơ, mà còn xảo diệu hơn là khế hợp với thiền ý ở trong thơ! Do đó chúng ta có thể thấy, lão ông này chẳng bình thường chút nào. Điều làm cho ta bất ngờ hơn đó là, ông lại hướng con thuyền nhỏ chèo đến chỗ Sa di Cao, dừng lại trước mặt Sa di, hỏi: “Nạp tử đi đâu vậy?”.

Tăng nhân thân mặt áo bá nạp (áo vá chắp) cho nên gọi là “Tăng nạp, nạp tử” Sa di Cao chào ông lão thần bí rồi nói mình muốn đến Giang Lăng thọ giới. Ông lão nói: ‘nạp tử hà tất phải bôn tẩu ngược xuôi, ở đây có nhục thân Bồ Tát xuất thế, có thể lên núi lễ bái?”

“A, thật sao?” Sa di Cao vội vàng hỏi dồn: “Nhục thân Bồ Tát mà ông nói, ở trên ngọn núi nào?”

Ông lão hỏi ngược lại: “Ngọn núi nào không ở được?”

Sa di Cao bỗng nhiên cảm nhận thiền ý cuồn cuộn táp vào mặt, ông bất giác sửng sờ: Đúng vậy, Bồ Tát ứng cơ mà hiển hiện, không ở đâu, và cũng không đâu mà không ở:

Đợi ông bình tĩnh lại, ở đó chỉ còn hình bóng của ông lão! Ông lão và ngay cả chiếc xuồng con cũng thế, đều như huyễn hóa, mất tiêu không còn tông tích. Thế nhưng, Sa di Cao dường như lại nghe được một chuỗi âm thanh ngâm tụng như có như không:

Một cọng cỏ giữa núi

Lập tức thành thuốc hay

Cứu người và giết người

Đều là thiền trọng yếu…

Bồ tát Văn Thù bảo Thiện Tài Đồng Tử đi hái thuốc, Thiện Tài lại về tay không, nói: “Theo con thấy, đồi núi mênh mông đều là thuốc, Bồ Tát bảo con hái cái gì?” Bồ Tát Văn Thù nói, là thuốc thì ngươi cứ hái về. Thiện Tài Đồng Tử tùy tiện hái một bó cỏ hoang, Bồ Tát Văn Thù đưa cỏ hoang lên nói: “Thuốc này cũng có thể giết người, cũng có thể cứu người.”

Sa di Cao bỗng nhiên hiểu rõ, núi này tên là Dược Sơn, nhục thân Bồ Tát mà ông lão thần bí nói đó chắc chắn ở trên núi này. Thế là, ông rẽ lên núi, đến đạo tràng của Đại sư Dược Sơn Duy Nghiễm, tại phương trượng Sa di Cao theo qui cũ, tham bái đường đầu Đại Hòa Thượng. Đại sư Dược Sơn Duy Nghiễm thoáng nhìn ông một cái ra vẻ rất bình thường hỏi: “Từ đâu đến?”

Sa di Cao nói mình từ Nam Nhạc đến. Đại sư Dược Sơn lại hỏi: “Đi đến đâu?”

Sa di Cao thưa: “Con đến Giang Lăng thọ giới.”

Đại sư Dược Sơn bỗng nhiên nổi sóng gió, hỏi: “Thọ giới để làm gì?”

Sa di Cao trả lời rất hay: “Để khỏi sống chết.”

Đại sư Dược Sơn lại không chấp nhận, nói một cách nghiêm nghị sắc bén hơn: “Có một người không thọ giới, cũng không có sanh tử để tránh. Ngươi có biết được không?”

Sa di Cao không lãnh hội được thiền cơ của Đai sư Dược Sơn, nên hỏi lại theo lẽ thường tình: “Nói như vậy, thì đầu tiên đức Phật Thích Ca Mâu Ni chế định những giới luật này có tác dụng gì?” Đại sư Dược Sơn Duy Nghiễm cười ha hả, chỉ vào đầu ông ta nói: “Sa di này chỉ được nhất thời nhanh miệng, nhưng lại chỉ nhặt nhãnh những lời thừa thãi của người ta mà thôi!”

Câu nói này, giống như một mũi tên bén, bắn trúng căn bệnh của Sa di Cao. Ông thình lình tỉnh ngộ, lễ bái mà lui.

Ông vừa chân trước bước ra, đệ tử lớn của Đại sư Dược Sơn Duy Nghiễm - Đạo Ngô Tông Trí đã chân sau bước vào phương trượng, đứng hầu bên cạnh sư phụ. Dược Sơn hỏi ông ta: “Gặp Sa di cà thọt vừa mới tới đây không?” thấy Đạo Ngô lắc lắc đầu, ngài nói tiếp: “Đáng tiếc, ngươi không gặp được, Sa di này tuy tuổi trẻ, nhưng lại rất có chí khí.”

Đạo Ngô biết sư phụ đang khen ngợi việc ngộ ra chân tánh của Sa di kia. Nhưng ông là một người vô cùng nghiêm khắc, ngay cả sư đệ của mình là Vân Nham Đàm Thành cũng không dễ dàng bỏ qua, vì sao lại có thể tùy tiện chấp nhận một Sa di nhỏ tuổi? Cho nên, ông thưa với Sư Phụ: “Không thể hoàn toàn chấp nhận được, còn phải khảo nghiệm lại mới có thể khẳng định.”

Tối hôm đó, Dược Sơn Duy Nghiễm lên pháp đường, gọi: “Sa di đến sáng sớm hôm nay đâu rồi?”

Sa di Cao nghe gọi, từ trong đại chúng đi ra, đứng ngay ngắn trước mặt Đại sư Dược Sơn. Đại sư Dược Sơn hỏi: “Ta nghe nói trong thành Trường An rất náo nhiệt, ngươi có biết hay không?”

Sa di Cao đương nhiên biết rõ, sư phụ không phải nói đến hoàng thành Trường An mà đang nói đến thế giới nội tâm. Vì thế, ông trả lời: “đất nước ta vẫn như vậy”.

Hay thay cho câu nước ta vẫn như vậy, hình tượng để nói rõ, thế giới nội tâm của ông rất ôn hòa, rất điềm tĩnh, rất an lành.

Đại sư Dược Sơn tiến thêm bước nữa: “Tâm bình lặng này của ngươi là nhờ đọc kinh mà có, hay là do tham vấn cao tăng mà được?”

Sa di Cao kiên quyết phủ định: “ Không phải nhờ đọc kinh mà có, cũng không phải do tham học mà được.”

Dược Sơn dần dần thắt chặt, hỏi dồn: “Nhưng, có lúc nhiều người không đọc kinh, không tham học. Vì sao họ không đạt được tâm bình lặng như ngươi?”

Đại sư Dược Sơn bốp chát ép người, thật ra là đang hướng dẫn một cách cao minh, ngài đem những con đường rẽ bốn phương tám hướng chặt hết, lấp hết, chỉ để lại cho bạn một con đường hướng thượng vượt thẳng lên ngàn dặm - con đường của Thiền ngộ. Ngộ và không ngộ phải xem nơi công lực và cơ duyên của bạn. Dưới sự bức bách kích thích chặt chẽ nghiêm mật của Thiền sư Dược Sơn Duy Nghiễm, Sa di Cao lập tức khế nhập thiền cơ,trong tự tánh phát ra ánh sáng trí tuệ vô cùng đẹp đẽ: “Không thể nói họ không đạt được, chỉ là không chịu thừa nhận ngay lúc đó!”

Câu trả lời về Thiền yếu trong lúc bức bách này, khiến cho Dược Sơn Duy Nghiễm ngầm liên tiếp gật đầu. Ông quay đầu nhìn hai đệ tử lớn là Đạo Ngô, Vân Nham nói: “Không ngờ chứ gì? Sa di cũng có thể ngộ đạo.” Sau khi Sa di Cao khai ngộ không đi Giang Lăng thọ giới nữa, đặt hành lý xuống, ở lại Dược Sơn. Ông theo bên cạnh sư phụ, ngày đêm tham vấn tu tập, rèn luyện thiền đạo.

Một hôm lúc ngọ trai, không ngờ Đại Tông Sư Dược Sơn Duy Nghiễm là người chỉ đạo trăm ngàn thiền tăng tu tập lại đích thân đánh trống độ trai ( ăn cơm trưa). Thấy tình cảnh đó, tuy rất nhiều người hiểu rõ sư phụ đưa ra thiền ý lớn, nhưng lại không thể đối đáp. Họ đứng ngay ngắn bên ngoài nhà ăn, tiến thối lưỡng nan, không biết như thế nào mới phải. Sa di Cao đi đến, nhìn thấy sư phụ đánh trống, bèn tiện tay đưa bát cơm lên, co một chân nhảy lò cò, ông theo tiếng trống của sư phụ, vừa nhảy vừa đi vào trai đường. Đại sư Dược Sơn hiểu ý cười, rồi ném dùi trống xuống, ngớ ngẩn hỏi: “Là hòa thứ mấy?”

Sa di Cao đáp: “Hòa lần thứ hai.”

Đại sư Dược Sơn lại hỏi: “Thế nào là hòa lần thứ nhất?”

Hòa lần thứ nhất, là cảnh giới tuyệt đối của thiền, há có thể dùng ngôn ngữ trả lời sao!

Thế rồi, Sa di Cao múc một vá cơm trong thùng, đi ra trai đường - đói liền ăn cơm, mệt ngủ liền, chính là thiền yếu tự nhiên nhất.

Một hôm, Sa di Cao đi đến phương trượng cáo biệt sư phụ Dược Sơn. Đại sư Dược Sơn hỏi ông đi đến nơi nào?

Sa di Cao thưa: “Con chân tay chậm chạp, ở đây, lúc kinh hành (đi tản bộ trong lúc ngồi thiền) sẽ trở ngại cho đại chúng, không thể xuống ruộng lao động là liên lụy đến đại chúng. Cho nên, con thà đến bên đường dưới núi dựng một am cỏ, tiếp đãi nước trà cho những thiền khách qua lại, lên xuống trên núi.”

Dược Sơn sợ sự chứng ngộ của Sa di còn chưa hoàn toàn bước lên thật địa, nên khảo nghiệm thêm: “Việc lớn sanh tử, vì sao ngươi không đi thọ giới?”

Sa di Cao trả lời rất khí khái: “Biết được tự tánh này là xong rồi, còn gọi thọ giới gì nữa?”

Giới luật, tác dụng của nó là ngăn ngừa điều sai quấy. Người đã khai ngộ, trí tuệ thông suốt trời đất, mắt pháp nhìn suốt ba đời, tất cả hành vi cử chỉ đều sẽ tuân theo sự thật chắc chắn trong vũ trụ nhân sinh một cách tự nhiên như vậy, không cho cái gốc đi ngược với nhân duyên, lúc đó còn đi thọ giới thì có tác dụng gì?

Đại sư Dược Sơn Duy Nghiễm biết chân của Sa di đã thật sự chạm thật địa, nên dặn dò rất tha thiết: “Ngươi đã rõ đạo lý như vậy, đừng rời ta xa quá, ta cần gặp ngươi thường xuyên.” Sa di rời chùa, dựng một am cỏ trên đường rẽ xuống núi, làm một bếp trà, tùy duyên tiếp đãi người đi đường. Một thời gian sau, ông lên núi thăm sư phụ, giữa đường bỗng nhiên gặp trời mưa to, ông bị ướt như chuột lột. Dược Sơn thấy đồ đệ yêu quí của mình đến, vui vẻ nói: “Ngươi đến rồi.”

Sa di Cao đáp lại một tiếng dạ, rồi chào hỏi hai sư huynh Đạo Ngô và Vân Nham, đứng chung với họ, cùng hầu hạ hai bên sư phụ. Đại sư Dược Sơn Duy Nghiễm đột nhiên cơ phong sắc hỏi Sa di Cao: “bị ướt sao?”

Xem ra Đại sư Dược Sơn đang nói áo quàng của Sa di Cao ướt hết, nhưng thực ra Ngài đang hỏi thăm “cái kia” - tự tánh phải chăng cũng thấm ướt - bị cảnh duyên bên ngoài làm ô nhiễm, thay đổi theo cảnh bên ngoài.

Sa di Cao trả lời rằng: “Không đánh cái trống địch này.”

Thiền sư Vân Nham cũng có cảm hứng về Thiền, liền nói: “Da cũng không, đánh trống gì?”

Đại sư huynh Đạo Ngô làm sao chịu bỏ qua thiền cơ quí hóa này; đem cơ phong như điện chớp xán lạn đánh lại càng đẹp hơn: “Trống cũng không, đánh da gì?”

Đại sư Dược Sơn Duy Nghiễm tâm hoa nở rộ, vô cùng vui mừng, nói: “Hôm nay, có một làn điệu hay quá!”

Phong thái của thiền giả, hứng thú của thầy trò, đa dạng của cơ phong, hoạt bát của tòng lâm, từ đây có thể thấy một dấu chấm mới.

Liên quan đến thiền cơ: Thuyết giới

Phật giáo vốn dĩ không có giới luật, theo sự thành lập, phát triển, bành trướng của Tăng Đoàn mà cá rồng lẫn lộn, phàm thánh ở chung, mà có một số còn chưa ngộ pháp đắc đạo, tập khí chưa sửa đổi được, làm ra những việc trái ngược với thanh tịnh và tu hành thanh tịnh. Thế là, để ngăn ngừa và cấm chỉ những việc ác, đạo Phật đã tùy lúc, tùy nơi, tùy người, tùy việc, dần dần ban bố nhiều điều giới luật.

Đức Phật ở giữa hai cây Sa La ngoài thành Câu Thi La, quay đầu về phía Bắc, mặt hướng về phía Tây, nằm nghiêng bên phải, chuẩn bị nhập Niết Bàn. Lúc đó, thị giả A Nan đại diện cho toàn thể Tăng chúng thưa hỏi: “Lúc Đức Phật còn ở đời, chúng con lấy Phật làm Thầy. Sau khi đức Phật nhập Niết Bàn, chúng con lấy ai làm Thầy?”

“Lấy giới làm Thầy.”

Đức Phật dạy, sau đó Ngài ngồi dậy với thanh âm trang trọng Ngài dạy tất cả mọi người: “Này các Tỳ kheo, sau khi ta nhập Niết Bàn, các ngươi phải tôn trọng giới luật như người trong đêm tối gặp đèn, như người nghèo được của báu. Bởi vì, giới luật chính là Thầy của các ngươi, giống như khi ta còn sống vậy. Giới luật là căn bản của sự giải thoát; giới luật, có thể sanh ra các loại thiền định, dẫn đến phát sanh trí tuệ giác ngộ. Này các Tỳ kheo, các ngươi nên giữ gìn giới luật một cách nghiêm khắc, chớ nên trái phạm. Chỉ cần giới luật còn trì giữ thì thiện pháp sẽ tự sanh; nếu như không giữ giới luật tức không thể sanh ra các công đức thiện: Vì thế, các ngươi nên rõ, giới, là công đức bậc nhất!”

Lấy giới làm Thầy, là lời di giáo của đức Phật.

Thế nhưng, trong lịch sử, có rất nhiều người lấy đấy làm lý do, khư khư bảo thủ, nói: “Giới Phật đã chế, không thể sửa đổi; giới Phật chưa chế không thể tăng thêm.” Những kiểu như thế, càng làm xuyên tạc bản hoài chế giới ban đầu của Đức Phật.

Lúc mới thành lập Tăng đoàn, để khuyến khích các Tỳ kheo giữ gìn cuộc sống thanh bần, đam bạc, chuyên tâm tu tập, Đức Phật đã quy định mỗi người chỉ có thể có một bộ y Ca Sa (bao gồm 3 chiếc: Ngũ y - y dùng thường ngày, Thất y - trang phục trong khóa tụng, Cửu y - trang phục đi ra ngoài). Một hôm, đức Phật bảo đại đệ tử ANa Luật đến một địa phương tìm hiểu tình hình tu tập của Tăng nhân ở đó. Thế mà ANa Luật một mực từ chối không chút do dự. Đức Phật biết trong số 10 vị đệ tử lớn của mình, ANa Luật là người trì giới nghiêm cẩn được coi là số một về truyền giới, sở dĩ ông ta từ chối mạng lệnh của mình, chắc chắn là có nguyên do. Đức Phật hỏi ông vì sao vậy? A Na Luật thưa: “Hiện nay là mùa mưa, thời tiết biến đổi thất thường giữa đường thường gặp mưa ướt. Con chỉ có một bộ Ca Sa, mưa ướt rồi không có y phục khô để thay. Mà y áo ướt sũng mặc trên người, không những rất khó chịu mà còn dễ dàng bị cảm lạnh. Ngài muốn con đến nơi xa xôi xem xét, đi về phải mất mấy ngày đường. Con sợ mưa ướt sinh bệnh, cho nên không muốn đi.”

Đức Phật cảm thấy A Na Luật nói rất có lý, liền quyết định: “Từ nay về sau, mỗi Tỳ kheo có thể có hai bộ y Ca Sa, dùng để thay đổi.

Chính vì Đức Phật sửa đổi giới luật một cách linh hoạt, thiện xảo như vậy mà làm cho giới luật càng thêm hợp lý, càng thêm phù hợp với tình hình mới. Vì mục đích của giới luật là để cho việc tu hành tốt hơn, giác ngộ nhanh hơn, không thể biến nó thành giáo điều đã thành lập là không thể sửa đổi.

Vì thế Sa di Cao sau khi khai ngộ, không đi thọ giới nữa - căn bản ông không phạm giới nữa, hà tất phải chạy theo hình thức?

Chính vì bắt nguồn từ tinh thần này, Phật giáo sau khi truyền vào Trung Quốc, các Tổ sư căn cứ trên tình hình Trung Quốc, sửa đổi một số giới luật tương ứng. Đặc biệt là sự thành lập “Bách Trượng Thanh Qui” của Đại sư Bách Trượng Hoài Hải, không những là tiêu chí để Trung Quốc hóa Phật giáo Ấn Độ, mà còn đặt cơ sở vững chắc cho bão táp đột tiến của Thiền Tông sau này.

Có một người thưa với Đức Phật rằng: “Con rất muốn xuất gia, nhưng nghe nói Tỳ kheo phải tuân giữ 250 điều giới luật (giới luật của Tỳ kheo Ni càng nhiều hơn, đến 348 giới), nhớ thì không nhớ được, sợ rằng bản thân không cẩn thận sẽ phạm giới, cho nên…”

Đức Phật bảo: “Nếu như ông thật sự muốn xuất gia, thì điều kiện rất đơn giản, không cần phí công để nhớ 250 điều giới luật kia, mà chỉ cần giữ 3 điều là được rồi.”

Người kia vô cùng vui sướng, vội hỏi ba điều đó là gì? Đức Phật bảo: “Thứ nhất, thân không làm điều xấu, hai là miệng không nói lời xấu, ba là tâm không nghĩ điều ác.”

Người kia nghe rồi cảm thấy chỉ giản đơn vậy sao! Liền vui vẻ xuất gia.

250 điều giới luật, thực ra nói chung chỉ là sự chia nhỏ của ba điều này mà thôi. Chỉ cần thân hành động đoan nghiêm, lời nói tốt đẹp, tâm ý chánh niệm, thì sẽ không trái với các giới luật khác.

Ba điều này còn có thể đơn giản hóa thành một câu nói: Chớ làm các điều ác. Nếu thêm một câu khác nữa thì đó là: Làm các việc lành, bạn chính là một vị đại Bồ Tát rồi.

Chớ làm các điều ác

Gắng làm các việc lành

Giữ tâm ý trong sạch

Đó là lời Phật dạy.

TẮC THỨ 22 : KHÔNG AI BIẾT ÔNG TA

Thiền sư Chí Nguyên Viên Tịnh ở núi Vân Cái Đàm Châu là pháp tôn của Thiền sư Đạo Ngô Tông Trí, người kế thừa pháp của Thiền sư Thạch Sương Khánh Gia. Sau khi ông xuất gia thọ giới, bắt đầu cuộc sống Vân Du.

Thiền môn qua lại chốn núi xanh,

Núi ngàn dặm cao cao chót vót.

Lúc nào cùng đến thiên thai nhỉ,

Thân như mây nổi vui khắp nơi.

(thiền môn lai vãng thúy vi gian,

Vạn lí thiên phong tại diệm sơn.

Hà thời cộng đáo thiên thai lí,

Thân tại phù vân xứ xứ nhàn.) (Đường, Lưu Trường Khanh)

Thiền sư Vân Cái Chí Nguyên thật giống như đám mây nổi trôi tự do tự tại, từ Triết Giang trôi đến Vi Châu, rồi từ Vi Châu nhởn nhơ trôi nổi đến núi Vân Cư ở Giang Tây.

Núi Vân Cư, ở phía nam ngọn núi Khuông Lô, phía đông cái hồ lớn ở Phàn Dương, núi non trùng điệp. Chu vi ngang dọc 300 dặm; núi non muôn vẻ, cao to sừng sững vút tận tầng xanh. Càng thần kỳ hơn đó là sau khi bạn leo lên đỉnh núi, mở ra trước mắt bạn một cánh đồng bằng phẳng bao la bát ngát, mà bốn bề đều có núi bao quanh, thiên nhiên tạo nên một thành quách bằng núi cao. Ở đây, tùng trúc gọi gió, ruộng vườn mục ca, mây trắng vỗ vào mặt, điện vũ nguy nga. Núi Vân Cư trên trời, núi ở trên trời mây; trên núi lại có núi, núi ở trên đỉnh cao. Thảo nào mấy trăm năm sau nữa, đến đời nhà Tống, khi Cư Sĩ Đông Pha đến núi Vân Cư thăm Thiền sư Phật Ấn, kinh ngạc mà rằng:

Bước từng bước đến cửa Triệu Châu,

Trên núi quái lạ lại có núi,

Một vùng mấy núi chọc trời xanh,

Mấy tiếng trống chuông lạc nhân thế.

Thác hoa mây tuyết thấm mắt Tăng,

Hang đá tháng năm ngời nhan Phật,

Muốn tâm sự cùng mây trắng,

Róc rách dưới cầu khe nước xanh.

(Nhất hành hành đáo Triệu Châu quan, quái để sơn đầu cánh hữu sơn. Nhất phiến lâu đài tủng thiên thượng, sổ thanh chung cổ lạc nhân gian.

Bạo hoa phi tuyết tẩm tăng nhãn, nham huyệt lưu quang ánh Phật nhan. Dục dữ bạch vân luận tâm sự, bích khê kiều hạ thủy sàn sàn.)

Đương thời, người trú trì trên núi Vân Cư là Tổ sư Đạo Ưng, một vị cao Tăng của Tông Tào Động. Thiền sư Chí Nguyên đến phương trượng, chưa kịp lễ bái liền vội vàng hỏi: “Chí Nguyên con bôn ba khắp nơi, nhưng tự tánh lại không sáng được. Con nay đã hết cách rồi, xin hỏi, ngay lúc này, con nên làm như thế nào?”

Vân Cư Đạo Ưng nói: “Chỉ vì công lực của ngươi chưa được.”

Thiền sư Chí Nguyên cho rằng câu trả lời của Tổ sư Vân Cư không hợp với ý của mình, quay người ra khỏi phương trượng, nghênh ngang mà đi. Ông trèo đèo lội suối tiếp tục đi thẳng lên phía Tây, đến núi Thạch Sương ở Lưu Dương Hồ Nam, đến thăm Đại sư Thạch Sương Khánh Gia, ông xông thẳng vào phương trượng, cũng như lúc ở núi Vân Cư không lễ bái liền hỏi: “Lúc Chí Nguyên không biết làm sao nữa thì thế nào?”

Thạch Sương Khánh Gia nói: “Không những ngươi đối với nó (tự tánh) không biết làm sao nữa mà lão Tăng ta đây cũng không biết làm sao đối với nó nữa!”

Chí Nguyên kinh ngạc chút nữa thì nhảy cẫng lên, nghi ngờ hỏi: “Thưa Đại Hòa Thượng, Ngài là một vị Đại Tông Sư thiên hạ đều ngưỡng mộ kính trọng, đạt được tâm ấn của chư Phật, tại sao lại không biết làm sao nữa?”

Đại sư Thạch Sương Khánh Gia cười nói: “Điều này có gì lạ đâu? Nếu lão Tăng có thể làm sao, có thể nắm bắt được nó, vậy thì, chẳng phải chính ta có thể trừ bỏ được cái không biết làm thế nào của ông sao?”

Chí Nguyên nghe đạo lý này, bèn cúi thấp cái đầu quật cường của mình xuống, cung kính làm lễ tham bái. Từ đó về sau ông quyết định ở lại núi Thạch Sương theo Đại sư Khánh Gia tham thiền.

Thời gian dần trôi, lá xanh trên núi Thạch Sương dầu sương dãi gió từ xanh trởi thành vàng, giống như những ngọn đuốc cháy sáng rừng rực, khắp vùng núi đồi ánh lên một màu hồng thật hồng. Thiền sư Chí Nguyên đang ngày đêm tham học bên cạnh Sư phu, công phu tu hành tiến bộ nhanh. Việc tham thiền này cũng giống như trong miệng ngậm cuốc sắt, lúc mới bắt đầu, không nếm ra mùi vị (nghi tình không phát ra được), buồn tẻ chứ chẳng hứng thú gì; đến khi vào được cửa, nếm được một ít mùi vị, lại cắn cắn không được, nhai lại nhai không ra, nuốt lại nuốt không xuống, nhả lại nhả không ra… trong đó có mùi vị tiến thoái lưỡng nan, do dự hàng hoàng, lên không được mà xuống cũng không xong, sống chẳng ra sống chết chẳng ra chết, muốn khó khó bao nhiêu có khó bấy nhiêu! Chính Thiền sư Chí Nguyên đang ở trong giai đoạn này.

Tại núi Thạch Sương, từng có một công án như thế này:

Có một vị tăng hỏi Đại sư Thạch Sương Khánh Gia: “Nhà nhà đều đóng thì không hỏi, lúc nhà nhà đều mở làm thế nào?

Nguyên ý của vị Tăng này là muốn nói, thể của tự tánh tạm thời không hỏi, lúc có các loại tác dụng của tự tánh hiển hiện làm sao lãnh hội?” Thạch Sương Khánh Gia lại ngược đường mà đi nên nói: “Dụng của tự tánh thời không hỏi, thể của tự tánh làm sao?”

Vị Tăng mờ mịt không đáp được. Trải qua hơn nửa năm khổ công tham cứu, một hôm, cuối cùng ông cũng ngộ ra câu chuyển ngữ này, nên nói: “Không ai tiếp được nó (tự tánh).”

Thiền sư Thạch Sương vỗ tay bảo: “Ông trả lời rất đúng, không uổng công ông đã hạ thủ công phu. Nhưng ông vẫn còn chỉ mới nói ra được bát thành.”

Vị Tăng này tham thiền đến nỗi tâm linh vô cùng nhạy bén, ông lập tức nắm bắt được thiền cơ từ trong lời nói của Sư Phụ, vội vàng truy hỏi: “Thưa Đại Hòa Thượng, Ngài vẫn nói như thế sao?”

Đại sư Thạch Sương trả lời: “Không ai biết được nó.”

Vị Tăng này rỗng rang đại ngộ!

Thiền sư Chí Nguyên sau khi nghe được công án này, trong tâm cảm nhận được một tiếng kêu gọi vô hình, ông vội vàng tìm kiếm hình bóng Sư phụ khắp nơi. Sau khi ông gặp được Sư Phụ Thạch Sương ở trong sân chẳng kể ha bảy hai mươi mốt gì cả nhảy ùm “một cái”, quỳ xuống đất, đảnh lễ ba vái, khẩn cầu Sư Phụ khai thị lại công án “không ai biết được nó” cho mình. Không ngờ, Thạch Sương lắc đầu, kim khẩu không chịu mở lời nữa. Thiền sư Chí Nguyên bước lên ôm lấy Đại sư Thạch Sương, cứ ôm Sư Phụ đi đến phương trượng, đặt lên pháp tòa trang nghiêm, mà thưa: “Thưa Đại Hòa Thượng, hôm nay nếu ngài không khai thị thiền yếu cho con, con sẽ đánh ngài!”

Đại sư Thạch Sương gật gật đầu nói: “Có thể.”

Thiền sư Chí Nguyên thấy Sư Phụ nhận lời, vô cùng phấn khởi. Ông cho rằng Đại sư Thạch Sương nhất định sẽ chỉ dạy Phật pháp kỳ diệu nhất cho mình, liền lễ bái không thôi.

Không ngờ, Đại sư Thạch Sương vẫn nói như cũ: “Không ai biết được nó.”

Theo bản năng Thiền sư Chí Nguyên giật mình, lập tức tỉnh ngộ ngay trong câu nói đó. Không phải sao, tự tánh không hình không tướng, người nào có thể bắt được nó? Tuy không ai biết được nó, nhưng trong mỗi thời mỗi khắc đều phát sanh tác dụng trên thân thể chúng ta, chúng ta có thể lãnh hội được sự tồn tại của nó một cách rõ ràng!

Có một bài dân ca hát rằng: “Sông Lưu Dương lượn quanh chín khúc, chảy qua chín mươi dặm ra đến sông Tương.”

Sau khi khai ngộ, Thiền sư Chí Nguyên xuôi theo sông Lưu Dương mà đi, lại men theo sông Tương đến núi Vân Cái gần Đàm Châu, trú trì hoằng truyền chánh pháp, người đời tôn xưng là “Vân Cái Chí Nguyên”.

Có Thiền Tăng hỏi: “Thế nào là Phật?”

Thiền sư Chí Nguyên chỉ tượng đúc của Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni trong đại điện nói: “Chính là người mặt vàng này.”

Thiền Tăng lại hỏi: “Thế nào là Pháp?”

Thiền sư Chí Nguyên vẫn chỉ tượng Phật nói như cũ: “Chính là cất dấu ở trong này.”

Thiền Tăng hỏi câu thứ ba: “Khi Phật Nhiên Đăng xưa chưa ra đời thì như thế nào?”

Phật Nhiên Đăng xưa là Đức Phật đã thọ ký cho Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, nếu như ngài chưa từng xuất thế, Phật Thích Ca Mâu Ni làm sao thành Phật? Vì thế, Thiền sư Chí Nguyên trả lời: “Mê muội chưa mở.”

Thiền Tăng lại hỏi: “Thế nào là Tăng?”

Thiền sư Chí Nguyên trả lời thẳng thừng dứt khoát: “Vân du tham thiền, cầu học Phật pháp.”

Đương thời, cuối đời nhà Đường, chính quyền trung ương yếu dần, các địa phương trở thành trạng thái nửa độc lập. Một viên quan địa phương họ Mã thống trị ở Đàm Châu cũng tự xưng vương.

Nước sắp mất, họa hoạn dẩy đầy, ngay cửa Phật cũng chịu nhiều nhiễu nhương - Đạo giáo gần Đàm Châu thịnh hành, các tín đồ thường đến chùa Phật giáo gây rối. Chánh Đạo (đạo sĩ chủ quản phụ trách quản lý của cải tài sản đạo giáo trong bản địa của mỗi châu) Đàm Châu càng điên cuồng ngang ngược tột độ, Thượng Thư Mã Vương muốn công khai bàn luận với Thiền sư Chí Nguyên để định đoạt Phật giáo và Đạo giáo ai ưu ai liệt. Mã Vương mời Thiền sư Chí Nguyên đến Đại Vương Cung gặp gỡ với Đạo Chánh. Uống trà xong, Thiền sư Chí Nguyên đứng dậy chấp tay chào hỏi Mã Vương, thỉnh cầu mã Vương cho mượn thanh bảo kiếm của ông ta. Thanh kiếm báu Long Tuyền của Mã Vương này thuộc binh khí rất cổ, gọt sắt như bùn, thổi lông liền đứt! Mã Vương không biết ý Thiền sư Chí Nguyên muốn làm gì, nhưng vẫn lấy thanh kiếm đeo ở đai lưng ra. Thiền sư Chí Nguyên đứng chính giữa đại điện, dương mày tuốt kiếm ra khỏi bao, soạt một tiếng bảo kiếm sắc lạnh được tuốt ra; đưa cao quá đầu. Quả là binh thần kiếm sắc, mũi kiếm lộ ra hết, sát khí ghê rợn, khiến cho người ta không dám nhìn thẳng.

Vân Cái Chí Nguyên lấy kiếm sắc chỉ Đạo Chánh, hét lên hỏi: “Tổ sư Đạo Giáo của các ngươi nói: ‘mờ mờ mịt mịt, trong đó có vật’ là vật gì? Lại nói: ‘Tối tăm mờ mịt, trong đó có tinh’ là tinh gì? Nói! Ông nói được thì không chém, nói không được thì chém!”

Đối mặt với kiếm bén có thể nhiếp phục hồn phách, còn có sự cơ phong bức người mạnh mẽ kia trong đầu Đạo Chánh mờ mịt.

Thiền sư Chí Nguyên lại hét lần nữa: “Nói, nói mau!”

Kỳ thật, Thiền sư Chí Nguyên hoàn toàn không phải làm khó cho ông ta, mà là đang dẫn dắt ông ta. Có rất nhiều người, chính ở ngay trong tình huống bị bức bách đến con đường cùng này, hoát nhiên ngộ đạo! Nhưng mà, Đạo Chánh chỉ thấy bảo kiếm nguy hiểm sắp đến đầu, không thấy thiền cơ sắp mở, hai chân mềm nhũn, quỳ xuống đất, dập đầu như gà mổ thóc, không ngừng lễ bái sám hối Thiền sư Chí Nguyên.

Thiền sư Chí Nguyên quay qua Mã Vương, nói: “Đại Vương vẫn biết người này chứ?”

Mã Vương nói đương nhiên biết.

Thiền sư Chí Nguyên hỏi: “Ông ta là ai?”

Mã Vương trả lời: “Chánh Đạo.”

Thiền sư Chí Nguyên cười nói: “Ông ta không phải Chánh Đạo. Đạo ông ta nếu chánh thì phải trả lời câu hỏi của sơn tăng. Chẳng qua ông ta chỉ là một cô hồn vất vưởng không biết mặt mũi xưa nay của mình, không hiểu rõ được tự tánh, chưa lãnh hội được đại đạo của nhân sanh vũ trụ mà thôi!”

Liên quan đến thiền cơ: Cơ Phong Lẫm Liệt Như Anh Kiếm.

Thiền sư khai ngộ, chân lý ở trong đầu, giống như bảo kiếm trong tay, sự nhạy bén của nó như luồng dao ánh kiếm, so tài với nó nếu chỉ do dự một chút, liền “táng thân mất mạng” biến thành “cô hồn quỉ hoang”.

Sư huynh của Thiền sư Vân Cái Chí Nguyên - Thiền sư Dũng Tuyền Cảnh Hân, là một người nắm rõ bảo kiếm Thái A. Một hôm, ông không khoác y Ca Sa đi đến trai đường ăn cơm, một vị Thiền Tăng mượn cớ đấu cơ cùng ông, nên nói: “Tăng nhân không mặc Ca Sa, há chẳng phải trở thanh người tục sao?”

Đúng thế, người trọc đầu hoàn toàn không phải đều là Hòa Thượng. Tăng, tượng trưng cho tâm linh thanh tịnh, dù cho không mặc Ca Sa cũng có thể đạt được tâm địa trong sáng thanh tịnh. Thiền sư Cảnh Hân có một người bạn trung thành - một con trâu. Cày ruộng trồng lúa, ông và nó đều lao động cùng nhau. Lúc nhàn rỗi, ông liền cưỡi trên lưng trâu, mặc cho nó chậm rãi mà đi. Một hôm, Thiền sư Dũng Tuyền Cảnh Hân lại cưỡi trâu ra khỏi chùa, nhởn nhơ an nhàn nơi sông núi hoang vắng. Đúng lúc trên con đường nhỏ vắng vẻ giữa núi, có hai vị thiền khách Cường, Đức đi đến. Hai người họ nhìn thấy trâu, cũng nhìn thấy người cưỡi trâu là một lão Hòa Thượng, thế là phấn chấn tinh thần, nói: “Một con trâu đực khá lắm, móng chân rõ ràng, đáng tiếc, người cưỡi lại không biết.”

Từ khi Mã Tổ khai sáng tòng lâm, trâu và thiền liền có quan hệ chặt chẽ không tách rời. Hai vị thiền khách này, bèn lấy trâu làm khế cơ, công nhiên khiêu chiến. Thiền sư Dũng Tuyền Cảnh Hân nhìn mà không thấy, lắng mà chẳng nghe sát cánh đi ngang qua họ.

Hai vị thiền khách này không được vui, nhìn người và trâu đã đi xa cười phóng túng. Có lẽ cười đã khô cổ, hai người bèn đi đến bóng cây bên đường lượm củi nấu trà.

Nước trà chưa sôi, trong núi vắng truyền lại một tiếng trâu hống: Bò ---

Tiếng trâu hống giống như một sợi tơ trong suốt buộc trên cây, lại kéo vị lão Hòa Thượng cùng con trâu ông cưỡi quay trở lại. Thiền sư Cảnh Hân trượt từ trên lưng trâu xuống, chắp tay hỏi: “Hai vị thiền khách gần đây đã rời khỏi nơi nào?”

Hai người Cường, Đức đâu ngờ rằng, trong câu hỏi thông thường này lại ẩn chứa cơ phong lớn lao, Cường Đức tùy tiện chỉ chỉ hướng họ vừa đi đến, nói “bên kia.”

Thiền sư Cảnh Hân hỏi đầy thiện ý: “Cái bên kia như thế nào?”

“Bên này”, “bên kia” tượng trưng cho mê và ngộ. Cảnh giới của hai người làm sao có thể bàn luận, lại làm sao có thể nói cho rõ được? Thiền khách Cường biết đã gặp phải đối thủ mạnh mẽ, bèn bưng chén trà lên - ông muốn lấy đó để biểu thị ý nghĩa, trong cảnh giới của thiền, bên này và bên kia đều như nhau. Cảnh Hân không chấp nhận, nói: “ Nếu đây là cái bên này, vậy thì cái bên kia như thế nào?”

Đây mới gọi là bưng đá nện lên chân mình, ai bảo đầu tiên bạn phân ra bên này và bên kia ngón chân trâu và móng chân trâu? Thiền khách Cường không thể đối đáp, Thiền khách Đức cũng khó mà mở lời, hai người mở miệng dính lưỡi, liếc nhìn lẫn nhau.

“Chớ nói người cưỡi không thấy biết”.

Thiền sư Cảnh Hân cười nói, ông lại nhàn nhã bước lên lưng trâu, tự do tự tại ngâm tiểu khúc rồi đi xa, không nhìn thấy nữa, tựa hồ như lẫn vào trong núi đồi xa xa.

Trên núi Phú Thuyền ở Phúc Châu có một vị Thiền sư Hồng Tiến. Ông cũng là một cây dao bén do Thiền sư Thạch Sương Khánh Gia chuyên tâm tôi luyện ra, sự bén nhạy của ông như ánh chớp, không hề thua kém hai vị sư huynh Vân Cái Chí Nguyên và Dũng Tuyền Cảnh Hân. Có một vị thiền tăng hỏi: “Sư tử là gì?”

Thiền sư Phú Thuyền Hồng Tiến trả lời: “Giỏi gào thét.”

Gọi là sư tử, là nói tăng nhân đã khai ngộ giống như gọi sư tử là vua trong các loài thú, họ giảng kinh thuyết pháp giống như tiếng sư tử hống nơi hoang dã, oai lực vô cùng, muôn thú đều thuần phục.

Thiền Tăng nghe xong câu trả lời của Phú Thuyền Hồng Tiến, vỗ tay khen ngợi: “Cừ khôi! Cừ khôi!”

Thiền sư Phú Thuyền lại không chịu thấy tốt thì nhận, mà lại đem thiền cơ bản đẩy cao lên một bậc nữa: “giữa thanh thiên bạch nhật sao ông lại để cho ma dụ?”

Thiền Tăng là một người thông minh, bước lên một bước, hất thiền sàng của Thiền sư Phú Thuyền. Thiền sư Phú Thuyền cũng không khách khí, đưa Thiền trượng lên đánh xuống, Thiền Tăng bước lui một bước, chỉ Thiền sư Phú Thuyền nói: “Việc lừa chưa đi, việc ngựa đã đến.” Ý của ông là, tôi cố ý bày tư thế thiền sàng ra, chứ không phải rảnh rỗi kiếm chuyện, mà Ngài lại cầm thiền trượng đánh người, cũng là thừa một việc rồi!

Thiền sư Phú Thuyền đưa ngón tay cái lên, dường như khen ngợi: “Nóng bỏng, thật cừ!”

Câu nói “chẳng mang ý tốt” này ngoài mặt thì ông khen ngợi thiền tăng là một người giàu sức sáng tạo, thấu ngộ thiền cơ, nhưng mà, tâm thiền, vì nó không chấp trước thứ gì, mới có thể mãi mãi linh động sáng trong, chiếu khắp trời đất không sót nơi nào. Quả nhiên, vị Tăng kia phẩy áo mà đi. Thiền sư Phú Thuyền tổng kết rằng: “Muốn đem nước đựng trong bình chậu so sánh với đại dương.”

Có vị Tăng vân du từ núi Đạo Ngô đến. Núi Đạo Ngô là Tổ sư của Thiền sư Phú Thuyền - đạo Tràng của Đại sư Tông Trí. Tăng vân du hỏi: “Đã rất lâu con hướng về núi Đạo Ngô, thưa Hòa Thượng Ngài hiểu thiền phải không?”

Thiền sư Phú Thuyền giống như bị oan uổng gì, ngửa mặt lên trời la lớn: “Trời ơi! Trời ơi!”

Tăng vân du bước lên một bước gần hơn, lấy tay che miệng Thiền sư lại, trách rằng: “Nhỏ miệng thôi! Nhỏ miệng thôi!”

Thiền sư Phú Thiền đưa tay tát Tăng vân du một cái, Tăng vân du liền kêu oan: “Trời ơi! Trời ơi!”.

Thiền sư Phú Thiền nắm chặt vị Tăng kia nói: “Tại sao ngươi có thể vô lễ như vậy?”

Vị Tăng kia lại càng vô lễ hơn, đánh lại Thiền sư Phú Thuyền một tát tai. Phú Thuyền nói: : “lỗi của lão tăng!”

Tăng vân du phẩy áo mà đi. Phú Thuyền cười ha hả, nói: “Sớm biết như vậy, không đến tham kiến cũng vậy thôi.”

Lúc Thiền sư Phú Thuyền Hồng Tiến sắp qua đời, thè lưỡi ra bảo mọi người xem. Một vị đệ tử thượng thủ của ngài nói: “Các vị, cuống lưỡi của Hòa thượng cứng rồi.”

Thiền sư Phú Thuyền nói: “Khổ, đúng như ông ta đã nói, hiện tại cuống lưỡi đã cứng rồi.” Nói xong, ngài thảnh thơi ra đi.

TẮC THỨ 23: TRÚC DÀY KHÔNG NGĂN NƯỚC CHẢY QUA

Thiền sư Vĩnh An Thiện Tĩnh, quê ở Kim Thành - Trường An, ngài họ Vương. Phụ thân của ngài là Vương Lãng, văn võ toàn tài từng nhận chức Thứ Sử ở Uy Châu. Vì thế, gia học của ngài có nguồn gốc lâu đời, gốc sâu nhánh vững. Từ nhỏ ngài đã học văn luyện võ, văn của ngài bác thông mọi thể loại, Tứ Thư Ngũ kinh thuộc lòng trong đầu. Thi từ ca phú đều xuất khẩu thành văn; võ của ngài thì đao, thương, kiếm, kích, không thứ gì mà không biết, bày binh bố trận đều rất giỏi. Ngài tuổi còn trẻ mà đã đạt được tiếng tăm hiển hách văn võ toàn tài ở kinh thành Trường An. Tài hoa của ngài đã đến tai Chưởng thư ký (tương đương với quân sư tiết độ sứ) tiết độ sứ đại nhân, ra sức tiến cử ngài vào Cấm vệ quân hoàng gia- nhậm chức Thần sách quân.

Thiếu niên giỏi thư kiếm

Rong ruổi vui dạo chơi

Liên miên trên ngựa trắng

Uốn cung dài xạ điêu

Thần sách quân là đội quân tinh nhuệ nhất của vương triều nhà Đường, mà Thiện Tĩnh lại nhờ tài năng xuất chúng nên được thống soái trong quân trọng dụng, có thể nói là thiếu niên đắc chí, mặt mày hớn hở. Thiếu niên Lãng oai phong anh tuấn, giang sơn vạn dặm nhận chỉ điểm, vốn dĩ, Thần Sách quân là đội quân bảo vệ an toàn cho Hoàng đế, nhưng, đến cuối đời nhà Đường, các hoàng đế ngày càng suy yếu lại luôn phải nghe theo sự chỉ huy của thống soái Thần Sách quân, thậm chí tiền đồ và tính mạng của các vương tử hậu phi kia đều nằm trong tay của các thống lĩnh cấm quân. Không phải sao, có đến mấy Hoàng đế lên ngôi đều là những người do họ ủng hộ lập nên! Càng có nhiều thành viên trong Hoàng thất mai một một cách mơ hồ ít thấy, chết cũng không rõ ràng minh bạch! Vì thế, các quan quân trong thần sách quân lên chức vô cùng nhanh chóng, các thống lĩnh lớn nhỏ lại vô cùng tàn ác. Thiện Tĩnh không hun đúc trong sự say sưa đó, ngược lại từ trong nội tâm sâu thẳm lại cảm nhận được sự mơ hồ sai trái trong ngôi vị.

Thử nghĩ, ngay vận mệnh của đế vương đều là không đoán chắc được như thế, thì tất cả thế gian há không phải đều như mộng huyễn sao? Những gì là quan cao lộc lớn, gì là rạng danh tổ tông, đều là mây khói trước mắt. Thế là, năm ông 27 tuổi, ông đã sớm bắt đầu nảy sinh tư tưởng ẩn dật xuất thế, lặng lẽ vào núi Chung Nam, đảnh lễ Thiền sư Quảng Độ thế phát xuất gia.

Giữa năm Thiên Phúc đời nhà Đường (901 – 904), Thiền sư Thiện Tĩnh bắt đầu vân du xuống Hồ Tương ở phía Nam, tham yết Thiền sư Lạc Phổ Nguyên An. Lạc Phổ từng là thị giả của Đại sư Lâm Tế, cuộc pháp chiến rầm rộ giữa ngài và Thiền sư Đức Sơn Tuyên Giám truyền khắp tòng lâm, cuối cùng Ngài kế thừa y bát của Đại sư Hiệp Sơn. Thiện Tĩnh mến mộ danh tiếng, đi đến núi Lạc Phổ ở Chi Dương Lễ Thủy, một lời liền khế nhập nguồn tâm, trăm sông cũng là một mặt trăng đó. Thiền sư Lạc Phổ Nguyên An nhận ông là đệ tử ruột, ngầm truyền tâm ấn.

Thiền sư Thiện Tĩnh sau khi khai ngộ, chọn một công việc tạp vụ mà không ai chú ý đến nhất - người làm vườn, phụ trách việc trồng rau cho toàn bộ tăng chúng trong chùa.

Một hôm, có một vị Thiền Tăng đến phương trượng cáo biệt Đại sư Lạc Phổ. Đại sư Lạc Phổ hỏi đầy thiền ý: “Bốn bề đều là núi ngươi đi về hướng nào?”

Vị Tăng này mù tịt, không thể đối đáp. Đại sư Lạc Phổ nói: “Hạn cho ngươi 10 ngày, nếu có thể ngộ ra một câu chuyển ngữ khế cơ, thì cho ngươi đi, nếu không…”

Vị Tăng này khổ công suy nghĩ, ăn ngủ không yên, cứ đi loanh quanh lui tới trong chùa. Ông cào gan rút ruột, trầm ngâm suy nghĩ, mơ mơ hồ hồ, như ngây như dại, bất giác đi qua bên cửa hông của chùa, ngẫu nhiên đi vào trong vườn rau. Thiền sư Thiện Tĩnh đang cuốc đất thấy hình dáng ông ta hồn bay phách lạc, buồn bã ủ rũ bèn quan tâm hỏi: “Thượng Tọa, không phải ông đã từ biệt đi rồi hả. Tại sao lại còn ở đây? Mà làm sao lại đến nổi ủ rũ buồn rầu như thế?”

Vị Tăng này liền kể với Thiền sư Thiện Tĩnh chuyện mình từ biệt ra đi và câu hỏi mà Hòa Thượng Lạc Phổ hỏi ông. “Vốn là như vậy”, Thiền sư Thiện Tĩnh than lên một tiếng, vừa muốn tiếp tục cuốc đất, vị Tăng kia giống như người bị chìm dưới nước nhìn thấy cây cỏ thao cuối cùng vậy, ra sức chụp lấy cánh tay của Thiện Tĩnh, kiên quyết xin ông cho mình một chuyển ngữ. Thiện Sư Thiện Tĩnh không biết làm sao nữa, bèn nói: “Vậy thì, ông đến hỏi ta.”

Vị Tăng này bắt chước giọng điệu của Đại sư Lạc Phổ hỏi: “Bốn bề đều là núi, ngươi đi về hướng nào?

Thiền sư Thiện Tĩnh ngước lên trời cười dài rồi với thần thái bay bỗng mà ngâm tụng rằng:

“Trúc dày đâu ngăn nước chảy qua, núi cao đâu vướng mây ngàn bay.”

Hai câu thiền ngữ này rất đẹp, đẹp đến nỗi khiến lòng người run sợ, điều càng đẹp hơn nữa đó là: cảnh giới thiền tự tại giải thoát mà nó biểu đạt ra, biểu hiện cho thái độ sống giải thoát vô trụ của thiền giả.

Vị Tăng này vui mừng nhảy chân sáo, cảm kích đến nỗi vỗ tay dậm chân, vừa reo vừa nhảy. Thiện Sư Thiện Tĩnh dặn dò ông ta: Khi ông lấy câu này ứng đối với đường đầu đại Hòa thượng, không được nói là ta nghĩ giúp ông.”

Vị Tăng gật gật đầu, lập tức đi đến phương trượng, nói với Đại sư Lạc Phổ: “Con đối được chuyển ngữ rồi: Trúc dày đâu ngăn nước chảy qua, núi cao đâu vướng mây ngàn bay.”

Tâm thiền của Thiền sư Lạc Phổ trong như nước sáng như gương, sáng trong không ô nhiễm, rõ ràng không mê muội, trò vặt của vị Tăng này làm sao có thể vượt qua pháp nhãn của ngài được? Ngài hỏi thẳng thừng: “Đây là lời của ai?”

“Đương nhiên là của con nghĩ ra rồi”.

Lạc Phổ cười lớn: “Thiền ngữ vô cùng linh hoạt và đầy sức sống như thế này há có thể trầm tư mặc tưởng mà nằm mơ thấy sao? Cho nên, chắc chắn không phải lời của ông.”

Vị Tăng này thấy dấu không được, bèn thành thật thừa nhận là do người làm vườn dạy.

Đến tối, Đại sư Lạc Phổ lên pháp đường nói với đại chúng: “Các ngươi nhất định chớ xem thường người làm vườn, tương lai, dưới trướng của ông có 500 thiền tăng theo học.”

Một câu của Đại sư Lạc Phổ đã phá tan hành động ẩn náu của Thiện Tĩnh, ông không còn cách gì để tiếp tục yên tĩnh trồng rau được nữa, thiền giả khắp nơi kéo đến như ong, theo ông tìm thiền hỏi đạo. Một hôm nọ, Thiền sư Thiện Tĩnh đạp ánh trăng mông lung lặng lẽ rời Lễ Dương trở về quê cũ Trường An dựng một am tranh dưới núi Vân Cư ở Chung Nam Sơn, ẩn cư tu thiền. Ai ngờ, các thiền Tăng lần theo dấu chân của ngài tìm đến núi, ngài đành phải mở pháp tòa, tiếp dẫn đại chúng.

Chẳng bao lâu, thiền khách vừa Tăng vừa tục nối gót nhau mà đến, dưới núi Vân Cư bỗng nhiên náo nhiệt như phố thị. Số người thường theo bên cạnh Thiền sư Thiện Tĩnh hơn 500 người - quả nhiên như lời huyền kí của Đại sư Lạc Phổ.

Cuối đời Đường, thế sự biến loạn, chiến tranh xảy ra khắp nơi. Thế mà, chính trong những năm tháng đó, các Vương Công ở lại Trường An vẫn xây dựng thiền viện Vĩnh An, cung thỉnh Thiện Tĩnh trú trì, hoằng dương thiền pháp.

Có thiền Tăng hỏi: “Biết sự tồn tại của thiền pháp cũng có sự lãnh hội, nhưng khi nói không được thì làm sao?”

Thiền sư Thiện Tĩnh hỏi: “Biết có cái gì?”

Thiền Tăng nói: “Thiền, không thể không có.”

Thiền sư Thiện Tĩnh cười nói: “Đã là có thì ông nên nói ra đi!”

Thiền Tăng làm khó trả lời: “Nói, cũng không phải là không thể nói, nhưng dù sao đi nữa cũng biểu đạt không hoàn toàn được.”

Thiền sư Thiện Tĩnh nói một câu rất hình tượng: ‘Nước đông cá khó nhảy, núi lạnh hoa nở chậm”, điều thiền Tăng nói là một giai đoạn tham thiền ắt trải qua. Kỳ thực, không chỉ là tham thiền, mà trong chúng sanh chúng ta thường gặp những sự việc dường như đạt được, dường như hiểu được nhưng lại không có cách gì để dùng ngôn ngữ biểu đạt được. Lúc đó, chúng ta cần dũng khí và trí huệ “Cán trăm thước, bước thêm một bước”, dám bỏ, dám vượt qua, mới có thể mở ra một khoảng đất trời mới mẽ.

Một vị đệ tử hỏi Thiền sư Thiện Tĩnh: “Gia phong của Hòa thượng là gì?”

Thiện Tịch trả lời: “ ngựa gỗ cưỡi chiều tà, vào cỏ không tông tích.”

“Sắc là gì?” đệ tử hỏi rất vi diệu

Một sắc là một loại cảnh giới của thiền, vẫn là ý nghĩa thuần nhất, tuyệt đối. Trong rừng thiền mỗi mỗi cảnh giới đều lấy nó để hình dung thế giới bình đẳng (bỏ hết tất cả những ô uế), cảnh giới thanh tịnh siêu việt sai biệt và quan niệm tương đối. Thiền sư ngày xưa thường dùng tuyết trắng tinh, trong sạch, mát mẽ để thuyết minh “nhất sắc biên sự”.

Câu trả lời của Thiện Tĩnh là: Tìm bột trong tuyết dễ, tìm than trong đen khó”.

- Hay thay cho câu “một sắc”.

Đệ tử hỏi câu thứ ba: “Việc hướng thượng của nạp y là gì?”

Khắp trong cửa thiền, tìm cầu nghĩa lý uyên áo, tột bực của Thiền Phật, gọi là “việc hướng thượng”. Nhưng mà cảnh giới giác ngộ chân thực mà tuyệt đối này, vẫn là điều mà xưa nay chư Phật và Tổ sư các đời chưa hề trình bày, mà chỉ đợi thiền giả đích thân tham cứu thể ngộ được nó. Cho nên, Tổ sư nói: “Con đường hướng thượng chư Thánh không truyền lại, người học lao nhọc như khỉ bắt bóng”.

Thiền sư Thiện Tĩnh trả lời rằng: “Rồng cá không ra khỏi biển, trăng trong nước không nuốt ánh sáng.”

Đệ tử lại hỏi: “Không thể dùng trí để biết, khi không thể lấy thức mà biết thì làm thế nào?”

Thiền sư Thiện Tĩnh nói: “Cò hạc chụm đầu đạp tuyết ngủ, trăng sáng kinh động cả hai còn do dự.”

Cảnh giới tuyệt đối thiền nghĩ không tới, bàn không đến, cho nên nói không thể nghĩ bàn. Cũng vậy, thiền cũng không phải là “tri thức” có thể dùng tài trí để có thể nhận thức, lấy kiến thức thông thường để phân biệt.

Một vị đệ tử khác hỏi: “Lúc Ngưu Đầu chưa gặp Tứ Tổ thì thế nào?” Thiện Tĩnh trả lời: Cảnh lạ tùng đẹp, người thấy đều thích.”

“Gặp rồi thì sao?” đệ tử hỏi tiếp: Thiện Tĩnh cười: “ Lá rụng đã lìa cành, gió đến sao hòa âm.”

Trước khi Thiền sư Ngâu Đầu Pháp Dung chưa gặp Tứ Tổ, khỉ thiêng dâng quả, chim lạ ngậm hoa, thần kỳ khác lạ. Thế mà, nhìn từ trên gốc độ thiền, thần tiên có thể tìm được bạn, ma quỉ cũng có thể tìm được bạn. Cảnh giới đẹp cũng là cảnh giới, chỉ cần ở trong cảnh giới, ắt có chướng ngại, thì không thể giải thoát. Ngưu Đầu Pháp Dung dưới sự điểm hóa của Tứ Tổ, nhanh chóng giác ngộ, trở thành một “người bình thường”, cho nên Thiền sư Thiện Tĩnh nói: “Gió đến không hòa âm.”

Có vị Tăng hỏi: “Như thế nào mới được sanh vào nhà Như Lai?”

Thiền sư Thiện Tĩnh nói: “Khoác áo nhìn thấy rõ, bàn luận lại không hiểu.”

Lại hỏi: “Thế nào là không phải ngồi tòa Như Lai?”

Thiền sư Thiện Tĩnh trả lời: “Thạch nữ ôm đầu trở về muộn, trong hội Kỳ Viên mất tông tích.”

Liên quan đến thiền cơ :            Cảnh Giới Thiền

“Trúc dày không ngăn nước chảy qua, núi cao đâu vướng mây ngàn bay.”

Thiền sư Thiện Tĩnh không nghĩ rằng mình ngâm được câu gì lưu danh thiên cổ, mà chỉ là lấy đó để truyền đạt cảnh giới tinh thần riêng có của thiền giả.

Rừng trúc dày đặc, xanh ngắt như biển, tựa hồ như ngay cả gió cũng khó mà xuyên qua; thế mà, nếu bạn là nước chảy róc rách thì bạn có thể suốt thông không trở ngại. Đỉnh núi nguy nga, cao vút trời xanh, chim bay chẳng thể nào đến được, thú chạy khó có thể vượt qua, nhưng từng đám mây trắng lại nhởn nhơ bay qua, núi cao càng cao, nó càng thấy mãn nguyện. Nước chảy rừng trúc, mát mẽ hoạt bát, chảy khắp núi đồi đều là ca hát, núi xanh mây trắng, phóng khoáng linh động, trời xanh muôn dặm mặc sức tự do…

Dung thông vạn cảnh mà không bị trở ngại, âm phát ra ngoài mà ý nghĩa vô cùng -thiền giả nhờ giải thoát mà tâm cảnh tự tại, rộng rãi khoáng đạt linh hoạt kỳ ảo, từ đó có thể thấy được một dấu son.

Cũng như vậy, trúc xanh xanh biếc, đều là Bát Nhã. Gió đến, cành trúc xanh lay động phong tư đẹp đẽ, nhảy múa nhẹ nhàng, phong tình vạn loại, là trúc lao xao, như ngâm như tụng; Gió ngừng, chúng lập tức bình lặng như cũ, không mời không gọi, không đón không đưa, ngay ngắn vững vàng, điềm tĩnh như tranh…

“Gió qua trúc thưa, gió đi mà trúc chẳng giữ lại âm thanh.”- thiền giả nói như vậy. “Việc đến tâm hiện, việc đi tâm theo đó rỗng rang.” - thiền giả làm như vậy. Người sáng lập ra phái Hoàng Long tông Lâm Tế - Hoàng Long Huệ Nam nói: “Đêm đến gió thổi hương thơm đầy sân, thổi rụng dăm ba cây hoa đào.”

Gió thổi vườn đào, ý gió không truyền hương rải hoa; hoa nhiễm hơi gió, hoa không cố ý xúi gió làm say lòng người. Tất cả đều tự nhiên như thế, tùy duyên mà sanh, tùy duyên mà diệt, đẹp đẽ và hài hòa - Con mắt thiền nhìn thế giới, vũ trụ mênh mang, chân lý đâu đâu cũng có, muôn sự muôn vật, khi không có trí tuệ thì không hiển bày.

“Bóng trúc quét bụi bặm trên bậc thang bất động, trăng xuyên đáy hồ nước không in ngấn.” Thiền sư Vân Phong Chí Toàn nói.

Một trong những Tỳ kheo ni kiệt xuất thời hiện đại - Pháp sư Chứng Nghiêm hội trưởng hội Liên Hoa Từ Tế Công Đức của Đài Loan nói: “Ứng xử giữa người và người, nên thu nhỏ mình lại, mở rộng ấm lòng, để cho bản thân có thể đi vào con mắt của người khác, thậm chí đi vào lòng người, mà không làm tổn thương người.”

Tròng mắt con người là nơi không thể chứa được vật khác nhất, trong tâm người càng là nơi không cho bên ngoài xâm nhập vào. Mà một người sống sờ sờ, làm sao có thể vào ra trong con mắt người ta mà không làm trở ngại cho mắt được? trong tâm linh người ta làm sao lại có thể làm theo ý mình mà không tổn hại tâm họ được? Chỉ có thể giống như lời Pháp Sư Chứng Nghiêm nói, cố gắng “thu nhỏ” chính mình, làm cho bản thân hoàn toàn kỳ ảo linh hoạt, giống như vầng trăng sáng, xuyên qua đáy hồ mà không để lại dấu hấn.

Chính vì như thế, Pháp Sư Chứng Nghiêm mới có thể đi vào ngàn vạn lòng người, bà là một người thân nữ yếu đuối không đồng tiền dính túi, mà có thể xây dựng cơ sở từ thiện Phật giáo lớn nhất trên thế giới, cứu giúp trăm ngàn vạn người gặp phải những hoàn cảnh khổ đau ra khỏi khổ nạn.

Vĩnh Gia Huyền Giáo, một đệ tử xuất sắc của Lục Tổ nói: “Một vầng trăng chiếu khắp sông nước, trăng khắp sông nước cũng thu vào một vầng trăng.”

Thiền sư Thủ Duyên ở Vô Vi Tùy Am - Hàn Châu nghe sư phụ của ông là Thiền sư Ngọc Phong ở pháp đường đưa ra câu nói này rỗng rang đại ngộ mà nói rằng: “Lấy một thu nhiếp ngàn vạn, một vầng trăng chiếu khắp sông nước; từ ngàn vạn trở về một, tất cả vầng trăng trong nước thu vào một mặt trăng. Mở ra tức biến khắp pháp giới, thu lại thì không còn tí nào. Tuy mở ra thu vào khác nhau, nhưng việc này vốn không sai khác…” Thiền sư Thanh Nguyên Duy Tín nói: “Lão Tăng 30 năm trước lúc chưa tham thiền, thấy núi là núi thấy sông là sông. Đến khi trở lại, đích thân gặp cao tăng đại đức, có người vào nơi thấy núi không phải là núi, thấy sông không phải là sông. Đại chúng, ba loại kiến giải này, là giống hay là khác? Có ai phân biệt được, cho phép đích thân được gặp Lão Tăng.”

Cảnh giới của Thiền, chính là như vậy: đã bình thường lại kì diệu.

TẮC THỨ 24: TỰ NHIÊN NHƯ VẬY

Thiền sư La Sơn Đạo Nhàn, họ Trần, người Trường Khê - Lãnh Trung (Phúc Kiến). Lúc còn nhỏ, ông xuất gia ở Qui Sơn, làm một tiểu Sa di thanh tịnh đáng yêu, chẳng u sầu chẳng buồn lo. Thời gian dần trôi, tiểu Sa di lớn thành một Tỳ kheo trẻ tuổi và cũng lớn dần tâm phiền não - sinh từ đâu đến? Chết đi về đâu?

Dường như mỗi người đều phải trả lời câu hỏi này: sinh từ trong bụng mẹ ra, chết đi vào trong phần mộ. Nhưng trước khi cha mẹ chưa sinh, bạn ở đâu? Chết rồi, chết rồi, quả thật chết là hết, mọi việc xong xuôi? Bạn có thể trả lời sao?

La Sơn tròn 20 tuổi, sau khi thọ cụ túc giới, bước xuống thuyền thuận theo gió biển Đông Nam, đầu gậy treo vầng trăng lưỡi liềm Phúc Kiến, đi khắp đó đây, thử tìm ra đáp án mà ông đã nghi ngờ bao năm. Thế mà, cùng vơi sự thâm nhập của ông phu tu thiền, nghi vấn cùng mình sinh ra kia không những không mất đi ngược lại càng ngày càng nặng nề. Nó giống như một bó gai lồm xồm, cắt không dứt mà sắp thì chẳng ngay, suốt ngày trói buộc trong tâm; nó giống như âm hồn đáng ghét không mời mà đến, đuổi chẳng chịu đi, quấy rối đến nỗi ông ngồi đứng không yên….

(Đây là giai đoạn tham thiền gian nan nhất, nhưng lại không thể thiếu.)

La Sơn Đạo Nhàn trèo đèo lội suối từ Phúc Kiến mà đến Giang Tây, mà Hồ nam - thật sự là một chuyến giang hồ. Ông leo lên núi Thạch Sương một thắng địa của Thiền Tông, trước tiên đến tham yết Đại sư Khánh Gia rất nổi tiếng. Thạch Sương Khánh Gia là một bậc đại thiện tri thức hướng dẫn cho cả 1500 người (xem “Không Trung Nhất Phiến Thạch” trong Thiền Sơn Thiền Thủy), phải có thể dễ dàng giúp ông giải trừ nghi vấn trong lòng? La Sơn chưa bỏ hành lý xuống, giày cỏ chưa cởi ra đã vội vàng hỏi: “Lúc đi ở không yên thì thế nào?”

Đi ở không yên, ngồi đứng không yên, tâm linh không được một chút yên tĩnh, đúng là tâm cảnh hiện tại của ông ta.

Đại sư Thạch Sương Khánh Gia nói: “Cứ phải bỏ hết.”

Nhưng, bất luận thế nào La Sơn cũng không có cách gì bài trừ toàn bộ những mối hoài nghi lo lắng khiến người ta đau đầu nát óc này, không thể không tiếp tục chịu đựng sự dày vò vô cùng đau khổ.

Ông chưa thể khế nhập thiền cơ của Đại sư Thạch Sương đành phải mang vác cả khối nghi hoặc nặng nề to lớn từ Hồ Nam đi bộ đến Ngạc Châu Hồ Bắc (nay là Vũ Hán) tham bái Đại sư Nham Đầu. Nham Đầu là đệ tử lớn của Đức Sơn Tuyên Giám, lại là người vô cùng ngưỡng mộ tông phong của Tổ sư Lâm Tế, từng được cao túc của Lâm Tế là Thượng Tọa Định dẫn dắt, có thể nói là người đạt được một cách sâu xa chân đế của “Đức Sơn Bổng, Lâm Tế Hát”. Nên biết, ngay cả sư đệ của ngài là Đại sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn danh tiếng hiển hách trong lịch sử Thiền Tông cũng rỗng rang triệt ngộ dưới sự bức bách cơ phong mạnh mẽ của Ngài. La Sơn Đạo Nhàn đứng trước mặt Đại sư Nham Đầu, cũng hỏi như trước: “Lúc đi ở không yên thì làm tế nào?”

Nói thực thì, trước khi sắp lên núi, ông đã sớm chuẩn bị tốt để chịu gậy chịu hét rồi. Thế mà, Đại sư Nham Đầu đã không to tiếng la hét lại không thưởng cho ông những gậy tối đầu tối mặt, mà lại nhẹ nhàng nói: “Tùy nó đi ở, để ý nó làm gì?”

Trời ạ, tại sao lại như vậy? Nên biết, bó gai lồm xồm này, âm hồn này đã nhanh chóng trói buộc La Sơn đến chết, dày vò cho khô héo. Mỗi giờ mỗi khắc dường như ông đều đang liều mạng vật lộn với nó, muốn dùng mọi biện pháp để hạn chế, đè nén nó, hao phí tất cả tinh lực để bài trừ nó ra khỏi tâm. Ông dùng hết các biện pháp này nhưng đều không có hiệu quả, nếu mà để nó tự do phát triển, chẳng lẽ…

Thế nhưng, Thiền, chính là không thể nghĩ bàn như thế, La Sơn Đạo Nhàn nghe câu nói rất bình thường này của Nham Đầu, khối nghi ngờ to lớn trong tâm lại rỗng rang tiêu tan hết, tiêu tan không còn dấu vết.

Các loại ưu sầu phiền não đến như vậy, bạn càng để ý nó, càng muốn trừ khử nó, nó càng dai dẳng, mới nhíu lông mày tâm liền vọng khởi, tự nó làm bạn buồn muốn nổ tung đầu óc, thần kinh thác loạn, cuối cùng tinh thần sụp đổ! Tổ sư các đời của Thiền Tông truyền lại cho chúng ta một phương thuốc tự tâm:

Mặc kệ nó!

Phương pháp hữu hiệu nhất để đối trị phiền não hàng phục tâm viên ý mã không phải là bài trừ xua đuổi, càng không phải cưỡng bức áp chế mà là thuận theo tự nhiên của nó, đừng để ý đến nó. Sự việc thế giới luôn luôn kỳ diệu như thế; Rút dao chém nước nước càng chảy, nâng ly tiêu sầu càng sầu thêm, lá rụng tự có gió mát quét, trăng sáng trời trong mùa thu đẹp.

Thiền sư La Sơn Đạo Nhàn ở lại bên cạnh sư phụ Nham Đầu, tùy duyên mà tiêu trừ tập khí, đối cơ luyện thiền đạo.

Một hôm nọ, Đại sư Nham Đầu và La Sơn Đạo Nhàn cùng lên núi xem xét đất xây tháp - Đại sư Nham Đầu chuẩn bị nhập diệt. Đang đi, La Sơn bỗng gọi lên một tiếng: “Hòa Thượng”, Nham Đầu quay lại, hỏi ông ta việc gì? La Sơn liền tiện đưa tay lên, chỉ một đám sườn núi nói: “Ở đây là một vùng phong thủy bảo địa.”

Thiền Tông rất phản đối mê tín mù quáng, càng không tin quỉ thần gì cả, cho nên La Sơn thuận tay chỉ, liền nói ở đây chính là Phong thủy bảo địa. Kiểu tư tưởng tùy duyên tức là duyên tốt này, có thể nói là đạt được sâu sắc Tam Muội của thiền. Nhưng mà, tự nhiên như vậy của thiền không phải là chủ nghĩa tự nhiên thuần túy mà là khế hợp chân đế tự nhiên, tuân theo phép tắc tự nhiên, lợi dụng qui luật tự nhiên. Ví dụ xây tháp hoàn toàn không phải tùy tiện tìm một nơi là được, ít nhất địa thế phải cao, phạm vi nhìn phải rộng rãi. Vì thế, Nham Đầu trách đệ tử rằng: “dưa châu bán dưa hán”.

Họ lại đi thêm mấy dặm nữa, Nham Đầu hơi mệt, La Sơn dìu sư phụ đến ngồi xuống tảng đá bên đường, cúi đầu lễ bái rồi bảo: “Thưa đại Hòa thượng, chẳng phải 30 năm trước ngài ở Động Sơn mà không đồng ý với Ngài Động Sơn sao?

Nham Đầu lại gật đầu nói: “đúng”

La Sơn: “Không đồng ý với Đức Sơn, con không hỏi nữa; chỉ là Động Sơn có gì khiếm khuyết?”

Đúng vậy, Tổ sư Động Sơn Lương Giá, là người sáng lập ra tông Tào Động, pháp mạch của ngài kéo dài hơn cả 1000 năm, lưu truyền mãi cho đến ngày nay, đủ thấy tông phong của Ngài mạnh mẽ. Vì sao Nham Đầu lại không đồng ý với Ngài?

Nham Đầu im lặng rất lâu, mới từ tốn nói: “Động Sơn là đức Phật đẹp, chỉ là không có hào quang.” La Sơn bỗng nhiên hiểu ra, cho dù là đức Phật đẹp đẽ bao nhiêu đi nữa mà không có duyên với mình, mình không thể cùng với Phật tâm tâm tương ấn, cũng không thể cảm ứng phóng quang, ví dụ La Sơn và Thạch Sương Khánh Gia, La Sơn lại trải đồ lễ bái ra, quỳ bái đảnh lễ. Nhiều năm sau đó, đạo tràng La Sơn trú trì, có một vị thượng tọa Vô Chẩn hỏi: “Chỉ như Nham Đầu nói, Động Sơn là Phật đẹp nhưng không có hào quang, không biết Động Sơn có gì khiếm khuyết, mà nói là không có hào quang?”

Thiền sư La Sơn gọi lên một tiếng: “Thượng tọa Vô Chẩn”, Vô Chẩn đáp dạ, La Sơn nói: “Một đức Phật sáng chói, chỉ là không có hào quang.”

Thiền sư La Sơn lấy đó chỉ thẳng thiền cơ: bản thân Thượng tọa Vô Chẩn ngươi chính là một đức Phật đẹp. Đáng tiếc, Thượng tọa Vô Chuẩn chưa thể lãnh ngộ, cho nên, không thể phóng quang động địa. Ông mù mờ hỏi: “Thưa Đại sư, vì sao Ngài lại gạt ngang lời nói của Vô Chẩn con?” Thiền sư La Sơn lợi dụng cơ hội cuối cùng để dẫn dắt ông ta: “Đâu là chỗ mà Thầy Trần ta (La Sơn họ Trần, cho nên thường tự xưng là Thầy Trần) gạt ngang lời nói của ngươi? Nói nhanh! Nói nhanh!”

Vô Chẩn không đối được, La Sơn đánh ông ta ba mươi gậy, đuổi ra khỏi tự viện.

Một năm nọ, La Sơn vân du đến Hòa Sơn. Sau khi cùng Cũ Trưởng Lão, người đồng hành với ngài ở lại mấy hôm, lại phải đi đến hành cước nơi xa khác. Thiền sư La Sơn đưa tiễn ông, vừa mới bước ra khỏi cửa, tự nhiên ngài nổi sóng gió, ném thiền trượng xuống trước mặt Cũ Trưởng Lão, cùng đối thiền với trưởng lão. Cũ trưởng lão im lặng không đối, La Sơn tự nói một mình: “Trâu đá chặn đường xưa, một ngựa sanh hai ngựa non.”

Sau khi Đại sư Nham Đầu viên tịch, Thiền sư La Sơn trở về quê hương Lãnh Trung. Lúc đó, đúng vào thời kỳ cuối của đời nhà Đường, quân phiệt cát cú khắp nơi, trở thành trạng thái bán độc lập. Thống Soái vùng đất Mân ngẫu nhiên một lần nghe được Thiền sư La Sơn giảng pháp thiền, sung sướng vô cùng, như tắm gió xuân, như uống cam lồ, lập tức mời ngài trú trì thiền viện La Sơn. Danh hiệu “La Sơn” của Ngài có nguồn gốc từ đó.

Ngày lên pháp đường đầu tiên ấy, ngài bước lên pháp tòa cao, vừa mới sửa lại y áo (lúc ngồi kiết già, phải dùng vạt y che lên chân), chưa giảng câu pháp nào, liền nói với đại chúng: “Tạm biệt.”

Tăng chúng nào ai đã từng thấy qua cảnh tượng như thế này? Họ vẫn đứng y tại pháp đường không chịu giải tán. Đứng đợi khá lâu, Thiền sư La Sơn thấy mọi người thật thà không chịu đi, bèn nói rằng: “Ai chưa thể lĩnh hội thì đến gần đây?”

Liền có một vị Tăng bước đến lễ bái, La Sơn thấy vậy, cao giọng hét: “Khổ quá! Thật khổ quá!”

Vị Tăng này vừa muốn mở lời thưa hỏi, La Sơn liền la mắng đuổi đi. Thiền, quí ở chỗ dùng tâm lĩnh ngộ, lời nói ngôn ngữ đều là lạc vào núi thứ hai.

Có vị Tăng hỏi: “Thế nào là một câu kỳ đặc?”

La Sơn hỏi lại: “Ngươi nói cái gì?”

Vị Tăng này dường như tham thiền có được sở đắc, nên hỏi: “Lúc tiếp xúc với cơ phong làm sao để rõ?”

Thiền sư La Sơn thuận tay đưa như ý lên - “tiếp xúc vớiơc phong làm sao để rõ?”

Thiền sư La Sơn lắc lắc đầu, thở ra nói: “Con bôn ba ngàn dặm, vội vàng đến gặp ngài dù thế nào đi nữa cũng xin Hòa thượng dẫn dắt.”

La Sơn Đạo Nhàn lại hỏi ông ta: “Ông lãnh hội rồi sao?” vị Tăng kia lắc đầu biểu thị không lãnh hội. La Sơn nói: “Ý thiền đã qua rồi.”

Thiền, hoàn toàn không phải là thần kỳ đặc biệt, nó tự nhiên như vậy, chính đó là diệu dụng của thiền. Vì thế, câu phản vấn của Thiền sư La Sơn, đưa như ý bên cạnh lên, đều là đang hiển bày thiền cơ.

Có một vị pháp sư rất tinh thông giáo lý đến tham vấn, Thiền sư La Sơn hỏi ông ta tên gì? Ông trả lời: “Minh Giáo”.

La Sơn chế giễu: “Ông đã là Minh Giáo (hiểu rõ giáo lý), còn phải cần giáo nghĩa sao? Pháp Sư cũng chẳng khách khí, biểu thị mình đã duyệt tạng (đọc thông “Đại Tạng Kinh một lần, thông thường phải cần thời gian ba năm) nhiều năm, đã hỏi tức phải đáp. Thế là La Sơn đưa nắm tay lên hỏi: “Trên hội Linh Sơn, đưa cái này ra làm gì?”

Pháp sư nói: “Quyền giáo.”

Gọi là quyền giáo là chỉ cho giáo pháp phương tiện của Phật Đà. Pháp Sư khéo léo lợi dụng sự đồng âm (La Sơn hỏi quyền là nắm tay, Pháp Sư dùng từ quyền chỉ cho phương tiện) để đáp lại sự vấn nạn của La Sơn, cho nên, ông dương dương tự đắc nhìn La Sơn. Thiền sư La Sơn cười ha hả rồi nói: “Nếu đưa ra nắm tay (quyền) gọi là quyền giáo, vậy thì, như thế này gọi là gì?

Vừa nói, Ngài liền duỗi chân ra, để lộ ra một chân to, hỏi: “Đây là giáo gì?

Pháp Sư không hiểu, La Sơn nói: “Chẳng phải gọi là “Cước giáo” sao?”

Có một vị Tăng đến từ biệt Thiền sư Tùng Triển ở Thiền Viện Bảo Phúc ở Đàm Châu. Thiền sư Bảo Phúc Tùng Triển hỏi ông ta đi đến đâu? Ông nói đi lễ bái Thiền sư La Sơn. Bảo Phúc là đệ tử của Tuyết Phong Nghĩa Tồn, mà Tuyết Phong là sư đệ của Nham Đầu, cho nên, Bảo Phúc và La Sơn thuộc một dòng phái. Thiền sư Bảo Phúc nói đùa: “Ngươi nhắn với La Sơn: Mùa thu này Bảo Phúc ta phải đến Phúc Châu triều kiến đại vương chuẩn bị bốn mươi câu hỏi hỏi Hòa thượng La Sơn, nếu như có một câu trả lời không đầy đủ, chớ trách lão Tăng này không thông báo trước.”

Vị Tăng này đem tất cả những câu nói này nói với Thiền sư La Sơn. La Sơn cười ha hả, nói: “Thầy Trần ta từ khi đến Thiền Viện La Sơn dưới cầu Hồng Đường đường Phúc Kiến đến nay chưa từng thấy có Mao Đầu Tinh xuất hiện. Ngươi nói với Bảo Phúc Tùng Triển rằng: Thầy Trần ta không có nhiều vấn đề như thế, chỉ có một cây kiếm bén, Kiếm vung xuống tất có khí thế cắt thân, cũng có con đường ngộ nhập.”

Vị Tăng này không quản gian khổ, lại chạy về Đàm Châu, truyền tin cho Bảo Phúc. Bảo Phúc Tùng Triển nói: “Lúc đó ta cũng chỉ nói đùa với ông ta vậy thôi.”

Đến mùa Thu triều kiến, La Sơn đặc biệt làm một tiệc trà mời Bảo Phúc. Bảo Phúc Tùng Triển không đến dự tiệc, nói với vị Tăng đi mời ngài rằng: “Trước đây ta từng chế giễu Sư huynh La Sơn, e rằng ông ta cho là thật rồi hỏi ta.”

Sau khi La Sơn biết được liền nói: “Ngươi đi nói với ông ta, hổ dữ cũng không ăn thịt kẻ đã hàng phục.”

Bảo Phúc liền đến thiền viện La Sơn, bá vai La Sơn cười lớn. Từ đó, hai người thường xướng hợp thiền đạo, mài dũa thiền phong, làm bạn thiền suốt đời.

Có một vị Tăng hỏi: “Thế nào là trên trăm đầu ngọn cỏ đều là ý của Tổ sư?”La Sơn trả lời: “Chọc hư mắt của ngươi.”

Lại hỏi: “Đạo là gì?”

La Sơn trả lời: “Dựa vách tường.”

Ra sức tìm kiếm ý của Tổ sư, ngược lại sẽ bị đâm mù mắt, dựa vào tường vách tất nhiên có con đường. Người ta hỏi là con đường giải thoát xuất thế, La Sơn đáp lại lại dùng con đường thế tục - con đường bình thường của thế tục, tức là con đường Thiền xuất thế. Lục Tổ Huệ Năng dạy: “Phật pháp ở thế gian không thể rời thế gian mà giác ngộ. Rời thế gian mà tìm cầu bồ đề (giác ngộ) cũng như tìm lông rùa sừng thỏ.”

Lại có thiền Tăng hỏi: “Trước là vực sâu vạn trượng, sau là hổ lang sư tử, chính ngay lúc đó phải làm sao?”

La Sơn nói: “Tự tại.”

Trước là vực sâu vạn trượng, sau là hổ lang chặn đường, há chẳng phải là chỉ có một con đường chết! Thế nhưng, đối với thiền giả, tình này cảnh này lại chính là con đường sống tốt nhất để giác ngộ thiền: Một phen sắp chết mói có thể sống tốt; vực sâu buông tay, cuối cùng lại tỉnh!”

Thiền Tăng lại hỏi: “Ba cõi ai là chủ?”

La Sơn hỏi ngược lại: “Ông vẫn biết ăn cơm chứ?”

Ngươi đã biết ăn cơm, tức có thể làm chủ trong ba cõi. Bởi vì vạn pháp đều do tâm, tâm là chủ của tất cả. Tâm ở đâu? Tâm chính ngay lúc ăn cơm mặc áo. Niệm niệm đều không rời hiện tại đang là, thời thời khắc khắc đều có thể làm chủ.

Thiền sư La Sơn Đạo Nhàn sắp viên tịch, triệu tập đồ chúng đến pháp đường. Ngài im lặng rất lâu, sau đó đưa tay trái ra trước đại chúng. Vị Tăng chủ sự ngơ ngẩn lúng túng, không hiểu ý của sư phụ, bèn bảo Tăng chúng phía bên trái lùi xuống. Thiền sư La Sơn lại duỗi tay phải ra, lại bảo Thiền Tăng phía phải lùi xuống. Thiền sư La Sơn Đạo Nhàn nói với mọi người: “Muốn báo ơn Phật, phương pháp tốt nhất chính là hoằng dương Phật pháp. Về đi, về đi thôi! Tạm biệt!”

Nói xong, mỉm miệng cười, nhẹ nhàng viên tịch.

Thiền Cơ Liên Tiếp: Thiền Giả Xuân Thu

Núi cao, khe sâu, mỏm đá to, miếu nhỏ. Trời chiều, đồng hoang, cây khô, thiền giả. Thiền giả ẩn cư tại một ngôi miếu nhỏ trong rừng sâu hoang vắng, không có người bố thí không có hương hỏa, tự cày cấy mấy thuở đất khô người ta bỏ hoang trong thung lũng. Ồ, thiền giả còn có hai người bạn, một thiếu niên, một con chó già. Thiếu niên, là một đứa bé lang thang, năm trước lúc đến thị trấn chọn mua nông cụ, ông đã dẫn về; con chó đương nhiên là con chó lang thang vì già cả vô dụng, bị chủ nhân ruồng bỏ. Vốn dĩ, gần chùa nhỏ vẫn có một số cư dân. Những năm gần đây, theo đà phát triển của kinh tế, dân trên núi lần lượt chuyển đi vì giao thông bất tiện, thông tin bế tắc, cuộc sống gian nan. Đúng vậy, tín hiệu truyền hình bị các đỉnh núi cao nuốt hết, suối nước cũng bị hạn hán nhiều năm liên tục tàn phá cho khô khan, nước sinh hoạt phải đến khe núi xa mấy dặm để gánh, làm sao tiếp tục sống được? Như thế này, chẳng phải ngay cả một hộ gia đình cuối cùng ở đối diện với ngôi miếu nhỏ cũng phải dọn đi sao.

Đúng vào mùa xuân năm nọ, xung quanh miếu nhỏ là một vùng bừa bãi, còn là một vùng ảm đạm thê lương - Thiến niên ngồi trên cái lèn đất bằng đá trước cửa chùa, hai tay chống cằm, nhìn ra bức vách bằng phẳng đứt đoạn còn sót lại trước mắt, trên tấm lưng gầy nhỏ yếu ớt kia mang cả một mối thương cảm không thể nói nên lời, ngay cả con chó già đang nằm dưới chân thiếu niên cũng lộ rõ vẻ chán chường uể oải, dáng vẻ nửa sống nửa chết.

Thiền giả nói, tốt thôi, không có nhà cửa ngăn che, chúng ta có thể nhìn thấy cái khe núi đối diện, lúc trời mưa, có thể nghe được tiếng nước chảy dưới khe. Thiếu niên vẫn u sầu không nguôi, mặt mày đau buồn nói: “Nhưng mà, đống hoang tàn trước mắt…”

Đúng vậy, cách ngăn núi sông rác rưởi chán chường và thê lương là phong cảnh rộng rãi.

Thiền giả nói, đây không phải là hoang tàn mà là đất trống.

Thế là, thiền giả ra tay, sửa sang lại miếng đất hoang cho bằng phẳng, sau đó lên núi hái một ít hạt cỏ hoang, vãi hạt cỏ lên, trước mắt bây giờ không còn là một vùng gạch ngói hoang tàn mà là một đám cỏ xanh tươi.

Thiếu niên hiểu rõ tâm tư của thiền giả, nên nhanh chóng cùng ông gieo rắc phấn chấn và hân hoan.

Một cơn gió núi thổi đến, làm tung bay những hạt cỏ, đem nó đến những nơi xa xăm. Thiếu niên kinh ngạc: “A! nguy rồi, hạt giống bị gió cuốn đi hết rồi!”

Thiền giả nói, bị gió cuốn đi, nhất định là hạt lép, có để lại cũng không thể nảy mầm được.

Vãi hạt giống xong, họ lại trở về trước cổng chùa, thưởng thức kiệt tác mình vừa mới hoàn thành. Có lẽ sợ nó buồn tẻ, một bầy chim ríu rít bay đến, sà xuống đám đất họ vừa mới gieo trồng, vui vẻ nhảy nhót, cào bới rồi ăn.

Thiếu niên thúc con chó đi xua đuổi lũ chim, con chó lại biếng nhác không nhúc nhích, cậu ta lo lắng nói: “Bầy chim ăn hết hạt giống rồi! Làm sao đây? Chúng ta làm một người nộm đi!”

Thiền giả cười: “Chim nhất định sẽ đào bới ăn những hạt lớn, mà những hạt lớn đó, phần lớn đều là những loại tạp chủng đã biến dị bị trộn lẫn vào.”

Đêm đến, một trận mưa lớn đến bất ngờ, thiếu niên đập vào cửa thiền phòng. Thiền giả đang ngồi thiền, đập mạnh đến nỗi có tiếng vọng lại từ núi đá: “Mưa lớn mưa lớn qúa, có thể sẽ cuốn trôi những hạt giống chúng ta vừa gieo!”

Thiền giả ngồi bất động trên bồ đoàn, chỉ nhẹ nhàng nói: “Những hạt giữ lại được, luôn sẽ là phần lớn, hơn nữa, cứ coi như hạt cỏ bị nước cuốn đi, nó cũng sẽ đến đâu đó, mọc lên và xanh tươi ở đó.”

Mấy ngày sau, trước ngôi chùa nhỏ của họ một vùng xanh mơn mởn, những nơi nước chảy qua, cũng mọc lên những đường cỏ xanh tươi.

Lúc gió thu thổi đến, núi đồi chuyển sang màu vàng, đám cỏ trước ngôi chù nhỏ cũng trở thành màu vàng. Thiếu niên cầm chổi, ki hốt rác quét dọn sạch sẽ con đường nhỏ trong chùa - trong thời gian thiền giả ngồi thiền xong, thường đi kinh hành trong sân, lâu ngày, trở thành một con đường thiền. Thiếu niên tính tình hoạt bát nhưng cẩu thả, hấp tấp, kéo chổi một đường như ngựa chạy dạo một vòng trên con đường nhỏ, là coi như đã quét xong.

Thiền giả nói: “Đây không phải là ý nghĩa đích thực của quét dọn, con cảm thấy sạch sẽ rồi sao?”

Thiếu niên không lên tiếng, mà cầm chổi đi quét lại. Lần này, cậu ta quét dọn sạch sẽ tất cả những bụi đất, lá cây trên con đường nhỏ. Vì con đường nhỏ là con đường đất đỏ, nếu không chắc chắn có thể soi bóng lên được.

Thế mà, cậu trở về thiền phòng, thiền giả lại nói: “Đây chẳng phải là ý nghĩa chân thật của việc quét dọn.”

Thiếu niên không hiểu, ngoái đầu nhìn con đường nhỏ trong sân. Cậu ta nhìn thấy, chẳng biết tự bao giờ, con chó đã đi trên con đường nhỏ, ngửi đi ngửi lại, cũng chẳng biết là nó đang làm gì? Nó hiếu kỳ chạy đến, hóa ra trên con đường nhỏ sạch sẽ lộ rõ hành tung của các con trùng nhỏ đang bò qua bò lại. Ái chà, chỗ này không phải là nơi cho chúng mày dạo chơi, lúc Thiền sư đi tản bộ kinh hành, sẽ giẫm lên chúng mày đấy! Thiếu niên cẩn thận lấy cành cây gắp chúng lên, đem đến đám cỏ rậm xa xa.

Lần này, chắc có thể ổn rồi? Thế nhưng, thiền giả vẫn nói như cũ: “Đây vẫn không phải là ý nghĩa chân thật của việc quét dọn đâu.”

Thiếu niên rất nghi ngờ: “Vậy thì, ý nghĩa chân thật của việc quét dọn là gì?”

“Mùa thu ấy à, đương nhiên nên quét dọn ý thu.”

Nếu con đường nhỏ được dát bằng pha lê, bây giờ lại sạch sẽ không chút bụi dơ, chắc chắn sẽ soi bóng của trời cao mây nhẹ, lá vàng mùa thu. Nhưng, con đường đất đỏ chẳng thể chiếu sáng, chẳng thể phản quang, làm sao có thể có ý thu?

Thiền giả không nói, đứng dậy đi đến giữa sân, thiếu niên đương nhiên là đi theo sau lưng thiền giả - hiếu kỳ, không phục, lại thêm mù mờ, lo sợ. Thiền giả đi đến dưới một gốc cây, ôm thân cây lắc một hồi.

Cành cây lay động, làm kinh động vô số những con bươm bướm đang đậu trên cành cây - lúc những lá cây nào là vàng rực nào là hồng nhạt từ trên không trung tự do bay xuống, tựa như những cánh bướm sặc sỡ nhảy múa nhẹ nhàng. Những chiếc lá bay, lượn vòng, cuối cùng nhẹ nhàng chạm xuống nền đất. Thế là, màu sắc rực rỡ tràn đầy trên con đường nhỏ - lá rơi tràn ngập, vàng đỏ xen lẫn - một vùng tràn đầy sắc thu.

    Chia sẻ với thân hữu: