Đạo Phật Khất Sĩ
CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Thiền ngộ (Phần 8)

TẮC THỨ 29: GIẶC LÀ NGƯỜI THÂN

Thiền sư Bảo Phúc Thanh Khoát vốn là người Phúc Châu, nhỏ nhưng thông minh. Một hôm ngài cùng cha mẹ đến chùa Cổ Sơn Dũng Tuyền ở phía đông thành Phúc Châu thắp hương. Bấy giờ, trụ trì chùa Dũng Tuyền chính là Quốc sư Cổ Sơn Thần Yến. Vị lão Hòa thượng pháp tướng uy nghiêm, mọi người vốn không dám nhìn thẳng vào mặt ngài. Ngược lại, Thanh Khoát nhỏ mà cảm thấy thân thiện kì lạ, giống như trước đây đã từng nhiều năm theo hầu bên cạnh vị Hòa thượng này vậy. Thế là, ông ở lại Cổ Sơn, xuống tóc làm tăng.

Thiền tâm như đất trời nhàn nhã, năm tháng đạm bạc mà chân thật. Trong tiếng mõ vang vang, tiếng chuông nhẹ nhàng, Thanh Khoát đã trở thành một tỳ kheo trẻ tuổi. Sau khi thọ giới, ông đã có thể ra ngoài tham học rồi. Ông nghe nói dưới trướng của Đại sư bá Huyền Sa Sư Bị có một vị tăng kì lạ- Khế Như Am Chủ. Cảnh giới chứng ngộ của Khế Như rất sâu xa rộng lớn, cơ phong sắc sảo, nhưng không thâu nhận đồ chúng mở đạo tràng giảng pháp, thậm chí ngay cả một tiểu đồng làm thị giả cũng không giữ lại. Một người ẩn cư trên núi Tiểu Giới, đói ăn quả rừng, khát uống nước khe, lấy cỏ làm áo. Nơi ở của Khế Như càng đặc biệt lạ kì – một gốc cây sam lớn trong núi, năm tháng dài lâu, thân cây mục nát, lộ ra một lỗ hỏng lớn, Khế Như khoét cây mục làm cái hang vừa đủ để dung thân tạo thành cái am nhỏ ngồi thiền tu hành.

Thiền sư Thanh Khoát rủ một người bạn tốt - thượng tọa Xung Húc, cùng nhau vào trong núi Tiểu Giới, tham vấn Khế Như Am chủ. Hai người họ, trước đây chưa từng gặp Khế Như, lại không biết ông ta đang ở đỉnh núi, khe rãnh hay trong gốc cây nào, liền tìm kiếm khắp trong núi vắng mênh mông hoang dã. Họ gặp một người đang hái dẻ trong thung lũng, Thiền sư Thanh Khoát đến hỏi thăm người đó: “Xin hỏi, ông có biết am chủ Khế Như ở đâu không?”

Người hái dẻ không đáp mà hỏi lại: “Từ đâu đến?”

Thiền sư Thanh Khoát là người tham cứu tu thiền đã lâu, biết rõ đây là một câu hỏi dường như nhạt nhẽo, nhưng hàm chứa thiền cơ khôn cùng. Vì Tổ sư thiền tông dẫn dắt thiền tăng, từng câu từng câu không xa rời điểm căn bản của tự tánh, cho nên, đây cũng là hỏi bạn sanh từ đâu đến, chết đi về đâu? Ông muốn hỏi là chỗ “đến” đó. Thế là, ông ta liền nhạy bén đáp: “Dưới núi đến”.

Câu này trả lời không nói rõ chỗ nào, mà nói dưới núi, cũng rất có ý nghĩa- cũng giống như đang dò xét người chủ phải chăng có đạo nhãn sáng suốt. Nếu không phải là hành giả hiểu thiền thì thật khó mà đối đáp cho xuôi. Thế nhưng người hái dẻ dường như là một người có kĩ năng xuất chúng: ngươi không thông báo nơi đến, liền tiếp tục khảo nghiệm: “Tại sao đến nơi này?”

Dưới sự khiêu khích của người hái dẻ, Thanh Khoát phát khởi cảm hứng thiền, tiếp tục đối đáp cơ phong với ông ta, hỏi lại đầy thiền ý: “Đây là đâu?”

Nghe lời này, người hái dẻ liền cười, chắp tay nói: “Thế còn không uống trà đi!”

Thanh Khoát và Xung Húc, hai vị thiền tăng mới tỉnh ngộ, người hái dẻ trước mắt đây chính là am chủ Khế Như. Ba người đi đến hang cây, uống trà, đàm luận thiền. Trà núi thanh khiết, uống vào hơi say, cảm thấy như nước suối, như mây trắng, yên tĩnh chảy, nhẹ nhàng trôi; cao tăng luận đạo như tiên, hạc hót trên tầng mây, như bảy sắc cầu vòng nhảy múa trên nền trời, khiến người ngây ngất, như mê như say. Thiền sư Thanh Khoát và thượng tọa Xung Húc ngồi hai bên trái phải, không hay không biết đã đến đầu đêm. Trong lúc vô ý Thanh Khoát nháy mắt nhìn ra bên ngoài, trời ạ, chỉ thấy bên ngoài sài, lang, hổ, báo lũ lượt đi đến trước am, hoặc nhẹ nhàng đi quanh cây lớn một vòng, hoặc tự tại nằm trên đất, tự nhiên mà thuần phục. Nên Thiền sư Thanh Khoát làm một bài thơ phú khen rằng:

Làm không bằng không làm, ai biết sự ở đi.

Bữa ăn như chưa no, nhà nhà không nhờ vả.

Không đạo nên khó phục, tay không chớ tranh giành,

Rồng hét mây nổi dậy, hai ba tiếng tiêu nhàn.

(Hành bất đẳng nhàn hành, thùy tri khứ trú tình.

Nhất xan do vị bảo, vạn hộ vật liêu sinh.

Phi đạo ưng nan phục, không quyền mạc dự tranh.

Long ngâm vân khởi xứ, nhàn tiêu lưỡng tam thanh.)

Thanh Khoát và Xung Húc hai người cảm thấy hang cây của am chủ Khế Như cũng rất nhỏ bé chật hẹp liền làm một ngôi am cỏ tại núi Đại Chương , mời Ngài đến ở. Dưới sự chỉ giáo của Khế Như, mặc dầu thiền sư Thanh Khoát có chỗ sở đắc nhưng trong lòng luôn cảm thấy có sự ngưng trệ, giống như xem hoa trong sương, ngắm trăng trong nước, mơ mơ hồ hồ, mông lung mờ mịt,không rõ ràng xác thực; lại thấy toàn thân như bôi một lớp keo, dính chặt như hồ, không nhanh nhẹn, không thoải mái, thật khiến cho người ta phiền muộn.

Thế là, ông ta chạy đến núi Thụy Long ở Chương Châu tham bái thiền sư Đạo Phổ.

Thụy Long Đạo Phổ là học trò giỏi của Đại sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn, đạo nhãn sáng suốt, thấu suốt trời đất. Ông hỏi Thanh Khoát: “Người đã từng bái kiến cao tăng nơi nào? Đã khai ngộ chưa?”

Thiền sư Thanh Khoát nói: “Tôi đã từng tham vấn với am chủ Khế Như ở Đại Chương, được một chỗ tin tưởng”.

Thiền sư Thụy Long cười ha hả, ông cười gì vậy? Đại Chương Khế Như là cháu của ông, năm đó, vị tăng kì dị này sau khi ngộ đạo dưới trướng của sư huynh ông – Huyền Sa Sư Bị, đi đến một mình. Huyền Sa Sư Bị đã huyền kí rằng: “Sự giác ngộ về thiền của ngươi đặc biệt hơn người, cơ phong của ngươi huyền diệu tuyệt vời, nhưng ngươi ngay cả một người kế thừa cũng không có . “Sở dĩ sư huynh Huyền Sa nói như vậy chính là vì Đại Chương Khế Như không khéo dạy dỗ thu nhận đệ tử. Không phải sao, ngay cả Thanh Khoát là một thiền tăng lanh lợi hiếm thấy như vậy, mà theo ông cả thời gian dài, ông cũng không có cách gì dẫn dắt người ta chứng ngô đạo thiền.

Thế thì, thiền sư Thụy Long lại có bí quyết cao minh gì chứ?

Thụy Long vâng lệnh duy na thỉnh hồng chung, triệu tập đại chúng vân tập tại pháp đường. Thiền sư Thụy Long như một con sư tử uy nghi ngồi lên pháp tòa rất cao, im lặng rất lâu, hàng trăm thiền tăng không dám cử động, lặng lẽ không một tiếng động. Nhưng mà, trong lòng họ lại đang hồi hộp: Lão hòa thượng muốn làm gì vậy?

Im lặng, im lặng rất lâu, không khí pháp đường giống như đang dần dần ngưng đọng, như kết thành một lớp băng trong suốt, mỗi một người dường như đều cảm thấy hơi thở càng lúc càng khó khăn…..

Bỗng nhiên, Thiền sư Thụy Long hét một tiếng lớn như long trời lở đất: “Thanh khoát, ra đây! bây giờ ngươi quay về đại chúng đốt hương nói chỗ ngộ của ngươi, lão tăng sẽ ấn chứng cho ngươi!”

Thiền sư Thanh Khoát đáng thương, thình lình bị điểm danh trong chúng, đồng thời còn phải đứng trước mặt hàng trăm thiền tăng giảng nói cảnh giới ngộ thiền, ông ngơ ngẩn một lúc, hoảng sợ đến ngây ngô, mờ mịt không biết gì! Chúng ta nên biết, ông hoàn toàn không hề chuẩn bị về tư tưởng! Nên hiểu, ông chưa từng được triệt ngộ! Nên rõ ràng rằng, hiện tại ông không có lời nào đáng nói!

“Thanh Khoát, ra đây!”

Đây không phải là thúc giục sao? Trong tâm Thanh Khoát trống rỗng, cảm thấy như mình bị lột hết quần áo, trần trụi , sạch sành sanh, không còn một mảnh vải che thân, bị phơi bày trước mặt đại chúng!

“Thanh Khoát, nói !”

Ông muốn tôi nói gì? Thanh Khoát giống như con chó bị dồn vào góc tường, đi đến ngõ cụt, kỳ diệu thay, lúc ông bị bức ép ngẩng đầu trước đại chúng, ông ta thật giống con chó vội vã nhảy qua bức tường, bỗng nhiên nhảy qua được chướng ngại, hoát nhiên triệt ngộ!

Thụy Long rất vui mừng, gật gật đầu, khẳng định, khen ngợi!

Đây là chỗ cao minh của Tổ sư thiền tông: không khởi, không phát, không bức bách thì không ngộ; chó chạy vào tường, con người trong lúc cấp bách phát sanh trí tuệ, người bị ép vào cảnh cùng tuyệt thì sẽ mở ra con đường mới, có chết mới có sanh ra!

Mỗi người chúng ta, hầu như đều trải qua cảnh cấp bách sanh trí tuệ này, trong khó khăn liền đốn ngộ. Chẳng qua cái hành giả phát sanh đó là trí bồ đề, điều chứng ngộ là chân đế của vũ trụ nhân sanh.

Thiền sư Thanh Khoát sau khi khai ngộ, lại ở bên cạnh sư phụ tu tập thêm mấy năm. sau khi sư bá của ông, Đại sư Bảo Phúc Tùng Triển viên tịch, tín chúng liền mời ông đến trú thì thiền viện Bảo Phước. Tại pháp đường, có vị tăng hỏi: “Nhà nghèo nhưng lại gặp lúc có giặc thì làm thế nào?”

Vừa nghe câu nói này, ông đã biết vị tăng này là một người tham thiền lâu năm, trực tiếp vào được chỗ dụng công của việc tham thiền. Thiền sư Thanh Khoát trả lời: “Không phải cướp hết toàn bộ”.

Thiền tăng hỏi: “Tại sao không cướp hết?”

“Vì giặc là người thân!” Thiền sư Thanh Khoát dứt khoát trả lời:

“Cái gì, giặc là người thân à? Đã là người thân, tại sao còn cướp nhà của mình?” Quả nhiên, thiền tăng hỏi lại: “Đã là người thân, tại sao lại trở thành giặc nhà?”

Thiền sư Thanh Khoát liền đưa ra một câu danh ngôn chí lý: “Bên trong không ứng, bên ngoài không thể làm”.

Đúng vậy, không có giặc nhà, sẽ không dẫn quỷ bên ngoài vào; nếu không có tiếp ứng bên trong, há có thể dễ dàng đánh tan thành lũy kiên cố được sao!

Thiền tăng thể hội sâu sắc, gật gật đầu, tiếp tục hỏi: “Bỗng nhiên có giặc làm thế nào để bắt?”

“Trong ngoài không tin tức”.

Thiền tăng không hiểu lắm, đã bắt trộm cướp, phải có tin tức tốt sao? Ông không thấy, người ta sau khi xây dựng cơ nghiệp, đều phải ăn mừng một phen sao. Do đó, ông lại hỏi: “Sau khi bắt được giặc, công lao thuộc về ai?”.

Thiền sư Thanh Khoát trịnh trọng nói: “chưa từng nghe nói đến phần thưởng này”.

Chất vấn những công lao vốn có, đương nhiên là để được thưởng. Nhưng mà, tu tập hành thiền, là một quá trình vứt bỏ chấp trước phân biệt, ngay cả ý niệm vứt bỏ cũng triệt để vứt bỏ, mới viên mãn. Do đó, Thiền sư Thanh Khoát nói: “Thưởng cũng chưa từng nghe”.

Thiền tăng thở dài, hoàn toàn không bằng lòng nói: “Thế thì, mệt nhọc mà công cốc rồi”.

Thiền sư Thanh Khoát dẫn dắt ông ta: “Công lao chẳng phải không có, nhưng có công không trú, nên xem như không có công”.

Sự tu tập của thiền tăng còn chưa đạt đến cảnh giới không, chưa có pháp lãnh hội, không có sự diệu kỳ, liền hỏi: “Đã là thành công, tại sao không tính công để thưởng?”

Thiền sư Thanh Khoát nói câu danh ngôn xưa:

“Thái bình vốn là do tướng giỏi, không để tướn quân thấy thái bình”.

Công án “Giặc là người thân” này, không chỉ liên quan đến chỗ vi tế của dụng công tham thiền, mà còn tràn đầy triết lý sống. Tục ngữ nói, giặc bên ngoài dễ phòng, giặc trong nhà khó tránh. Trong việc tu hành, điều khiến tâm con người phiền phức không yên, chướng ngại khó mà ngộ đạo, thường không phải là nhân tố bên ngoài, mà những chấp trước từ trong tâm của mình - chúng ta quá yêu tự ngã, thậm chí ngay cả những tập khí không tốt (thực ra chúng đều là giặc nhà) cũng không nỡ bỏ đi; những điều gì chúng ta đối với thần thánh (như thành công, sở đắc) thì quá yêu nó, hoàn toàn không chịu bỏ đi…

Một vị thiền giả, nếu không có thể đạt được không làm mà làm, không phải mà phải, thì vĩnh viễn không có cách nào khế nhập đạo lớn của vũ trụ; cũng vậy, một người, nếu không có cách chiến thắng giặc nhà của mình, tức khó thành tựu sự nghiệp vĩ đại.

Thiền sư Thanh Khoát duyên đời sắp hết, muốn ẩn vào núi sâu đợi ngày nhập diệt, liền di chúc kệ:

Người đời không nói đường đi khó,

Đường xa vạn dặm trong gang tấc.

Tạm biệt cây gai bên nước suối

Người về biển biếc ta về non

(Thế nhân hưu thuyết lộ hành nan,

Điểu đạo dương trường chỉ xích gian.

Trân trọng trữ khê khê bạn thủy,

Nhữ qui thương hải nga qui sơn.)

Lập tức, ngài nhường chức trụ trì, rời chùa Bảo Phúc, đến tháp Quý Hồ cất một am cỏ. Lúc sắp nhập diệt, ngài nói với đệ tử: “Sau khi ta chết, đem thi thể ta vứt cho sâu, kiến, để chúng có một bữa ăn ngon, no, tiết kiệm được việc xây tháp, chôn cất”.

Nói xong, ngài leo lên đỉnh núi Hồ, ngồi trên tảng đá lớn, nhẹ nhàng về Tây.

Đệ tử làm theo di chúc của Sư phụ, đem thi thể của ngài đặt ở vùng đất bằng bảy ngày, nhưng mà, cuối cùng không có con sâu nào đến ăn cả!

Liên quan đến thiền cơ: Đau Khổ Tức Của Cải.

Tổ sư thiền tông nói: “Phiền não tức bồ đề” nghĩa là phiền não và bồ đề không phải là hai.

Đây là một cảnh giới mà người thường chúng ta rất khó lý giải: tất cả tác dụng tinh thần ngăn ngại sự giác ngộ đều gọi là phiền não; ngược lại, cắt đứt những phiền não thế gian để thành tựu trí tuệ niết bàn gọi là bồ đề. Hai thứ này đối lập, tương phản nhau! Nhưng, đứng trên góc độ tư duy của thiền giả, về mặt biểu hiện tuy phiền não là thái độ trái ngược với bồ đề (giác), nhưng trên bản thể, hai thứ phiền não và bồ đề đều đồng nhất. Cũng như sóng cuộn trào dữ dội, nó thật ra cũng chỉ là nước, phàm là nước, đều có bản tính hướng đến bằng phẳng và yên tĩnh. Sóng cũng như vậy, xem ra nó giống như làn sóng cuồn cuộn, trên thực tế lúc nào cũng đều có xu hướng bằng phẳng yên tĩnh. Phiền não tứcbồ đề, là cách nói rốt ráo của Phật giáo đại thừa. Có thể nói, không có phiền não, thì không có bồ đề: xa rời phiền não, tức không còn cách nào để chứng đắc bồ đề. Nếu khi phải đoạn trừ chấp trước phiền não làm phai mờ đi ý nghĩ chấp trước, ngược lại sẽ hiện rõ đại trí tuệ giác ngộ, lĩnh hội sự rộng mở trong sáng của giác ngộ.

Phiền não là phản ánh của sự đau khổ. Phiền não tức bồ đề, vậy thì, phiền não chính là tài sản phải không? Câu trả lời của thiền giả là đồng ý. Thiền sư xưa có một câu nói: “tìm đạo ở trong đau khổ”, đối với thiền giả đau khổ là tài sản quí giá, là vốn liếng do trí tuệ sản sanh, là con đường giác ngộ tất yếu.

Thực ra không chỉ học Phật tu thiền như vậy, mà tất cả sự vật của thế gian đều như vậy: Ngọc không dũa không thành đồ trang sức, kiếm không mài không thể sắc bén. Trời không có sự trái nghịch của thu tàn, đông tận thì làm gì có sự phồn thịnh của xuân sanh, hạ trưởng? Nếu không có hồng thuỷ cuồn cuộn thì cha lành khó gặp, thì làm sao Đại Vũ có thể thành công trong việc trị thủy? Lửa phiền não, quả thực là nhân của giác ngộ.

Vương Mạnh Quân là một thanh niên đầy nhiệt huyết chí khí mạnh mẽ, để giúp đỡ xây dựng biên cương, vào mùa xuân năm 1952 cô nhập ngũ, đến binh đoàn xây dựng Tân Cương xa xôi, gian khổ. Lúc ấy, đúng vào thời kỳ đầu của thời xây dựng đất nước, cô đem tất cả nhiệt tình tham gia vào công cuộc xây dựng biên cương. Một lần nọ, để cứu tài sản quốc gia, Vương Mạnh Quân quên mình nhảy vào nước sông Lão Long lạnh buốt…

Trời rất lạnh, ngâm mình trong băng lạnh, làm cô ta mắc bệnh phong thấp nặng và viêm tai giữa. Mặc dầu cô được cứu sống, nhưng bệnh tình chưa thể chữa trị được, nên tiếp tục nặng thêm, và dẫn đến bại liệt tay chân.

Vương Mạnh Quân, vì bảo vệ tài sản quốc gia, mà từ một thanh niên tươi sáng rực rỡ như hoa, trở thành một người vừa điếc vừa liệt. Đương nhiên nhân dân sẽ không quên cô, khen ngợi cô là “bảo vệ” của Trung Quốc; để chăm sóc tốt hơn cho cô, tổ chức đã đưa cô đến trại an dưỡng để nghỉ ngơi. Nhưng cô không muốn trở thành gánh nặng cho quốc gia, yêu cầu được làm những công việc mà sức mình có thể làm được. Thế là, với nghị lực lớn lao, cô đã chống nạng đi nuôi ong.

Cô, người tàn tật nuôi ong ở nơi vắng vẻ, khó khăn của cô chúng ta có thể biết được. Một hôm, trong lúc chăm sóc thùng ong mật, do vì chân cô không thuận tiện, nên ngã xuống đất, làm lật ngửa thùng ong. Trong chốc lát, hàng ngàn con ong mật bị làm kinh động cho rằng kẻ thù bên ngoài tấn công, bay ra khỏi tổ, chích vào thân, vào mặt … cô.

Cô bị ong chích hơn 200 chỗ, thật không còn thấy mặt mũi - đầu sưng rất to, mặt, trán giống như cái bánh bao, mắt đều sưng húp. Cô cứ sốt cao mãi, rơi vào tình trạng nửa mê nửa tỉnh. Bác sĩ nói: trúng độc nghiêm trọng như vậy, e rằng… Nhưng, thật không ngờ, sau một tuần lễ, cô không chỉ lần nữa vùng vẫy từ cái chết trở về, mà tình trạng bệnh phong thấp đau đầu và viêm tai giữa dày vò cô trong tám năm trời đều tiêu tan!

Kỳ tích, một kì tích mãi mãi không thể nào xuất hiện trong tình huống bình thường được!

Từ đó, cô bỗng nhiên nghĩ đến: chẳng lẽ, dịch độc của ong mật, quả thật có thể chống lại độc của bệnh phong thấp? Lấy độc trị độc, là phương pháp quí báu mà tổ tông chúng ta trị liệu bệnh tật! Cô suy nghĩ thêm, ong mật dùng vòi ong chích người, há chẳng phải là giống như dùng kim chích của đông y sao? Nếu để chúng nó chích vào huyệt vị thích hợp, chẳng phải là một loại trị bệnh đặc thù sao?

Từ đó, cô đi bắt nghiên cứu dùng ong mật trị liệu bệnh tật.

Vương Mạnh Quân bắt đầu hệ thống kiến thức học tập đông y, từ “bản thảo cang mục” đến “trung y dược đại điển”, từ kim châm đến kinh nghiệm dân gian… trong lúc đọc và tra cứu tư liệu cô phát hiện, trong dịch độc ong mật có “chất an độ” có công hiệu giảm sự đau đớn, trừ viêm, tác dụng của sự giảm đau, gấp 70 lần trừ viêm. Mà vòi ong, là dụng cụ tiêm chích của các vị tổ tông, vừa an toàn, lại tuyệt đối không bị không khí lọt vào.

Bản thân Vương Mạnh Quân mắc bệnh phong thấp đã cung cấp cho thí nghiệm của cô một vật dẫn tốt nhất - nếu không bệnh tật, làm sao có thể thể nghiệm sự thay đổi vi tế của tính thuốc? Làm sao có thể cảm nhận được công hiệu nhỏ nhặt? Cô đã thí nghiệm các huyệt vị trên thân cô. Hai năm sau, cô vứt bỏ cặp nạng, bắt đầu đứng được - lại một kì tích.

Một kì tích lớn hơn còn ở phía sau: trải qua nhiều năm tìm tòi, cô nắm bắt được phương pháp trị liệu bằng ong mật có tính sáng tạo riêng, trở thành một vị bác sĩ trị liệu bằng ong chuyên nghiệp. Viết ra một số lượng luận văn lớn có phong cách đặc biệt, chữa lành cho hàng vạn bệnh nhân bị các chứng bệnh khó điều trị như bệnh phong thấp, các loại phong thấp, đau thần kinh; những thành công đã giúp những người tàn tật, bại liệt nhiều năm có thể đi đứng được trở lại.

Chuyện tương tự như vậy, Yên Đài - Triệu Kế Vĩnh từ một người bị bệnh gan nặng, đến nhà phát minh, nhà doanh nghiệp, nguồn vốn chỉ là một, cũng là đau khổ.

Ngày 28 tháng 4 năm 1989, trong lúc Triệu Kế Vĩnh lau chùi cửa sổ, vô ý đụng vào nọc độc che khuất trong khe cửa của một con bò cạp, bị chích dữ dội một hồi, Triệu Kế Vĩnh vốn bị bệnh gan rất nghiêm trọng, bây giờ thân lại trúng độc bò cạp, nên đau đớn không chịu nổi, một luồng ngứa lạ lùng như điện chạy khắp cơ thể, lúc đó, thân thể bắt đầu co giật không thể khống chế được. Trong lúc hoảng hốt, ông ta dường như đã thấy thần chết đi đến, đang dùng đôi cánh tay to lớn vô tình, bóp chặt yết hầu của ông… Nhân lúc ông ta còn tỉnh táo đôi chút, đã viết di chúc, giao phó hậu sự, trong đêm dài tĩnh lặng chờ đợi phút cuối cùng đến…

Thế nhưng, ngày hôm sau, lúc mặt trời lên cao, Triệu Kế Vĩnh không chỉ không những không la hét, ngược lại còn tỉnh táo thức dậy. Càng kỳ lạ hơn là thân thể ông ta bị bệnh tật dày vò lâu ngày, nung nấu sáu năm, bây giờ cảm nhận được sự nhẹ nhàng thoải mái chưa từng có, toàn thân nhẹ nhàng sảng khoái vô cùng.

Chẳng lẽ, độc bò cạp có thể trị được bệnh gan?

Triệu Kế Vĩnh liền suy nghĩ, cầm 120 đồng tiền còn lại trong nhà, đi mua 100 con bò cạp, nuôi ở trong nhà. Đợi khi bò cạp nhỏ lớn lên, ông ta bắt đầu những cuộc thí nghiệm tàn khốc thậm chí rất dã man - để thân thể trần truồng cho bò cạp cắn; bắt từng con bò cạp bỏ vào trong miệng, ăn tươi nuốt sống...

Nữa năm sau, ông ta tự cảm thấy thân thể hoàn toàn khỏe, đến bệnh viện kiểm tra, công năng của gan hoàn toàn bình thường. Bác sĩ lật xem bệnh án của ông, kinh ngạc vô cùng, không sao tin được.

Từ đó, Triệu Kế Vĩnh bắt đầu nuôi bò cạp với số lượng lớn. Ông ta lại càng nghĩ đến, thành phần trị bệnh chủ yếu của bò cạp là nộc độc bò cạp. Từ đó, ông lại phát minh ra kỹ thuật lấy chất độc từ bò cạp sống, kỹ thuật tinh chế bột bằng độc bò cạp, nghiên cứu chế biến những sản phẩm từ chất độc ở miệng và bụng bò cạp…

TẮC THỨ 30: GỌI CÁI GÌ LÀ VẠN TƯỢNG

Thiền sư Long Tế Thiệu Tu, nguyên xuất gia với Thiền sư Huệ Lăng tại chùa Trường Khánh tỉnh Phúc Châu. Năm nọ, một tỳ kheo trẻ từ Triết Giang vân du đến chùa Trường Khánh xin ngủ nhờ. Ông là Đại sư Văn Ích rất nổi tiếng, khai sáng tông Pháp Nhãn sau này. Pháp Nhãn Văn Ích hào hoa phong nhã, bụng đầy gấm vóc; Long Tế Thiệu Tu tâm hồn khoáng đãng, cử chỉ tự tại; còn một vị nữa là thiền sư Pháp Tiến, ba người tuổi tác xấp xỉ, tính tình gần giống nhau, đều là những thiền khách đầy ý chí. Tự nhiên trở thành bạn tốt. Họ tham thiền ở dưới trướng của thiền sư Trường Khánh Huệ Lăng đã lâu, cơ duyên chưa khế hợp, không thể ngộ nhập. Thế là, sau khi giải hạ, nhân mùa thu mát mẽ ba người bạn tốt cùng nhau tham học kết bạn đi vân du đó đây.

Chùa Phật cô trang giữa vách núi,

Ta đến cảnh thơ càng tương quan.

Bên động cây rung khỉ xuống suối,

Trong mây lay động Tăng lên núi.

(Phật thi cô trang thiên chướng gian,

Ngã lai thi cảnh cường tương quan.

Nham biên thọ động hầu hạ giản,

Vân lí tích động tăng thướng sơn.)

Thiệu Tu và hai người bạn tham thiền cùng thong thả vân du, họ vào núi sâu viếng chùa cổ, vào am cỏ thăm lão tăng, không hay khong biết cây cỏ đã ngã sang màu vàng, lá bay lác đác. Mùa đông lặng lẽ đến. Lúc họ đi qua Chương Châu, một trận tuyết lớn trên trời giáng xuống, trời đất mịt mờ, đi lại trở ngại. Họ đến thiền viện Địa Tạng phía Tây Chương Dương, xin ngủ nhờ, định đợi tuyết dừng rồi vân du tiếp.

Trú trì viện Địa Tạng, chính là La Hán Quế Thâm cùng qua lại với Huệ Lăng Trường Khánh rất thân thiết. Đại sư Quế Thâm kiến thức cao thâm, cơ phong như núi, chỉ vài ba câu, đã thuyết phục được ba thiền giả lang thang trong thiền lâm này, khiến họ năm vóc sát đất, đặt hành lý xuống, ở lại đó một thời gian lâu dài (xem Tùng Thư “Thiền Thiên Thiền Địa – Nhất Thiết Hiện Thành”). Dưới sự huấn luyện của Đại sư Quế Thâm mối nghi ngờ trong lòng Pháp Nhãn đã bùng vỡ như băng tan. Thiệu Tu cũng đạt được sở đắc. Một ngày nọ, Đại sư Quế Thâm lên pháp đường, có hai vị tăng ra lễ bái. Không đợi họ hỏi, Quế Thâm liền trách mắng: “Sai, đều sai, hai người đều sai!”

Hai vị tăng ngốc nghếch, mù tịt không đáp được. Sau buổi giảng, hai người họ đến gặp thiền sư Thiệu Tu hỏi thêm. Thiệu Tu nói: “bản thân ngươi đường đường nguy nga (chỉ Phật tánh vốn có của mỗi người), lại lễ bái người khác, còn muốn nhờ người khác chỉ bảo, chẳng phải là sai lầm lắm sao?”

Lúc đó, thiền sư Thanh Khê Hồng Tiến là thủ tòa của viện Địa Tạng. Ông đứng bên cạnh nghe xong, cười lạnh lùng. Thiệu Tu biết thủ tòa không đồng ý cách nói của mình, liền quay sang hỏi: Chẳng lẽ lời của tôi có gì sai sao? Thế thì, ý của thủ tòa như thế nào?”

Thủ tòa Hồng Tiến nói: “Tự ông còn mê hoặc, lại có thể chỉ điểm điều mê cho người khác sao? Dùng mê dắt mê, dùng mù dắt mù, có thể không sai được sao!”

Thiệu Tu không phục, tức giận đến phương trượng, nhờ đường đầu Hòa thượng phân giải. Đại sư Quế Thâm không trực tiếp bình luận đúng sai của họ, dường như không quan tâm đến chỉ tay xuống dưới hành lang nói: “Điển tòa đi vào phòng người giữ xe đi.”

Thiệu Tu nghe xong, biết rõ mình sai rồi.

Lại một hôm khác, thủ tòa Hồng Tiến hỏi thiền sư Thiệu Tu: “Biết rõ đạo lý sanh là không sanh, tại sao còn luân lạc trong dòng sanh tử luân hồi?”

Thiệu Tu nói thiền rất hay: “Măng, cuối cùng thành tre, nay chẻ tre còn được không?”.

Thủ tòa Hồng Tiến cười ha hả, nói: “từ nay về sau ngươi tự đi thể ngộ đi.”

Thiệu Tu chất vấn: “Kiến giải của tôi chỉ như vậy, ý chỉ của thủ tòa như thế nào?”.

Thủ tòa Hồng Tiến chỉ trước phòng nói: “Đây là phòng khách, kia là phòng điển tòa”.

Thiệu Tu hơi tỉnh ngộ, bèn lễ tạ Hòa thượng thủ tòa đã nhiều lần dẫn dắt ông ba lễ.

Người bạn Pháp Tiến cùng từ Phúc Châu đến, ngưỡng mộ chùa chiền ở Triết Giang mọc lên như rừng, cao tăng vân tập, nên rủ Pháp Nhãn Văn Ích cùng mình đi lên phía Bắc. Thiền sư Long Tế Thiệu Tu tự cho rằng sở đắc đã rốt ráo, liền cùng hai người bạn từ biệt sư phụ, mây nước vân du. Thiền tăng hành cước, trên đường tự nhiên sẽ thảo luận đến chuyện tu hành. Thiền sư Thiệu Tu cứ thao thao bất tuyệt, nói năng khoác lác, dường như điều gì cũng biết, việc gì cũng có thể. Nhưng từ lời nói của ông Pháp Nhãn Văn Ích có thể thấy sư đệ Thiệu Tu chưa phá được cửa thiền cuối cùng. Lúc họ đến Kiến Dương, Thiệu Tu lại bắt đầu nói suông về thiền lý. Bỗng nhiên, Pháp Nhãn Văn Ích chỉ con ve đang kêu ở trên cây nói: “Con ve này, suốt ngày kêu ‘biết rồi, biết rồi’, nhưng cái biết của nó thật sự đã biết rõ chưa?”

Pháp Tiến nháy nháy đôi mắt nhỏ, bộ mặt buồn cười, cũng thừa cơ khiêu khích nói: “Nó tuy suốt ngày không ngừng kêu thiền, nhưng không biết thiền (con ve trong tiếng hán là thiền cùng âm với thiền) là vật gì?”.

Thiệu Tu bị hai người họ cười nhạo đỏ cả mặt, ông vừa xấu hổ vừa tức giận, nên miễn cưỡng ngụy biện rằng: “Các người không phải là ve (thiền), làm sao biết nó không biết về thiền?”.

Pháp Nhãn Văn Ích không cười đùa nữa, trịnh trọng hỏi ông ta: “Chúng ta cùng tham bái Đại sư Trường Khánh Huệ Lăng, ông lại xuất gia ở chùa Trường Khánh, tham thiền lâu năm, một bài kệ ngài nói:

“Trong vạn tượng riêng lộ tự thân,

Riêng ta tự nhận mới biết gần.

Ngày xưa lầm lỡ tìm giữa đường,

Ngày nay nhìn lại băng trong lửa.”

“Trong vạn tượng riêng lộ tự thân là ra khỏi vạn tượng hay không ra khỏi vạn tượng?”

Trong vạn tượng riêng hiển lộ bản thân, đương nhiên đó là tự tánh; bạt, nghĩa là bài trừ, tách ra. Thiền sư Thiệu Tu đáp: “Không trừ”.

Pháp Nhẫn cười ha hả, hỏi: “trừ hay không trừ là gì?”

Thiệu Tu mờ mịt không hiểu diệu dụng thâm sâu trong đó, quẫn bách đến nỗi đỏ mặt tía tai. Ông lập tức chuyển phương hướng, đi suốt ngày đêm quay về viện Địa Tạng. Đại sư La hán Quế Thâm hỏi ông: “Ngươi đi chưa lâu, sao lại trở về rồi? Cứ đi đi về về, cũng không sợ gân cốt mỏi mệt sao”.

Thiệu Tu nói: “Trong lòng có vấn đề chưa giải quyết được, chẳng lẽ lại sợ trèo non lội suối sao!”

Đại sư Quế Thâm nói: “Ngươi trèo non lội suối nhiều rồi, mà chưa cảm thấy chán nản à!”

Tốt và xấu là sản phẩm do lòng người phân biệt mà có. Một đống phân trâu nằm giữa đường, chúng ta đều bịt mũi đi qua, chỉ sợ tránh cũng không khỏi; người nông dân hốt phân từ xa thấy nó, mắt sẽ sáng rực lên, sợ bị người khác cướp đi; ý của Đại sư Quế Thâm muốn nói, Thiệu Tu không chán trèo non lội suối, đối với sông núi chưa khởi tâm phân biệt, nhưng sông núi tức là vạn tượng! Ngươi ra khỏi hay không ra khỏi?

Tiếc rằng, Thiệu Tu chưa lãnh ngộ chỉ dụ của sư phụ, nên có hỏi:“Người xưa nói: Trong vạn tượng riêng hiển lộ thân, rốt cuộc nghĩa là gì?”

Đại sư Quế Thâm hỏi ngược lại để chỉ thị cho ông: “Ngươi nói, người xưa ra khỏi vạn tượng hay không ra khỏi vạn tượng?”

“Không ra khỏi”. Thiệu Tu vẫn đáp như cũ. Quế Thâm đưa ngón trỏ và ngón giữa ra nói: “Hai ngón rồi”

Đại sư Quế Thâm muốn nói: “Vạn tượng” cũng “riêng lộ thân” không hai không khác, nói ra khỏi, hay nói không ra khỏi, đều sẽ phân ra hai bên, cho nên ở đây không thể khởi tâm phân biệt.

Hai ngón tay của sư phu, giống hai ngọn núi cao lớn hùng vĩ, cao, không thấy đỉnh của nó, rộng ,không thấy bên kia, không thể nào leo lên, không thể vượt qua, tức chỉ có thể đứng trước nó như vậy ! Thiệu Tu im lặng trầm tư, sau đó lại hỏi: “Không biết người xưa ra khỏi vạn tượng hay không ra khỏi vạn tượng?”

Thiệu Tu đã đến nông nổi này, tư tưởng ý thức còn rơi vào phân biệt đối lập giữa ra khỏi và không ra khỏi, không thể tự bước ra được! Quế Thâm hét một tiếng: “Ngươi gọi cái gì là vạn tượng?”

Thiệu Tu bỗng nhiên tỉnh ngộ.

Sâm la vạn tượng, đều là hiển hiện tự tánh, cho nên, Mã tổ nói: thấy sắc tức thấy tâm; vì vậy trong con mắt thiền giả, từng hạt bụi đều là hiện thân vốn có; vì vậy, trong sâm la vạn tượng, đặc biệt hiển bày ra pháp thân thanh tịnh. Sau đó, đại tài tử Tô Đông Pha đời nhà Tống cũng lãnh ngộ được cảnh giới này nên viết bài thơ rằng: “Tiếng suối tức là lưỡi rộng dài, sắc núi chính là thân thanh tịnh”.

Ngàn năm sau, sau khi Đại sư Hư Vân, cao tăng thời cận đại khai ngộ, có bài kệ: “Xuân đến khắp nơi hương hoa đẹp, sông núi đại địa là Như Lai”.

Từ đây có thể thấy, thiền tông liền một mạch nguồn, pháp vốn như vậy, xưa nay tiếp nối, xưa nay tương đồng.

Sau khi Thiệu Tu đại ngộ, một lần nữa từ biệt sư phụ, đuổi kịp hai người bạn Pháp Nhãn Văn Ích và Pháp tiến; Lúc hai người một lần nữa nói đến công án này, Thiền sư Thiệu Tu mới phát hiện, lời của Pháp Nhãn cùng sự khai thị của Quế Thâm, trước sau đều giống nhau, hoàn toàn nhất trí.

Phật pháp không nhiều mối, đạo thiền chỉ một cửa, quyết không dối vậy.

Sau này Thiền sư Thiệu Tu một mình đến ở ẩn tại chùa Long Tế - Ngô Châu - Giang Tây, người ta gọi ông là “Tu Sơn Chủ”. Ông vốn không nghĩ dến việc thâu nhận đồ chúng khai mở đạo tràng thuyết pháp. Nhưng học tăng bốn phương nghe tiếng mà đến, theo ảnh hỏi người, chùa Long Tế yên tĩnh nghiễm nghiên trở thành đạo tràng náo nhiệt. Long Tế Thiệu Tu không thể không thăng tòa thuyết pháp: gồm pháp phàm phu, phàm phu không biết, gồm pháp Thánh nhân, Thánh nhân không hay, Thánh nhân nếu biết tức là phàm phu, phàm phu nếu biết, tức là Thánh nhân. Hai câu này một lý mà hai nghĩa, nếu người biện bác được, không trở ngại trong Phật pháp có người ấy, nếu không biện bác được, chớ nói không nghi ngờ, tạm biệt!

Có một vị Tăng hỏi: “Thấy sắc liền thấy tâm, hiển lộ là sắc, thế nào là tâm?”

Long Tế Thiệu Tu nói:” Thật may ngươi chưa lãnh hội, đừng lừa dối người đã rõ”.

Thiền tăng không hiểu, lại hỏi:” Làm sao ra khỏi ba cõi?”

Thiền sư Thiệu Tu: “Nếu là ba cõi, thì tùy ngươi ra khỏi”

Ý ông muốn nói, vạn pháp vốn không, không có ba cõi để mà ra khỏi.

“Không phải ba cõi thì như thế nào? Thiền tăng vẫn rơi sâu vào trong sự phân biệt, Thiền sư Thiệu Tu dứt khoát để ông ta đã ở trong tuyết lại còn thêm sương, nên hỏi lại: “Chỗ nào không phải là ba cõi?”.

Một niệm tỉnh ngộ, tuy có ba cõi nhưng không ngăn ngại; một niệm mê muội, ba cõi vốn không nhưng lại chướng ngại.

Đệ tử hỏi: “lúc gương xưa chưa lau thì như thế nào?”.

Long Tế Thiệu Tu nói: “Chiếu soi trời đất”.

Người xưa đều dùng gương bằng đồng, gương đồng chưa lau, đương nhiên không thể sử dụng, nhưng Thiền sư Thiệu Tu tại sao nói: “Nó chiếu khắp trời đất?” Thì ra, đây là một công án mà thời xưa các Thiền sư thường nêu ra. Gương xưa, tượng trưng tự tánh; chưa chùi, là chưa từ bỏ bụi trần, cũng chính là chưa minh tâm kiến tánh. Lục Tổ Huệ Năng nói: “Tự tánh vốn tự nó thanh tịnh, Ngài còn nói, “vốn không có một vật nào, lấy chỗ nào để bụi bám?”. Cho nên, gương xưa tượng trưng tự tánh, căn bản không có phân biệt chùi hay không chùi. Lúc chưa chùi, bản tính chiếu khắp trời đất của nó cũng không giảm tí nào.

“Sau khi chùi như thế nào?” Đệ tử không hiểu, hỏi tiếp. Thiệu Tu trả lời rằng: “Đen thui thui”.

Có một vị du tăng đến, Long Tế Thiệu Tu hỏi ông từ đâu đến? Ông ta nói từ Thúy Nham đến. Thiền sư Thiệu Tu hỏi: “Thúy Nham dạy đồ chúng câu gì ?”

Vị du tăng đáp: “Thiền sư Thúy Nham thường nói: ra đường gặp Di Lặc, vào nhà thấy Thích Ca”.

Thiền sư Thiệu Tu có ý không hiểu, nói: “làm sao lại nói như vậy được!”

Du tăng là một vị tham thiền đã lâu, biết vị đường đầu đại Hòa thượng đang tạo thiền cơ dẫn dắt mình, lập tức tiếp cơ, gạn hỏi thêm: “ thưa đại Hòa thượng ngài nói như thế nào?”

Thiền sư Thiệu Tu hỏi đầy thiền ý: “Ra đường gặp ai vào nhà thấy người nào?”

Du tăng tỉnh ngộ ngay trong câu nói đó, Thích ca Mâu Ni cũng được, Di Lặc bụng to cũng được, vào nhà,ra đường chẳng phải đều là diệu dụng và vận hành của tự tánh đó sao!

Long Tế Thiệu Tu lên pháp đường nói: “Thanh sắc không đến nơi, lỗi ở chỗ thấy nghe, giải thích không tường tận, quấy ở nơi vành môi”.

Ý ngài muốn nói chân đế của thiền, không thể dùng ngôn ngữ để trình bày rõ ràng rõ ràng. Một vị thiền tăng rất nhạy bén, nói rằng: “thưa Hòa thượng xin ngài nói về xa lìa tất cả thanh và sắc.”

Xa lìa thanh sắc, làm sao có thể nói? Còn nói cái gì?” Nhưng thiền sư Thiệu Tu tự chuyển hướng nói: “Ngươi ở trong thanh sắc mà lại hỏi!”

Thế là Thiền Tăng cơ trí liền từ trong thanh sắc hỏi: “Thế nào là tâm của con?”

Thiền sư Thiệu Tu nói: “Là ai đang hỏi như vậy?”

Đúng vậy, người đang hỏi kia, người có thể hỏi vậy kia, chẳng phải chính là tâm ngươi sao!

Thiền sư Thiệu Tu học rộng văn hay, có trước tác “Quần Kinh Lược Yếu” và hơn 60 bài thơ tụng truyền lại cho đời. Như:

Gió động tâm cây lay,

Mây sanh thổi bụi trần.

Nếu ngày hôm nay sáng,

Mê mờ không đến ngươi.

Muốn biết đạo giải thoát,

Các pháp không cùng đến

Mắt tai không thấy nghe,

Thanh sắc đến quấy rối.

Sơ tâm chưa nhập đạo,

Cũng không được náo loạn,

Trong tiếng chuông lấy bỏ,

Trong tiếng trống đảo điên.

Chư Phật không xuất thế

Bốn chín năm thuyết pháp.

Tổ sư không quy Tây,

Thiền Lâm có diệu quyết.

Vạn pháp là tâm sáng,

Các duyên chỉ tánh biết.

Vốn không người mê ngộ,

Chỉ cần hôm nay thôi.

Liên quan đến Thiền cơ : Câu Chuyện Nguyên Hiểu

Theo Phật giáo truyền thừa bằng chữ Hán, ngày xưa được truyền đến bán đảo Triều Tiên. Vì vậy, trên bán đảo này có nhiều chùa chiền, cao Tăng xuất hiện. Nước Tân La thời cổ đại, vị cao tăng Nguyên Hiểu thuộc tông Hoa Nghiêm được xưng là một vị cao tăng kiệt xuất, trác việt. Ảnh hưởng của ngài không chỉ giới hạn ở Phật giáo Tân La. Dù cho các vị cao tăng đại đức của Phật giáo Trung quốc liên tục xuất hiện thì ảnh hưởng của ngài cũng không hề phai mờ.

Nguyên Hiểu là người Tương Châu - Tân La, họ Tiết, nhỏ tên là Thệ Tràng, lớn lên xuống tóc xuất gia ở chùa Hoàng Long, chuyên tâm tu học. Sau này, ngài bái Pháp Tạng chùa Hưng Luân và Cao Cú Lệ Tăng Phổ Đức làm thầy, học tập “Kinh Niết Bàn” v. v… lúc chưa vân du đây đó ngài thường đến thỉnh giáo những vị Cao Tăng khác. Chính cách chuyên sâu nghiên cứu không biết mệt mỏi này, khiến văn phong của ngài phóng khoáng, biện bác sắc sảo, không ai có thể so tài cùng ngài. Cho nên, mọi người gọi ngài là “thắng vạn người”.

Người xưa dạy: học mà không biết đủ, Nguyên Hiểu học lại có thành tựu, nhưng càng ngày càng cảm thấy Phật giáo rộng lớn uyên thâm. Thế là, ngài cũng giống những bậc tiền bối trên bán đảo vậy, bắt đầu nảy sinh ý niệm sang nhà Đường cầu pháp. Tân La năm thứ tư Chân Đức Nữ Vương (năm 650 tây lịch) Ngài rủ sư đệ Nghĩa Tương cùng đang tu học dưới trướng Phổ Đức (năm 625 – 702, sau khi học thành tài từ Trung Quốc trở về, đã trở thành sơ tổ tông Hoa Nghiêm ở bán đảo Triều Tiên, được xưng là “Viên giáo Quốc sư”) kết bạn cùng đi.

Lúc họ đến vùng ranh giới giữa Đường Châu và Hải Môn, đột nhiên gặp mưa to gió lớn, hoang vắng không một bóng người, phía trước chẳng thấy thôn phía sau chẳng thấy nhà, ngay cả một chỗ ẩn mưa tránh gió cũng không có. Trời tối rất nhanh, chỉ thoáng chốc, trời tối sầm đến nỗi đưa bàn tay ra không thấy rõ năm ngón. Trời xanh dường như xót thương cho họ, Nguyên Hiểu may mắn phát hiện ra một cái hang trong đê đất bên đường.

A Di Đà Phật ! Cám ơn trời đất ! Đối với người đi đường gặp phải mưa gió, thì một cái hang đất tối om om chính là thiên đường rồi. Hai người họ vừa mò mẫm đi vào, vô cùng vui vẻ, sung sướng nằm xuống, thoáng chốc đã chìm vào giấc mơ ngọt ngào…

Ngày hôm sau, trời mới sáng, vừa tỉnh dậy, Nguyên Hiểu thoáng nhìn, trời ạ, họ đang nằm trong ngôi mộ cổ!

Dưới chân hài cốt nằm ngổn ngang, mấy cái đầu lâu đen sì đang nhìn họ… Nguyên Hiểu nổi da gà, lạnh xương sống…

Nếu không phải bên ngoài trời đang mưa như trút nước, cuồng phong thịnh nộ, thì ông chẳng dám ở trong ngôi cổ mộ âm u đáng sợ này thêm chút nào nữa. Ông trời như đang quyết tâm thử thách dũng khí của họ, suốt một ngày như vậy mưa gió vẫn không ngừng. Trời lại dần dần u ám trở lại, lại thêm một đêm nữa. Hai người học không thể không gan lì được, tiếp tục ở trong ngôi mộ cổ thêm một đêm dài đằng đẵng.

Ban đêm, là lúc những u linh và quỷ quái ẩn hiện, huống hồ ngôi cổ mộ này, vốn là thế giới của những hồn quỷ.

Nguyên Hiểu nằm ngồi không yên ổn, lại càng không dám ngủ, thậm chí không dám nhắm mắt lại! Đêm, càng lúc càng khuya, trời, càng lúc càng tối, trong sợ hãi, những u hồn quỷ quái trong cổ mộ xuất hiện, từng tràng bóng quỷ, làm cho người ta vô cùng lo sợ …

Thế là, trong lúc sợ hãi cực độ, Nguyên Hiển bỗng nhiên nghĩ đến: “Đêm thứ nhất, một lòng cho rằng đây là hang đất, tất cả bình an vô sự. Đêm nay, trong lòng luôn nghĩ mình đặt thân nơi xứ quỷ, mới có nhiều ma quỷ tác quái như vậy. Từ đây có thể biết, toàn là do tâm sanh, mới có các pháp sanh, chỉ cần tâm diệt, thì các loại u linh cũng không thể hiện hình.”

Nghĩ đến đây, ông bình tâm trở lại ngồi thiền, giữ chặt tâm niệm của mình, tỉnh táo yên tịnh, rõ ràng sáng suốt , quả nhiên tất cả hình ảnh huyễn hóa của ma quỷ đều biến mất không còn bóng dáng, mộ cổ đêm nay và hang đất đêm qua, không hai không khác. Từ đó ông ta lại nghĩ: “Đây chính là tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức, cũng là chứng minh rằng ngoài tâm không có pháp. Cho nên, người xưa nói: “tất cả pháp đều do tâm khởi, chớ tìm cầu bên ngoài’ vậy thì, Nguyên Hiểu ta tại sao phải tìm cầu chân lý bên ngoài tâm, đến Trung Quốc cầu pháp gì chứ?”

Ngày hôm sau, bầu trời trong sáng, sóng nắng chiếu trên cao. Nhưng mà, Nguyên Hiểu lại cáo biệt Nghĩa Tương, không đi về hướng Đại Đường nữa, một mình quảy hành lý trở lại Tân La. Và trọn đời không bao giờ nghĩ đến việc sẽ xa rời cố quốc nữa.

Nguyên Hiểu cho rằng đây chính là nguồn của luận vạn pháp đều do thức, từ đó về sau, hướng cho bán đảo Triều Tiên thoát khỏi thời kì cầu pháp Phật giáo, bước vào thời đại căn cứ vào nội chứng của bản thân để thành lập giáo pháp, tự thực hành để xác lập Phật giáo nước mình.

Câu chuyện này thật hay giả tạm thời không bàn đến, nhưng nó thật sự là khúc nhạc tràn đầy ý nghĩa thời đại, và ý vị thâm sâu. Từ đó, Nguyên Hiểu hoặc hiện thân trong trần tục, hoặc trèo non lội suối sống cuộc đời vô cùng tự do phóng khoáng. Ông gởi thân trong chùa chiền, đàn hát tiêu khiển, hoặc ẩn hiện ở quán rượu, thanh lâu, thân tâm phóng khoáng, có lúc lại tọa thiền ở núi non, đào luyện tâm lí…

Tháng ngày của Nguyên Hiểu, có thể gọi là tùy ý mà làm, tùy tánh mà đi, chưa từng có băn khuăn lo lắng gì. Ông, với đại trí tuệ mang sắc thái truyền kì đã được các tầng lớp nhân sĩ Tân La rất tôn sùng.

Theo thống kê, trước tác của Nguyên Hiểu tổng cộng có 57 bộ, hơn 253 quyển. Những trước tác tiêu biểu như: “Vô Lượng Thọ Kinh Tông Yếu”, “Kim Cang Tam Muội Kinh Luận”, “Đại Thừa Khởi Tín Luận Sớ”, “Hoa Nghiêm Kinh Sớ” đặc biệt các sớ luận như “Khởi Tín Luận Sớ” …rất được giới Phật giáo Trung Quốc bản địa tôn trọng, gọi là “Hải Đông Sớ”, giao lưu với Phật giáo Trung Quốc, trở thành căn cứ cho tư tưởng thanh lương trừng quán.

Nguyên Hiểu đã tập hợp những thành tựu của Phật giáo ngày xưa, tiến hành xây dựng nền Phật học Tân La mới mẽ, cho nên, có người tôn xưng Nguyên Hiểu là Tổ của tám tông phái Phật giáo Triều Tiên, mà ngài cũng không hổ thẹn xứng đáng được như vậy.

TẮC THỨ 31: ĐẢN SANH CỦA ĐỨC PHẬT

Phật giáo khởi nguồn từ Ấn Độ cổ vào thế kỷ thứ V, VI trước công nguyên, vị sáng lập là Vương Tử Tất Đạt Đa Kiều Đạt Ma tức đức Phật Thích Ma Mâu Ni ở nước Ca Tỳ La Vệ thuộc nước Nepal ngày nay. Thời kỳ đó tương đương với thời Xuân Thu Chiến Quốc của Trung Quốc, đức Phật Thích Ca Mâu Ni và đức Khổng Tử của Trung Quốc gần như là những nhân vật cùng một thời đại. Thời kỳ Vương Tử Tất Đạt Đa sáng lập ra Phật giáo, là thời kỳ mà các nước Ấn Độ lúc bấy giờ liên tục tiến hành các cuộc chiến tranh, giữa bốn đẳng cấp Bà La Môn, Sa Đế Lợi, Phệ Xá, Thủ Đà La của toàn xã hội Ấn Độ cũng nảy sinh xung đột về kinh tế, chính trị, xã hội rối loạn nhiễu nhương, giữa lúc những mâu thuẫn về dân tộc và giai cấp vô cùng gay gắt ấy, đại vương tử Đất Đạt Đa dự cảm được vương triều khó khánh khỏi kết cục bị tiêu diệt, hiểu thấu sự vô thường biến hóa của thế gian, cảm thông sâu sắc rằng nhân loại đang sống trong khổ nạn, suốt đời bị phiền não vây khốn. Là một Vương tử cuộc sống của Ngài sung túc thoải mái, lại có được sự giáo dục văn hóa cao, đọc qua rất nhiều kinh điển Phệ Đà, nhưng tất cả những điều kiện ưu việt đó, cũng không thể giúp Ngài dẹp trừ được phiền não, đạt được sự giải thoát về tinh thần. Thế là năm 29 tuổi, bất chấp sự ngăn cản của vua cha, Ngài kiên quyết từ biệt vợ con, vứt bỏ vương vị, cạo bỏ râu tóc, khoác áo ca sa, xuất gia tu hành. Xuất gia rồi, Vương tử nỗ lực cầu mong tìm được phương pháp giải trừ phiền não. Đầu tiên, Ngài đến tu hành tại rừng Khổ Hạnh với tiên nhân Bạt Già, trải qua tất cả các phương pháp khổ hạnh dày vò thân thể, để cầu được giải thoát tinh thần. Nhưng, hoàn toàn không thể đạt được kết quả, Ngài không đồng ý với phương pháp tu tập này, chỉ ở lại một đêm rồi bỏ đi. Sau đó, Ngài qua phía Nam sông Hằng, đi đến thành Vương Xá thủ đô nước Ma Kiệt Đà, đi theo một vị thờ phụng phái Số Luận là A-la-la-ca-la-ma-hòa-úc-la-ca-la-ma-tử để tu tập thiền định, nhưng Ngài vẫn cho rằng không thể đạt đến sự giải thoát chân chánh. Thế là, Ngài lại đi đến rừng Khổ Hạnh ở núi Già- các tiếp tục tiến hành tu luyện khổ hạnh. Truyền thuyết nói rằng: “mỗi ngày Ngài chỉ ăn một hạt mè và một hạt gạo”, mài dũa thân thể, tu hành khổ hạnh bên bờ sông Ni-liên-thiền, trải qua sáu năm. Nhưng kết quả chỉ uổng công mà chẳng có kết quả gì. Cuối cùng, Ngài hiểu ra rằng khổ hạnh là vô ích, bởi vì chấp trước vào khổ hạnh, làm khổ thân thể mà mong được giải thoát, chỉ là chấp chặt vào thân thể. Việc lớn giải thoát không phải dùng thân thể chịu khổ mới có thể đạt được, mà phải quên đi thân thể mới có thể đạt được; chấp trước vào khổ hạnh, vẫn chưa thể quên đi thân thể, tâm không thể nào thanh tịnh được; tâm không thanh tịnh, thì tất cả những ô uế không thể tiêu trừ; ô uế không thể tiêu trừ, làm sao có thể đi đến đại đạo giải thoát? Sau khi Vương Tử hiểu ra khổ hạnh là vô ích, Ngài liền xuống dòng Ni-liên-thiền tắm gội cấu uế tích tụ sáu năm, sau đó lại thọ lãnh một bát cháo sữa do người phụ nữ chăn cừu cúng dường, bồi dưỡng thân thể, khôi phục khí lực. Sau khi Vương Tử đã khôi phục khí lực, ngài hoàn toàn xả bỏ công việc tìm cần con đường giải thoát, Ngài lại một mình rời khỏi rừng sâu, vượt qua sông Ni-liên-thiền, đến bên cạnh một núi nhỏ của dãy núi Già-da, ngài nhìn thấy một cây Bồ đề xum xê, liền đến ngồi kiết già dưới gốc cây, thân tâm đoan nghiêm, tĩnh tọa tư duy, quyết tâm tìm ra con đường giải thoát chân chánh, và phát thệ nguyện rằng : “Nay nếu ta không chứng được đại bồ đề vô thượng (giác ngộ) thì thà bỏ thân nơi đây, chứ quyết không đứng dậy khỏi chỗ này”. Trải qua bảy ngày bảy đêm (có thuyết nói 49 ngày), Vương Tử cảm thấy trong tâm bình tĩnh, tất cả phiền não không còn sanh khởi nữa. Cuối cùng Ngài ngộ được “phiền não tức bồ đề”, chứng thành Phật đạo, lúc đó Vương Tử 35 tuổi, từ đó mọi người tôn xưng Vương Tử là “Phật Đà”, hay là “Phật”, nghĩa là vị đã giác ngộ chân lý. Vì Vương Tử là người của dòng họ Thích Ca, sau khi thành đạo, mọi người tôn xưng ngài là Thích Ca Mâu Ni, nghĩa là “Thánh nhân của dòng họ Thích Ca”, tín đồ Phật giáo quy y theo Ngài tôn xưng Ngài là Thế Tôn, Thích Tôn. Sau khi đức Phật giác ngộ thành đạo, để giúp người khác hiểu được học thuyết tư tưởng của Ngài, Ngài đã bắt đầu hoạt động truyền giáo trong thời gian dài 45 năm. Ngài qua lại hai bên bờ sông Hằng, thu nhận nhiều đệ tử, tại vườn Lộc Uyển ngoài thành Ba-la-nại, Ngài đã trao truyền Phật pháp cho năm anh em Kiều Trần Như, tiếp nhận họ làm năm vị đệ tử đầu tiên, lần thuyết pháp này, Phật giáo gọi là “Sơ chuyển Pháp Luân”. Sau đó Ngài lại thu nhận Da Xá, hai anh em Ca Diếp, Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên… và rất nhiều người thân của Ngài như Đề Bà Đạt Da… làm đệ tử, con trai của ngài là La Hầu La, di mẫu là Ma-ha-ha-xà-ha-đề đều gia nhập Phật giáo. Sau đó thế lực ngày càng rộng lớn, tập hợp thành tổ chức tín đồ Phật giáo - Tăng đoàn, rất được vương tộc và hào phú giúp đỡ. Hào phú, quốc vương, thương nhân đã dâng cúng tinh xá Kỳ Viên, tinh xá Trúc Lâm… cho Ngài làm đạo tràng thuyết pháp. Đức Phật đã chọn nhiều phương thức linh hoạt đa dạng, dùng kệ tụng, lời lẽ, kể chuyện, thí dụ vấn đáp … để tuyên truyền Phật pháp một cách rộng rãi, không chỉ bản thân hoằng pháp mà còn bảo đệ tử hoằng pháp, từ đó làm cho Phật giáo truyền bá rộng rãi trong xã hội.

TẮC THỨ 32 : TRÍ TUỆ TỐI CAO

Giáo nghĩa cơ bản của Phật giáo là : đời người vô thường, đầy dẫy khổ đau, chỉ có tin tưởng Phật giáo, nỗ lực tu hành, mới có thể thoát khỏi khổ đau một cách triệt để, tiến vào cảnh giới Niết bàn. Học thuyết cơ bản của Phật giáo có: “Tứ đế”, “Bát Chánh Đạo”, “Ngũ Uẩn”, “Thập Nhị Nhân Duyên”, “Tam Pháp Ấn”, “Tam Học”… Mà Tam Học là con đường tu hành cơ bản của Phật giáo.

Tam học tức là Giới, Định, Tuệ.

Nguyên tắc chủ yếu của Giới học là ngăn ngừa các điều sai quấy, đình chỉ các việc ác. Đình chỉ các việc ác cũng gọi là luật nghi. Những nhà thuyết pháp chuyên môn chia giới thành giới hữu lậu thế gian và giới vô lậu xuất thế gian. Chủ yếu có 10 giới thiện là: Không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không nói ác, không nói hai lưỡi, không nói thêu dệt, không tham, không sân, không si… Mục đích của Giới học là để điều chỉnh thân tâm, làm phát sanh định tâm thống nhất.

Định là chỉ cho sự an định thống nhất trong tinh thần, nhưng tĩnh tâm là phương pháp có nhiều trình độ khác nhau, cái tĩnh trong dục giới của tâm định tĩnh thường ngày của người bình thường hoàn toàn không phải là thống nhất tinh thần chân chính, thống nhất tinh thần chân chính gọi là tĩnh căn bản. Mục đích chủ yếu của tu tâm thiền định là làm cho tâm thống nhất, từ đó có thể làm cho tâm trong sáng lắng đọng, quán sát thật tướng của các pháp, đạt được trí tuệ đúng đắn, làm cho tâm rỗng rang trong sáng, từ đó có thể chọn lựa được những phán đoán thích hợp, đưa ra những xử lý nhanh nhạy và chính xác. Mục đích của thiền định là nhờ định mà đạt được tuệ, và thêm những hoạt dụng của tuệ. Do vì người có định phát sanh trí tuệ mà vận dụng phương pháp tu tập quán sát Ngũ uẩn, quán Tứ đế…

Mục tiêu cao nhất của việc tu tập trong Phật giáo là đạt được trí tuệ giác ngộ, bất luận là Tam Học hay Thập Vô Học Pháp, Lục Ba La Mật đều đặt trí tuệ vào vị trí cao tột. Nhưng trí tuệ có nhiều loại; trí tuệ hữu lậu của dục giới, trí tuệ chứng ngộ của Sơ thiền; trí tuệ của hàng Thanh Văn, A la hán, trí tuệ của Bích Chi Phật (Duyên Giác), trí tuệ của các giai đoạn Bồ tát, trí tuệ tối cao của Phật… Trí, chủ yếu để hình dung trí tuệ giác ngộ. Tận Trí, Vô Sanh Trí, Chánh Trí… đều là trí tuệ của bậc A la hán; Trí ba la mật là trí tuệ của Bồ tát tối cao hàng thập địa; bốn trí (thành sở tác trí, diệu quan sát trí, bình đẳng tánh trí, đại viên cảnh trí). Cộng thêm năm trí của thể tánh pháp giới đều là trí tuệ giác ngộ của Bồ tát . Nhất thiết trí, đại chủng trí, nhất thiết chủng trí chia ra thành trí tuệ của Nhị thừa ( Thanh Văn và Duyên Giác), Phật và Bồ Tát. Những trí này đều là trí giác ngộ. Huệ tức là trí tuệ nghĩa rộng nhất. Bát nhã tức là trí tuệ. Nếu như thêm thuật ngữ Ba la mật tối cao hoàn toàn tức thành trí tuệ tối cao hoàn toàn. Trí tuệ lại có thể chia thành hai loại: Hữu phân biệt trí và Vô phân biệt trí. Hữu phân biệt trí chỉ “trí tuệ” nhận thức “đối tượng”, và tình hình đối lập với đối tượng được nhận thức ấy. Vô phân biệt trí là chỉ “trí tuệ” không nhận thức đối tượng, mà cùng nhất thể với đối tượng, đây là trí tuệ của sự chứng ngộ cao tột. Phật, Bồ Tát đạt được trí tuệ cao tột vô phân biệt này, nhưng không phải hoàn toàn dừng lại đây mà họ còn phải dùng trí tuệ này thực hành các hoạt động từ bi trí tuệ để cứu độ chúng sanh. Lúc này, trí tuệ cao tột này lại trở thành hữu phân biệt trí để quán sát cứu độ chúng sanh, nhưng trí tuệ này lại đạt được trí tuệ được sản sanh do trí tuệ cao tột vô phân biệt, nó khác với trí tuệ phân biệt của thế tục, cho nên gọi là hữu phân biệt hậu đắc trí. Nói theo sáu Ba la mật thì, Bát nhã Ba la mật lấy năm Ba la mật đầu là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định có tác dụng của hữu phân biệt đắc trí, cũng gọi là phương tiện, cho nên sáu Ba la mật lại có thể chia thành hai là Phương tiện và Bát nhã, Phương tiện chú trọng vào hoạt động từ bi của hữu phân biệt hậu đắc trí, Bát nhã đặt cơ sở trên hoạt động trí tuệ của vô phân biệt trí. Cái đầu có thể nói là lòng đại từ bi giáo hóa chúng sanh ở dưới, cái sau có thể nói là trên cầu được đại trí Bồ đề, đầy đủ hoạt động trí tuệ của đại trí đại bi này tức là lý tưởng của Phật giáo.

Nói tóm lại, dùng trí tuệ dẹp trừ phiền não, tức là mục tiêu tu hành của Phật giáo.

“Phiền não tức bồ đề” chính là mệnh đề của Phật giáo. “phiền não” đôi khi cũng dịch là “hoặc”. Phật giáo gọi tác dụng của tinh thần làm cho thân tâm chúng sanh nhiễu loạn, làm cho nó phát sanh mê hoặc, khổ não là “phiền não”, khi nó còn tiềm tàng chưa phát sanh tác dụng gọi “tùy miên”, khi nó đã phát sanh tác dụng trong thực tế thì gọi là “triền” hay “lậu”. Nhưng phiền não của Phật giáo không phải là loại phiền não trên ý nghĩa hạn hẹp như nhận thức thông thường, Phật giáo đại thừa cho rằng vũ trụ vô hình vô tướng, người bình thường không nhận thức được, thế giới vạn vật nhờ nhân duyên mà sanh (do tâm mà sanh), không có bản chất thuộc tính cố định không thay đổi, không phải là thứ mà người thường có thể nhận thức và nắm bắt được. Vì thế các loại tâm trạng và dục vọng, bao gồm tất cả hoạt động nhận thức của tư tưởng thế gian học đều là phiền não. Tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến là những thứ căn bản của tất cả phiền não, mà phiền não là cội nguồn của khổ não, là nguyên nhân chung của sanh tử luân hồi. Bồ đề, ý chính là “giác”, “trí” trong Phật giáo chỉ cho trí tuệ đã dứt trừ được phiền não thành tựu Niết Bàn, hoặc dịch là “đạo”, tức chỉ cho con đường đạt đến Niết Bàn, tức là trí tuệ thành Phật hay là giác ngộ đã đạt được. “Phiền não tức bồ đề”, vốn là hai khái niệm đối lập, nhưng Phật giáo đại thừa nhấn mạnh pháp môn không hai. Từ mối quan hệ của hai cái đó mà nói, hai cái tồn tại tương đối, không có phiền não cũng chính không có bồ đề. Từ trên ý nghĩa Phật pháp mà nói, chỉ vì chúng sanh có phiền não, mới cần trao truyền phương pháp hướng dẫn chúng sanh giác ngộ, để đoạn trừ phiền não đạt đến khai ngộ. Mệnh đề này cũng chính là nêu rõ Phật giáo truy cầu trí tuệ tối cao. Cho nên, Phật giáo cho rằng điều cao quý nhất của nhân sanh là trí tuệ, trí tuệ là mẹ của tất cả. Nhưng thứ mà nhân sanh thiếu hụt nhiều nhất cũng là trí tuệ, để tìm được trí tuệ cao tột, đạt đến giải thoát, Phật giáo đã cho nhân loại những cống hiến vĩ đại.

Từ thế kỷ I Tây lịch trở đi Phật giáo bắt đầu truyền vào Trung Quốc, trải qua thời nhà Ngụy, Ngô, Lưỡng Tấn cho đến Nam Bắc Triều, tất cả đã dịch được một phần lớn kinh điển Phật giáo. Đến thời Tùy Đường, Phật giáo phát triển nhanh chóng, tín đồ ngày một gia tăng, tự viện mọc lên khắp nơi trong toàn quốc. Phật giáo đồ Trung Quốc đồng thời với việc hấp thu tư tưởng Phật giáo Ấn Độ còn dung hòa với nhân tố văn hóa Trung Quốc, dần dần thành lập lên các tông phái Phật giáo mang đậm bản sắc văn hóa Trung Quốc. Đến thời nhà Đường, đã hình thành tám tông phái chủ yếu tức là Thiền Tông, Tam Luận Tông, Thiên Thai Tông, Hiền Thủ Tông (Hoa Nghiêm Tông), Từ Ân Tông (pháp tướng Duy Thức Tông), Luật Tông, Tịnh Độ Tông và Mật Tông. Trong đó, Thiền Tông đã thể hiện đặc điểm Phật giáo Trung Quốc một cách rõ ràng nhất, nó được gọi là đại danh từ của Phật giáo Trung Quốc. Xét thấy địa vị của Thiền Tông như vậy, dưới đây sẽ giới thiệu khá tường tận về yếu chỉ tư tưởng và sự phát triển của Thiền Tông.

TẮC THỨ 33: THIỀN TÔNG CÓ ĐỦ TRÍ TUỆ VÔ HẠN VÀ SỨC SÁNG TẠO

Theo cách nói truyền thống thì Thiền Tông được sáng lập vào thời kỳ Ngụy Tấn Nam Bắc Triều của Trung Quốc, thủy tổ là Bồ Đề Đạt Ma người Ấn Độ. Căn cứ theo lịch sử Phật giáo, Ngài là “vị tổ thứ 28” của “Tây Thiên”. Thời Lương Võ Đế, Ngài từ Thiên Trúc vượt biển đến Trung Quốc truyền giáo, được xưng là “Đông Độ Sơ Tổ” của Thiền Tông. Ngài đưa ra chủ trương “tịch giáo ngộ tông”, chủ yếu là mượn “kinh Lăng Già” để truyền pháp, trên thực tế vẫn lấy phương pháp tiệm tu tọa thiền là chính. Tương truyền Ngài ở chùa Thiếu Lâm ở Tung Sơn quay mặt vào tường chín năm, nên Ngài được gọi là “Bích quán Bà la môn” (Bà la môn quay mặt vào tường quán xét). Bích quán chính là “dừng các duyên bên ngoài, tâm không thổn thức, tâm như tường vách, có thể là đạo của con người”, đây hiển nhiên vẫn là phương pháp tọa thiền truyền thống của Phật giáo, thiền tông do đại sư Huệ Năng sáng lập sau này thì khác hẳn. Nhưng Ngài lại xưng mình truyền ngoài giáo pháp, và đề xướng cương lĩnh truyền giáo “trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật, bất lập văn tự”. (chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật, không lập văn tự). Đây thật sự là giáo nghĩa cơ bản của Thiền Tông sau này. Cho nên có thể nói sự truyền giáo của Tổ sư Đạt Ma là thiền học của Ấn Độ đã chuyển hóa Thiền Tông của Trung Quốc, nói Ngài là Sơ Tổ cũng không có gì quá đáng vậy.

Tổ sư Đạt Ma truyền pháp cho Huệ Khả, cũng gọi là “Đông Độ Nhị Tổ”. Trong “Tục Cao Tăng Truyện” có ghi : “Thích Tăng Khả, một tên khác là Huệ Khả, họ Cơ, người ở Hổ Lao… Năm 40 tuổi, Ngài gặp Bồ Đề Đạt Ma du hóa ở Tung Lạc, Huệ Khả chỉ gặp một lần đã mến mộ, đảnh lễ làm Thầy, theo học sáu năm, nghiên cứu tinh thông nhất thừa, sự lý đều kiêm dung không đắm vào khổ vui…” Huệ Khả không để lại kinh luận cho đời, pháp mà Ngài phụng sự vẫn là ý “kinh Lăng Già” do Tổ sư Đạt Ma truyền lại, “lập ra giềng mối” vẫn lấy tọa thiền làm việc chính .

Huệ Khả truyền pháp cho Tăng Xán, người đời xưng là “Tam Tổ” của Thiền Tông. Không có những nghiên cứu về họ tên của Ngài. Trong “Tứ Thụy Bi” (bia ban cho tên Thụy) ghi trong “Long Hưng Biên Niên Tụng Luận” có chép về cuộc đời của ngài Tăng Xán, và có ghi thêm “bài minh tín tâm” truyền thuyết do Ngài trước tác. Văn bia ghi rằng: “Thiền sư hiệu là Tăng Xán, không biết người ở đâu, xuất hiện vào giữa thời kỳ Chu Tùy, được truyền giáo từ đại sư Huệ Khả, ở lại Nghiệp Trung, đắc đạo ở núi Tư Không, cho thân tướng chẳng phải thật, nên hiển thị có bệnh lở loét; cho pháp vô ngã nên ở không chọn nơi… bài minh viết :Tánh tịnh của con người, lúc sanh đã có. Trí mê ở bên ngoài, nhiễm ô nên vọng thức…. Như Lai thương xót, lập ra phương pháp cứu độ. Hết vọng thành chân, để chứng nguồn giác, gợi mở tâm ấn, để lại cho đời sau… Cảnh giới người Phật, ở trong ràng buộc mà không ràng buộc, ai trói ai mở. Các pháp nhưu vậy, pháp này không biến hoại”. Căn cứ theo đây có thể thấy, pháp mà Thiền Sư Tăng Xán phụng sự vẫn là sự kế thừa và phát huy nghĩa thuyết “tự tánh thanh tịnh” của “kinh Lăng Già” do Tổ sư Đạt Ma truyền lại.

Tổ thứ tư của Thiền Tông là đại sư Đạo Tín. “Tục Cao Tăng Truyện” ghi: “ngài họ Tư Mã, người ở đâu chưa rõ.” Trong “ Ngũ Đăng Hội Nguyên” chép: “Nhà ở Hà Nội, sau chuyển đến huyện Quảng Tế ở Kỳ Châu. Mới sanh ra đã rất khác lạ, lúc còn nhỏ đã thích các pháp môn giải thoát của Không Tông, như có thói quen từ kiếp trước. Kế thừa tổ phong, giữ tâm không mê muội…” Thiền quan của đại sư Đạo Tín, có một thuyết gọi là “luận thiền tông của Tổ thứ tư”. Thuyết đó như sau: “Phàm trăm ngàn pháp môn, đều trở về một chỗ, diệu đức như hà sa, đều tại nguồn tâm. Tất cả giới môn, định môn, huệ môn, thần thông biến hóa, đều như mộng huyễn. Không có tam giới để ra khỏi, không có bồ đề để mong cầu đạt được. Người và loài phi nhân, tánh tướng bình đẳng. Đại đạo thênh thang, tuyệt hẳn suy tư”. Thiền quan của Đạo Tín tuy vẫn kế thừa pháp của Tổ sư Đạt Ma nhưng lại có sự thay đổi và phát triển rất lớn, không còn hoàn toàn là giáo nghĩa của “kinh Lăng Già”.

Đại sư Hoằng Nhẫn, người đời xưng là Tổ thứ năm. “Cao Tăng Truyện” ghi: “Ngài họ Châu, nhà ở Tầm Dương bên trái sông Hoài, có nơi lại nói Ngài là người Hoàng Mai. Năm 7 tuổi, xuất gia theo đại sư Đạo Tín. Đại sư Đạo Tín biết Ngài có thể dạy dỗ được, liền “đem hết những hiểu biết của mình truyền lại cho Ngài.” Theo tài liệu ghi chép Ngài có trước tác “luận Tối Thượng Thừa”. Luận này ghi rằng: “…. thân tâm vốn thanh tịnh, không sanh không diệt, không có phân biệt, tự tánh tâm thanh tịnh tròn đầy, đó là thầy của Ta”. “Cũng lại như thế, tâm tất cả chúng sanh vốn thanh tịnh, chỉ vì phan duyên, vọng tưởng, phiền não, bị các đám mây đen che phủ, nhưng có thể lắng động thủ hộ tâm, vọng niệm sẽ không sanh, pháp Niết bàn tự nhiên hiển hiện. Nên biết tự tâm vốn thanh tịnh”. Những câu thuyết pháp này mang sắc thái tư tưởng của Thiền Tông sau này, đã có thể thấy manh mối của tư tưởng đốn giáo của Thiền Tông. Đồng thời Ngài cũng đã không cố chấp vào nghĩa của kinh Lăng Già, nên nói: “Từ Ngũ Tổ trở đi bắt đầu lấy kinh Kim Cang để truyền trao,… mà Lăng Già không còn truyền nữa”. Từ đó càng phản ánh rõ có sự thay đổi lớn trong thiền pháp của Ngài. Nhưng đại sư Hoằng Nhẫn vẫn chưa thoát khỏi truyền thống thiền học vốn có, vẫn còn “mượn giáo để ngộ tông-mượn kinh để ngộ thiền”.

Tóm lại, Truyền pháp của Tổ thứ năm Thiền Tông, chủ yếu vẫn là truyền thiền học của Phật giáo Ấn Độ. Từ ngài Đạt Ma cho đến ngài Hoằng Nhẫn đều là những nhân vật quá độ từ thiền học đến thiền tông. Kiến lập Thiền Tông đích thực là những vị bắt đầu từ ngài Huệ Năng trở đi. Ngài Hoằng Nhẫn truyền pháp cho Huệ Năng. Ngài Huệ Năng, đời xưng là Lục Tổ Thiền Tông. Liên quan đến thân thế của ngài Huệ Năng trong “Huệ Năng Truyện” ở sách Cao Tăng Truyện đời nhà Tống, “Lục Tổ Đại Sư Duyên Khởi Ngoại Ký” của Pháp Hải đều có ghi chép lại. Đại sư Huệ Năng (638-713) họ Lư, phụ thân Ngài nguyên làm quan ở Phạm Dương, sau bị đày đến Tân Châu Lĩnh Nam (nay là huyện Tân Hưng tỉnh Quảng Đông). Đại sư Huệ Năng xuất thân như vậy. Không lâu sau đó, phụ thân qua đời ngay nơi bị lưu đày, ngài nhờ vào sự “thủ chí cúc dưỡng” của mẹ. Huệ Năng lớn lên, mưu sanh bằng nghề đốn củi để , phụng dưỡng mẹ già. Vì gia đình Huệ Năng lụn bại, từ nhỏ Ngài đã không được học hành, những Ngài lại rất thông minh, rất có khả năng lãnh hội Phật pháp. Theo truyện chép lại : Một hôm Ngài đang bán củi ở chợ, nghe người ta tụng đọc kinh Kim Cang, lập tức “có sự tỉnh ngộ”, bèn hỏi khách đang tụng kinh gì, người khách nói ông ta học được từ Hòa thượng Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn. Ngài liền từ biệt mẫu thân, giã từ Lãnh Nam đến núi Bằng Mộ Hoàng Mai ở Kỳ Châu-Tỉnh Hồ Bắc lễ bái Hòa thượng Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn. Lúc Ngài vừa gặp Hòa thượng Hoằng Nhẫn, thầy trò hỏi đáp đã đem lại ấn tượng tốt cho đại sư Hoằng Nhẫn. Lúc đó, Hòa thượng Hoằng Nhẫn nói với Ngài: “Người Lĩnh Nam, là mọi rợ làm sao có thể làm Phật?” Huệ Năng trả lời thẳng thắn, mạnh mẽ: “Người có Nam có Bắc, Phật tánh không có Nam Bắc, mọi rợ và Hòa thượng khác nhau, nhưng Phật tánh đâu sai khác!” Đại sư Hoằng Nhẫn nghe xong, nhìn thấu Ngài là bậc rất có “căn khí”, bèn cho ở lại, bảo Ngài làm việc ở trong phòng giã gạo của chùa. Sau khi làm việc được khoảng 8 tháng, đại sư Hoằng Nhẫn muốn truyền pháp cho đệ tử. Bảo đệ tử trình kệ tụng lên, để khảo sát sự cao thấp trong cảnh giới chứng ngộ của đệ tử. Đệ tử lớn của đại sư Hoằng Nhẫn là Thần Tú được công nhận là người kế thừa pháp trong tương lai. Ngài viết một bài kệ tụng:

“Thân là cây bồ đề,

Tâm là đài gương sáng,

Giờ giờ thường lau chùi,

Đừng để dính bụi bặm.”

(Thân thị bồ đề thọ,

Tâm như minh cảnh đài,

Thời thời cần phất thức,

Mạc sử hữu trần ai.)

Trình lên cho đại sư Hoằng Nhẫn thẩm duyệt. Bài kệ tụng này rõ ràng thừa nhận sự tồn tại khách quan của “thân” và “tâm”, trái ngược với quan niệm Chân Như Bản Thể luận của Phật giáo, hiển nhiên là cảnh giới chứng ngộ chưa cao. Nhưng Thần Tú là đệ tử lớn lại không tiện công khai nói ra.

Đại sư Huệ Năng nghe đọc bài hệ tụng của Thần Tú, cũng thấy cảnh giới ngộ của Thần Tú chưa cao, bèn nhờ người viết bài hệ tụng của mình ra trình cho đại sư Hoằng Nhẫn.

“Bồ đề vốn không cây,

Tâm không phải gương sáng,

Phật tánh thường thanh tịnh,

Chỗ nào dính bụi bặm.”

(Bồ đề bổn vô thọ,

Minh cảnh diệc phi đài,

Phật tánh thường thanh tịnh,

Hà xứ nhiễm trần ai.)

Đại sư Hoằng Nhẫn thấy cảnh giới ngộ của tác giả bài hệ tụng này rất cao, liền quyết định truyền pháp cho Ngài, nhưng biết đệ tử sẽ tranh đấu kịch liệt để kế thừa Pháp, sợ có người sẽ hại Huệ Năng, nên chỉ có thể lén truyền pháp y vào ban đêm, và bảo Huệ Năng ngay trong đêm phải trốn đi. Thế là Huệ Năng tiếp thọ pháp y, ngay trong đêm từ Hoàng Mai trốn trở về Lĩnh Nam. Đến Lĩnh Nam ẩn náu ở đó suốt 19 năm, sau này, nghe nói, nhân Huệ Năng nghe hai người tranh cãi “Sự lay động của gió và phướn”, mỗi người đều cho mình là đúng, không phân thắng bại, Huệ Năng bèn nói chen vào : “không phải phướn động, gió động, mà tự tâm người động”. Được Thiền sư Ấn Tông khen ngợi, và được biết chuyện Huệ Năng nhận pháp y, nên dưới sự chủ trì của Thiền sư Ấn Tông, Huệ Năng được xuống tóc, thọ giới - Huệ Năng chính thức xuất gia. Ít lâu sau, Huệ Năng chính thức đến Tào Khê (nay huyện Khúc Giang tỉnh Quảng Đông) mở đạo tràng truyền bá giáo pháp. Huệ Năng còn được xưng là “Tào Khê đại sư” cũng do đây mà ra vậy. Huệ Năng ở Lĩnh Nam lập tông truyền giáo, đối lập với Thần Tú ở Hoàng Mai. Thần Tú ở phía Bắc nên gọi là “Bắc Tông”; Huệ Năng ở phía Nam nên gọi là “Nam Tông”. Huệ Năng truyền giáo tại Tào Khê, hoằng truyền Thiền tông tới hơn 30 năm, viên tịch năm 76 tuổi. Mấy mươi năm truyền giáo, Huệ Năng hoằng dương giáo nghĩa, xác lập toàn bộ tông chỉ tư tưởng của Thiền tông, những lời lẽ truyền giáo của Ngài sau này được đệ tử thu tập lại thành một quyển gọi là “Đàn Kinh”. Nhờ sư khai sáng của Ngài Huệ Năng, Thiền tông mới chính thức thành lập ở Trung Quốc, tông chỉ độc đáo của Thiền tông, như tư tưởng cơ bản của luận Chân Như Phật Tánh, phương pháp tu hành sáng tâm thấy tánh, không lập văn tự, tự lực tự độ, đốn ngộ thành Phật… mới được đề xuất thành hệ thống, cho nên ngài Huệ Năng mới thực sự là người sáng lập Thiền tông. Nhưng lúc ngài Huệ Năng còn tại thế, sự truyền bá của Thiền tông vẫn chỉ hạn chế ở vùng Lĩnh Nam. Sau khi ngài qua đời, Thần Hội đệ tử của ngài mới anh dũng xông ra, đem Thiền tông phía Nam truyền xuống phía Bắc. Thiền tông của Huệ Năng mới được truyền bá rộng rãi và cuối cùng thay thế luôn cả Bắc tông. Sau này trở thành Nam Tông nhất thống thiên hạ. Huệ Năng là một người lao động không biết chữ, lại khai sáng ra một tông phái thịnh hành trong xã hội phong kiến Trung Quốc hơn cả 1000 năm, đây là một sự kiện hiếm thấy, thể hiện rõ nét sự thần kỳ phi phàm của Thiền tông. Huệ Năng dùng trí tuệ đặc biệt của mình dung hợp tư tưởng đông tây thành một mối, khai sáng ra tông phái Phật giáo thực sự mang sắc thái Trung Quốc, thành tích và công lao của Ngài trong lịch sử thật bất hủ. Sau khi Huệ Năng lập tông, mọi người vân tập, đệ tử kế thừa pháp có hơn 40 người như Hành Tư, Hoài Nhượng, Thần Hội, Huyền Giác, Huệ Trung, Pháp Hải… Trong đó đặc biệt có hai vị Nam Nhạc Hoài Nhượng và Thanh Nguyên Hành Tư hoằng truyền thịnh hành nhất.

Nam Nhạc truyền xuống hình thành hai tông Qui Ngưỡng và Lâm Tế; Thanh Nguyên truyền xuống hình thành ba tông : Tào Động, Vân Môn, Pháp Nhãn. Đây là “Ngũ Gia” Thiền tông nổi tiếng trên thế giới. Dưới đây chia ra để giới thiệu sơ lược.

1. Tông Qui Ngưỡng :

Kết hợp Qui Sơn (Linh Hựu) và Ngưỡng Sơn (Huệ Tịch) mà thành tên của Tông.

Một trong hai vị sáng lập ra tông này là Linh Sự Chiêm (771 – 853), ngài họ Triệu. Trong “Cảnh Kí Lục” ghi Ngài 16 tuổi xuất gia, là “thượng thủ đệ tử” của Hoài Hải trên núi Bách Trượng ở Giang Tây. Sau ở Qui Sơn Đàm Châu (nay là Trường Sa tỉnh Hồ Nam), cho nên gọi là “Qui Sơn Linh Hựu”. Một vị khai Tông khác là Huệ Tịch (807 – 883), Ngài họ Diệp, người Quảng Đông, 17 tuổi xuất gia, từng học Thiền với đại sư Linh Hựu hơn 10 năm. Sau ở Ngưỡng Sơn – Viên Châu (nay là Nghi Xuân – Giang Tây), cho nên gọi là “Ngưỡng Sơn Huệ Tịch”.

Tư tưởng và thiền pháp cơ bản của Tông Qui Ngưỡng là “Tam Chủng Sanh”. Tông phong mà Tông Qui Ngưỡng tiếp dẫn người học là thẩm xét kỹ lưỡng, thầy trò xướng họa, sự lý phải song hành, thể và dụng của lời nói như tranh cãi nhưng thật ra ngầm khế hợp. “Nhân Thiên Nhãn Mục” hình dung gia phong của Tông này là: “Tông Qui Ngưỡng, cha hiền con hiếu, trên bảo dưới nghe; ngươi muốn ăn cơm ta liền dâng thức ăn; ngươi muốn qua sông ta liền chống thuyền; cách núi thấy khói liền cho biết lửa; cách tường thấy sừng liền biết là trâu.”

Các tông phái của Thiền tông, tông Qui Ngưỡng được phát triển sớm nhất, nhưng suy vong cũng khá sớm. Pháp truyền được khoảng 150 năm.

2. Tông Lâm Tế:

Tông Lâm Tế là tông kế thừa Tông Qui Ngưỡng rồi thành lập nên một tông phái mới, người sáng lập ra tông này là Thiền sư Nghĩa Huyền, trú ở thiền viện Lâm Tế Trấn Châu Hà Bắc (nay là huyện Chánh Định tỉnh Hà Bắc), nên gọi là Tông Lâm Tế.

Nghĩa Huyền (? – 867) người Nam Hoa - Tào Châu, Ngài họ Hình. Lúc nhỏ đã mang chí xuất trần, rồi xuống tóc thọ giới, kính mộ Thiền tông. Ban đầu theo hội chúng của Thiền sư Hoàng Bá Hi Vận tham thiền tu tập, hành vi nghiệp quả thuần nhất. Thời đó, Thượng tọa Thiền sư Mục Châu thấy ngài có nhiều khí chất đặc biệt, nên khuyên ngài trực tiếp đến tham kiến Thiền sư Hi Vận. Ba lần tham vấn đại ý của Phật pháp, ba lần bị ăn gậy của Thiền sư Hi Vận mà sau đó được ngộ. Thiền sư Hoàng Bá Hi Vận rất coi trọng Ngài, nên nói: “Tông phái của ta đến tay của ngươi sẽ hưng thịnh ở đời.” Về sau ngài trú ở Trấn Châu, tông môn được hưng long. Nội dung thiền pháp Lâm Tế tiếp dẫn người học rất phong phú. Như, Tam Huyền Tam Yến, Tứ Khoa giản, Tứ Chiếu Dụng, Tứ Tân Chủ… hình thành nên một hệ thống thiền pháp dẫn dắt người học một cách linh hoạt. Chính vì vậy mà vào thời kỳ cuối đời nhà Đường thời Ngũ Đại Tông, phái này phát triển một cách nhanh chóng, trở thành một tông phái có ảnh hưởng lớn nhất đối với Thiền tông Ngũ Gia thời kỳ cuối, và được truyền thừa lâu xa nhất. Về gia phong của Lâm Tế, sách “Ngũ Gia Tông Chỉ Toản Yếu” ghi rằng: “Gia phong của Lâm Tế, toàn cơ đại dụng, gậy, hét đều dùng, ngựa phi hổ chạy, sao băng điện chớp, mang ý chí ngút tận tầng xanh, dùng phương pháp rất đặc biệt; co duỗi, nắm thả, sống chết tự tại. Dẹp sạch hết thảy cái thấy thường tình, thoát khoie những ràng buộc. Lấy vô vị chân nhân làm tông, hoặc gậy hoặc hét, hoặc dựng phất trần mà hiểu thiền.” Tông phong của Lâm Tế cơ dụng mãnh liệt, giống như tướng công chỉ huy quân lữ cả trăm ngàn vạn người, như lấy búa sắt đánh vào đá, hiện cơ dụng như ánh lửa lóe sáng. Cho nên trong “Ngũ Gia Tham Tường Yếu Lộ Môn” viết : “Tông Lâm Tế chiến cơ phong”, từ xưa đã có tên gọi “tướng quân Lâm Tế, sĩ quân Tào Động “. Tóm lại, phương pháp hướng dẫn tu tập của tông Lâm Tế linh hoạt đa dạng, một dao xông thẳng, cơ phong mãnh liệt, cắt đứt tình kiến, làm cho hành giả tỉnh ngộ. Tông này lưu truyền rộng nhất và lâu nhất cũng nhờ vào gia phong hoàn hảo của nó.

3. Tông Tào Động:

Tên của tông Tào Động có được là do người khai sáng ra tông này là thiền sư Lương Giá ở Động Sơn, huyện Cao An tỉnh Giang Tây và đệ tử của ngài là thiền sư Bổn Tịch ở Tào Sơn huyện Thanh Sơn. Để thuận tiện trong ngôn ngữ người đời sau đã đảo ngược tên chùa của thầy trò, không gọi là tông Động Tào mà gọi là tông Tào Động.

Thiền sư Lương Giá (807-869), ngài họ Du, người ở Gia Ký - Cối Kê (nay thuộc tỉnh Triết Giang). Tuổi còn nhỏ đã rất thông minh, đảnh lễ thiền sư Thắng Mặc ở Ngũ Tiết xuống tóc xuất gia. Năm 21 tuổi thọ giới cụ túc ở Tung Sơn, sau đó du phương tham học. Đầu tiên ngài đến chỗ thiền sư Nam Tuyền, ngài Nam Tuyền rất khen ngợi. Kế đến ngài đến tham yết thiền sư Qui Sơn, lại tham học với thiền sư Vân Nham. Sau đó trở về Động Sơn hoằng hóa. Lúc sắp viên tịch ngài dạy rằng: “người xuất gia tâm không lệ thuộc vào vật, là bậc tu hành chân chánh, sống nhọc chết uổng, sầu bi ích gì”, “Việc của nhà sư, đại khái là lúc sắp lâm chung, chớ có huyên động”. Ngài ngồi ngay thẳng trong trượng thất, nhập địng mà đi.

Tào Sơn Bổn Tịch (840-901), ngài họ Hoàng, người ở huyện Bô Điền-Tuyền Châu-tỉnh Phúc Kiến, lúc còn nhỏ theo Nho học, năm 19 tuổi đến Linh Thạch ở Phúc Châu xuất gia. 21 tuổi thọ giới cụ túc, sau đó đến tham yết thiền sư Động Sơn Lương Giá, được thiền sư Lương Giá xem trọng, thầm trao tông chỉ của Động Sơn. Sau khi rời Động Sơn ngài đến Tào Khê lễ bái tháp Lục Tổ Huệ Năng. Sau đó còn đến ở lại Cát Thủy ở Giang Châu truyền bá thiền pháp. Vì nhớ lại di phong của Lục Tổ, nên đổi tên ngọn núi Cát Thuỷ đang ở thành tên núi Tào, sau ngài ở núi Hà Ngọc, mở hai đạo tràng, học giả vân tập.

Tư tưởng và thiền pháp chủ yếu của tông Tào Động là “năm vị vua tôi”. Gia phong của tông này trong “ Ngũ Gia Tham Tường Yếu Lộ Môn” có chép : “suy cứu tâm địa”, gia phong rất miên mật. Phương pháp tiếp hóa trong người học giống như người nông phu cày bừa kỹ càng ruộng đất, tỉ mỉ nhiều lần, diệu dụng gần gũi, cho nên trong chốn tòng lâm có câu: “Tướng quân Lâm Tế, sĩ quân Tào Động”. Tông này lưu truyền một thời gian cũng khá lâu.

4. Tông Vân Môn:

Do người sáng lập ra tông này là Văn Yển trụ ở thiền viện Quan Thái (nay là thiền viện Đại Giác) ở núi Vân Môn – Thiều Châu (nay là phía Bắc huyện Nhũ Nguyên tỉnh Quảng Đông) cho nên có tên là “tông Vân Môn”.

Văn Yển (864-949), ngài họ Trương, người ở Gia Hưng-Cô Tô (nay là phía Nam huyện Gia Hưng tỉnh Triết Giang). Trong quyển “Truyền Pháp Chánh Tông Kí” có viết “ngài bẩm tính thông minh, từ nhỏ đã khác hẳn với trẻ em cùng tuổi”, xuất gia theo luật sư Chí Trừng ở chùa Không Vương khi còn rất nhỏ. Lớn lên, xuống tóc ở Tỳ Lăng Đàn, làm thị giả cho luật sư Chí Trừng trong mấy năm. Sau tham yết thiền sư Mục Châu, thiền sư Mục Châu chỉ đến gặp thiền sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn, thiền sư Nghĩa Tồn ngầm truyền trao tông ấn cho. Sau đó ngài lần lượt đến thăm viếng Động Nham, Sớ Sơn, Tào Sơn, Thiên Đồng, Qui Tông, Quán Khê…., sau đến Tào Khê lễ bái tháp Lục Tổ, lại đến chỗ của đại sư Linh Thọ Như Mẫn. Được đại sư Như Mẫn coi trọng, cử làm thủ tòa, cuối cùng kế thừa Pháp tịch của đại sư Như Mẫn, lúc già ngài trở về thiền viện Quang Thái ở Vân Môn hoằng pháp. Tông chỉ của Vân Môn nổi tiếng với câu “Vân Môn Tam Cú” ( ba câu của Vân Môn) : “Hàm cái càn khôn cú, tuyệt đoạn chúng lưu cú, tùy ba trục lãng cú.” (có giải thích sau), về gia phong của tông Vân Môn, trong “Ngũ Gia Tham Tường Yếu Lộ Môn” bình luận rằng : “lựa lời lẽ”, thiền sư Pháp Diễn bình rằng: “cờ hồng phấp phới”, ý là, tông này có gia phong, tông chỉ tác dụng của ngôn ngữ đốn cơ. Tiếp hóa người học không cần nhiều lời mỏi miệng, chỉ trong một câu ngắn gọn, vượt ngoài ngôn ngữ ý niệm, không chấp vào cái thấy phàm tình, núi cao vực thẳm, ngắn gọn trong sáng, cởi mở thẳng thắn.

5. Tông Pháp Nhãn :

Do người sáng lập ra tông này là thiền sư Văn Ích sau khi viên tịch được vua Lý đời Nam Đường ban cho hiệu là thiền sư Pháp Nhãn, cho nên người đời sau gọi Tông này là “tông Pháp Nhãn”.

Văn Ích (885 – 958), đời thứ 8 dòng họ Thanh Nguyên. Người ở Dư Hàng, họ Đán. Năm 7 tuổi xuất gia theo thiền sư Toàn Vĩ ở thiền viện Tân Định Trí Thông, đến lễ bái thiền sư Quế Thâm tại chùa La Hán - Đàm Châu; sau trụ ở thiền viện Thanh Lương - Kim Lăng (nay là Nam Kinh tỉnh Giang Tô), xưa nay được xưng là “Thanh Lương Văn Ích”. Lúc tông Pháp Nhãn thành lập, các tông phái khác đã hình thành từ lâu rồi, và bắt đầu xuất hiện nhiều lệch lạc, vì thế Văn Ích viết quyển “luận 10 điều của tông môn” để chỉ ra 10 điều tệ hại tồn tại trong thiền tông đương thời, và đề ra nguyên tắc “tất cả hiện thành” và chủ trương “lý sự không hai, cốt ở chỗ viên dung”, “không chấp trước tìm cầu bên ngoài, tất cả đều do tâm tạo.” Tông phong của tông Pháp Nhãn chỗ giản đơn rõ ràng gần giống như Vân Môn, chỗ ẩn mật gần giống như Tào Động. Trong “Ngũ Gia Tham Tướng Yếu Lộ Môn” viết : “tông Pháp Nhãn đầu tiên lợi ích tế độ”, bàn thẳng đến sự đấu cơ sắc bén, đó là gia phong của tông Tào Động. Ngay trong một câu có thể thấy rõ, suốt thấu dưới ánh mặt trời, tùy đối tượng mà đưa ra cơ phong thích hợp, tiếp cơ tự tại, cho nên gọi là “tiên lợi tế”. Trong “Qui Tâm Lục” viết : “Tông phong của Pháp Nhãn, cho thuốc đúng bệnh, đúng cơ thuận lợi, trừ sạch cái thấy biết phàm tình”. Vào thời Sơ Tống tông Pháp Nhãn phát triển đến cực thịnh, rồi dần dần suy vi, đến thời Trung Tống thì cành lá cũng chấm dứt, thời gian kéo dài chưa tới 100 năm.

Thiền tông phát triển đến thời đại nhà Tống vẫn còn là thời kỳ hưng thịnh.

Sự phát triển rầm rộ của Thiền tông thời nhà Tống chủ yếu biểu hiện ở chỗ xuất hiện “Đăng Lục” và “Ngữ Lục”. “Ngữ Lục” của Thiền tông vào thời đại nhà Đường đã có, thời nhà Tống lại càng nhiều hơn. Nhưng “Đăng Lục” của Thiền tông chỉ được sáng tác vào thời đại nhà Tống, chủ yếu có “Cảnh Đức Truyền Đăng Lục” 30 quyển, do Đạo Nguyên đời Tống biên soạn. “Liên Đăng Hội Yếu” 3 quyển, do Ngộ Môn đời Tống biên tập. “Ngũ Đăng Hội Nguyên” 20 quyển, do Phổ Tế đời Tống biên tập. “Cổ Tôn Túc Ngữ Lục” 48 quyển do Trách Tạng đời Tống chủ biên. Một số lượng lớn Đăng lục xuất hiện, đã phản ánh Thiền tông do không dùng văn tự mà chuyển biến thành đại lập văn tự. Văn tự thiền và Khán thoại thiền rất thịnh hành. Nhưng loại văn hóa này hoàn toàn không phải trái ngược với giáo nghĩa trong tông chỉ cơ bản của thiền sư Huệ Năng. Đại lập văn tự cũng vẫn là ở trong nguyên tắc “bất lập văn tự”, lợi dụng văn tự làm công cụ dẫn dắt. Tham thoại đầu trong khán thoại thiền tức là lấy việc tham “những lời không thể giải thích” làm phương pháp dẫn dắt, mục đích cuối cùng là phá trừ vọng niệm, đạt được minh tâm kiến tánh (có giải thích ở sau). Vì thế, thiền tông đời nhà Tống vẫn đang tiếp tục phát triển.

Thiền Tông triều đại nhà Tống kế thừa phái Lâm Tế trong Ngũ Gia Tông Phái, tiếp tục truyền thừa, sau đó lại phát triển thành hai phái Dương Kỳ và Hoàng Long, sau này gọi là Ngũ Gia Thất Phái. Dưới đây giới thiệu sơ lược về hai phái.

1. Phái Dương Kỳ :

Phái Dương Kỳ là một chi phái của tông Lâm Tế. Do người sáng lập ra phái này là thiền sư Phương Hội thiết lập đạo tràng thuyết pháp ở núi Dương Kỳ-Viên Châu (nay là phía Bắc huyện Bình Hương tỉnh Giang tây), nên người đời sau gọi là phái Dương Kỳ.

Thiền sư Phương Hội (992-1046) người ở Nghi Xuân – Viên Châu, ngài họ Lãnh, đời thứ 8 của dòng Lâm Tế, đắc pháp từ thiền sư Thạch Sương Sở Viên đệ tử truyền pháp đời thứ 6 của thiền sư Lâm Tế Nghĩa Huyền. Lần lượt khai đường thuyết pháp ở núi Dương Kỳ - Viên Châu và núi Vân Cái - Đàm Châu. Tư tưởng của phái này được phản ánh trong “Cổ Tôn Túc Ngữ Lục” và “Hội Hòa Thượng Ngữ Lục”. Tư tưởng cơ bản của phái này dựa theo Lâm Tế Chánh Tông, nhấn mạnh ở chỗ “tất cả thành tựu trong hiện tại”, “Một là tất cả, tất cả là một”, “một hạt bụi vừa đưa lên, đại địa gồm thâu trong đó”. Tông phong này mang đầy đủ phong cách của cả hai tông Vân Môn và Lâm Tế. Đương thời tôn xưng thiền sư Phương Hội kiêm trưởng bối Bách Trượng Hoài Hải và Hoàng Bá Hi Thiên, đều đạt được đại cơ đại dụng của Mã Tổ, nên nói tông này như Rồng. Trong “Cổ Tôn Túc Ngữ Lục” ghi: “yếu chỉ của Dương Kỳ, muôn Thánh đều dụng. Ban khắp đại chúng, quả nhiên hết sáng. Một lời của Dương Kỳ, đều được tròn đầy. Nếu ai bàn luận thật là muôn vàn.”

Nhân vật trong phái Dương Kỳ Phương Hội rất nhiều, người có nhiều ảnh hưởng nhất đó là Pháp Diễn đệ tử truyền thừa của thiền sư Phương Hội; đệ tử của Pháp Diễn, một vị trong “ba Phật” là Phật Quả Khắc Cần; và truyền đến Tông Cảo đệ tử của Khắc Cần. Khắc Cần viết quyển “Bích Nham Lục”, Tông Cảo đề xướng “khán thoại thiền”. Vào hai triều đại Tống Nguyên, Thiền pháp của phái này được một truyền nhân Nhật Bản sáng lập thành một phái khác, vào thời đại Liêm Thương ở Nhật Bản, trong 24 phái của Thiền tông, thì có 12 phái xuất phát từ pháp hệ Dương Kỳ.

2. Phái Hoàng Long.

Phái Hoàng Long cũng là một chi phái của Tông Lâm Tế, người khai sáng là Huệ Nam, hoằng pháp ở núi Hoàng Long - Long Hưng (nay là thành phố Nam Xương tỉnh Giang Tây) nên đời sau gọi phái này là phái Hoàng Long.

Thiền sư Hoàng Long Huệ Nam (1002 – 1069), đời thứ 8 từ Lâm Tế xuống, là con nhà họ Chương ở Ngọc Sơn - Tín Châu (nay là huyện Ngọc Sơn tỉnh Giang Tây). Ngài xuất gia năm 11 tuổi, 19 tuổi thọ giới cụ túc. Theo thiền sư Lặc Đàm Hoài học thiền Vân Môn, được Lặc Đàm ấn chứng, cho lập tòa riêng tiếp độ chúng Tăng, danh tiếng vang xa. Sau vân du khắp nơi. Năm thứ 3 niên hiện Cảnh Khẩu đời nhà Tống (1036) chấn hưng thiền tông ở núi Hoàng Long - Long Hưng và tự nói rằng: “Hoàng Long ra đời, đương thời vận suy, đánh lại tiếng trống pháp đang suy đồi, chỉnh đốn lại huyền cương đã bại hoại.” Pháp tịch của ngài hưng thịnh một thời.

Truyền pháp của Hoàng Long có “Hoàng Long Tam Quan” (giải thích ở sau). Thiền sư Hoàng Long Huệ Nam ban đầu học thiền Vân Môn, được Thiền sư Vân Phong Văn Duyệt chỉ điểm, lại tham học với Thiền sư Thạch Sương mà đại ngộ, ngài hiểu rõ được việc dùng ngôn từ cứng nhắc mà dạy cho người khác là sai lầm. Nhưng trên phương pháp hướng dẫn vẫn là tham học tông phong Vân Môn. Nơi tu học của ngài rất nghiêm khắc, người ta ví như hổ. Phái Hoàng Long lưu truyền rộng rãi nhất có ba hệ Tổ Tâm, Khắc Văn, Thường Tổng. Hệ Tố Tâm sau truyền qua Nhật Bản. Phái Hoàng Long từ hưng thịnh đến suy vong chỉ trong vòng hơn 100 năm.

Đầu thời Minh, Thiền tông vô cùng phát triển, trung kỳ trở về sau vẫn còn hưng thịnh. Cuối thời Minh, Sĩ đại phu đã lục tục bỏ thiền, ảnh hưởng của thiền tông lại có phần rộng lớn. Thiền Tông trong thời đại nhà Minh, trong năm tông chỉ có hai phái Lâm Tế và Tào Động vẫn còn qui mô nhất định, còn ba phái kia đã sớm bị chôn vùi. Những nhân vật tiêu biểu cho Tông Lâm Tế vào đời nhà Minh có Đức Bảo (1512 – 1581), ông viết bộ “Tiếu Nham Tập” 4 quyển. Về phương diện tu tập, Đức Bảo đổi tham thiền của Thiền tông thành “niệm” Thiền. Viên Ngộ (1566-1642) hiệu là Mật Vân, đệ tử Đạo Trai biên tập ngữ lục của ngài thành “Thiên Đồng Mật Vân Ngộ Thiền Sư Ngữ Lục” 13 quyển. Viên Ngộ đổi “tham” thiền, “niệm” thiền thành “khán” thiền, thiền pháp cũng sáng tạo mới mẽ khác người. Pháp Tạng (1573 – 1635) có trước tác “Ngữ lục” 30 quyển, giải thích về quan điểm và thiền pháp của thiền tông truyền thống, biểu hiện rõ kiến giải độc đáo sáng tạo, như đều có những kiến giải của mình về Tổ sư thiền, Như Lai thiền, khán thoại đầu, thiền cơ… Những nhân vật đại biểu cho tông Tào Động thời nhà Minh chủ yếu là Huệ Kinh (1548 – 1618), hiệu là Nguyên Minh, ngài họ Bùi. Được xưng là cao tăng “trung hưng” tông Tào Động. Thiền pháp của ngài chủ yếu là nhấn mạnh “khán thoại đầu.”

Thiền Tông đời nhà Thanh vẫn còn có ảnh hưởng khá lớn. Thiền tông đời nhà Thanh cũng giống như đời nhà Minh, vẫn là truyền thừa của Tông Lâm Tế và Tông Tào Động. Những nhân vật đại biểu cho thời kỳ này có Hữu Thông (1614-1675) Ẩn Nguyên (1592-1673), lúc về già nhận lời thỉnh cầu của Nhật Bản và đã trở thành vị tổ khai sáng tông Hoàng Bá ở Nhật Bản. Đạo Trai (1592-1674) viết bộ “Thiền Đăng Thế Phổ” 9 quyển, Đạo Hùng (1598-1673) viết bộ “Giáo Ngoại trực chỉ”. Từ thời Minh Thanh trở về sau, thiền tăng các phái đua nhau soạn Đăng Lục, Thế Phổ, phong khí thịnh hành, các loại Đăng Lục, Thế Phổ sách vở rất nhiều, không sao kể xiết.

TẮC THỨ 34 : TƯ TƯỞNG YẾU CHỈ CỦA THIỀN TÔNG

I. Thế Giới Quan Tự Tánh là Bản Thể của Vũ Trụ:

Xem tinh thần thực thể tức “Chân Như” (hoặc các nghĩa tương đương Phật tánh, pháp tánh, pháp giới, thực tế…) là bản thể vũ trụ, là sự tồn tại tối cao của vũ trụ, là bản nguyên, là đệ nhất tánh, và xem thế giới vũ trụ khách quan được chân như sản sinh ra, biến hiện ra là đệ nhị tánh, đây là thế giới quan và bản thể luận vũ trụ của thiền tông trong tất cả các tông phái Phật giáo. “Chân như” là từ được dịch ý từ tiếng Phạn, nó bao hàm ý nghĩa chỉ cho sự tồn tại vĩnh hằng thường còn không thay đổi và chân thật không hư dối, chân lý vĩnh hằng không sanh diệt, không biến đổi. Điều mà thiền tông coi trọng cũng chính là loại “Chân như” thần diệu này. Trong “Đàn Kinh” Lục Tổ Huệ Năng trình bày một cách rõ ràng rằng:

Từ tâm liền hiện ra bản tánh chân như

Nói các pháp là không nghĩ, không nhớ, không chấp trước, không khởi cuồng vọng tức là tánh chân như.

Chân như là thể của niệm, niệm là dụng của chân như.

Chân như tịnh tánh là chân Phật

Vì suy nghĩ sai lầm mà chân như bị che lấp.

“Chân như”, “Chân như tánh”, “Chân như tịnh tánh” đều chỉ cho bản thể chân như. “Chân như là thể của niệm” tức nói rõ chân như là bản thể.

Trong kinh Pháp Bảo Đàn, chân như tức là sự tồn tại cao nhất, cũng chính là nói rõ Thiền tông coi “chân như” là thể của vũ trụ. nói “Vạn vật biến hiện từ trong tự tánh” rõ ràng xem vạn pháp chính là vạn vật trong vũ trụ, thế giới khách quan là sản vật được sản sanh do biến hiện của chân như, tự tánh chân như là bản nguyên, là đệ nhất tánh, vạn vật từ tự tánh mà sanh mà hiện. “Vạn pháp” là đệ nhị tánh là thứ được sản sanh. Nhưng, tinh thần thực thể chân như này được tuyên dương trong Thiền Tông tồn tại ở đâu ? Nó hoàn toàn không tồn tại ngoài tâm của con người, mà tồn tại trong tâm con người, nó chính là tự tánh của con người. Từ giải thoát quan chủ yếu của Thiền Tông là “minh tâm kiến tánh”, “hiện chân như bản tánh từ tự tâm” mà nhận xét thì “tự tánh” tức là “chân như” là tông chỉ mà Thiền Tông tuyên dương mãi. Trong kinh Pháp Bảo Đàn những trình bày suy luận “tự tánh” tức là “chân như” rất nhiều. Như : “vạn pháp nơi tự tánh”, “vạn pháp đều hiện từ trong tự tánh, tất cả cái pháp nơi tự tánh, gọi là pháp thân thanh tịnh”, “tự tánh pháp thân”, “tự tánh thường thanh tịnh”, “Bát Nhã luôn tồn tại, không lìa tự tánh”, “Phật là tự tánh làm”. “Tự tánh” lại đồng nghĩa với “tự tâm”, “bản tâm”. Như : “tự biết bản tâm”, lập tức rỗng rang, trở lại đạt được bản tâm. “Tất cả vạn vật, đều ở trong tâm”, “Bản tâm”, cách nói khác nhau nhưng thực ra đều chỉ cho “chân như”, “Phật tánh”. Tự tánh tức là chân như, vậy thì, tự tánh tự tâm chủ quan của con người cũng chính là bản nguyên của vũ trụ, sự tồn tại cao nhất, là bản tâm chủ quan của con người sản sanh biến hiện ra thế giới vũ trụ khách quan. Kinh Pháp Bảo Đàn nói: “Tâm lượng rộng lớn, giống như hư không… hư không có thể dung chứa tất cả mặt trời, mặt trăng, tinh tú, đất đai sông núi, tất cả cỏ cây…”, “tự tánh thường thanh tịnh, mặt trời mặt trăng thường chiếu sáng, do mây mù che phủ mà trên sáng dưới tối, không thể thấy mặt trời, mặt trăng, tinh tú. Bỗng một cơn gió mạnh thổi đến, cuốn hết mây mù, sâm la vạn tượng, cùng lúc hiển bày ra. Con người tánh thanh tịnh, giống như trời xanh, tuệ như mặt trời, trí như mặt trăng, trí tuệ thường sáng. Do đắm trước cảnh bên ngoài, mây mù vọng niệm che phủ, tự tánh không thể sáng. Cho nên gặp được bậc thiện tri thức chỉ rõ pháp đúng đắn, thổi đi mê vọng, trong ngoài đều thấu triệt, từ trong tự tánh, vạn pháp đều hiển bày. Tất cả các pháp tại nơi tâm, gọi là pháp thân thanh tịnh. Đây chính là nhận định một cách rõ ràng đúng đắn vũ trụ vạn vật, sâm la vạn tượng, thế giới khách quan, tất cả đều trong tự tâm tự tánh của con người, đây là quan điểm cho rằng vạn vật đều do tâm con người sản sanh biến hiện, dựa theo lý lẽ thì đây là duy tâm luận chủ quan triệt để. Nhưng điều cần chú ý là tự tánh, chân như và vạn pháp được đề cập trong thiền tông chỉ là một thứ. Tức bản thân của vũ trụ vạn vật cũng chính là pháp tánh, tự tánh hoặc tự tâm của con người. Mà tự tánh thường thanh tịnh, chân như Phật tánh cho đến vạn sự vạn vật có nguồn gốc tồn tại từ trong tâm trong con người đều thường trong sáng thanh tịnh. Chỉ vì “mây mù vọng niệm” che phủ mà con người “đắm trước cảnh bên ngoài” mới sanh vọng niệm, sự che phủ của vô minh vọng niệm này mới làm cho chân như, Phật tánh cũng chính là vạn pháp không thể hiển hiện. Sau khi sáng tâm thấy tánh, vạn pháp liền hiển hiện sâm la vạn tượng. Vậy thì, tự tánh, chân như, chân thật trong thiền tông chính là tinh thần thực thể tuyệt đối vĩnh hằng mà ai ai cũng có đủ, tự tánh này hiển hiện vạn vật bao trùm vạn vật vẫn là một quan điểm duy tâm luận khách quan. Quan điểm này thống nhất nhân tâm Phật tánh và vũ trụ vạn vật thành một tư tưởng nhất thể tức là giáo nghĩa cơ bản đặc thù của thiền tông, là tông chỉ căn bản của thiền. Chính việc lấy tự tánh làm chân như Phật tánh, làm thế giới quan cơ bản của bản thể vũ trụ đã quyết định phương pháp tu hành của thiền tông là minh tâm kiến tánh, là tự tánh tự độ, là đốn ngộ

II. Phương pháp tu hành minh tâm kiến tánh

Thiền Tông lấy chân như Phật tánh làm bản thể vũ trụ, lại cho rằng bản tánh chân như tức là tự tánh của con người. Chủ trương rằng mọi người đều có tự tánh, Phật tánh, tức là mọi người đều có bản thể chân như. Vì vậy, việc ngộ đạo của Thiền tông, cần được giải thoát chính là yêu cầu con người tìm cầu Phật tánh, tìm cầu chân như ngay trong tâm mình tức cho rằng “tự tâm đốn hiện chân như bản tánh”. Vì vậy “minh tâm kiến tánh” tức là phương pháp ngộ đạo, phương pháp giải thoát cơ bản của Thiền tông. Trong kinh Pháp Bảo Đàn, ngài Huệ Năng đã nhiều lần lặp đi lặp lại trình bày rõ ràng vấn đề này.

Tất cả vạn pháp, đều tại trong tự tâm, không có cái gì là không từ tự tâm đốn hiện chân như tự tánh.

Bản tánh con người tự thanh tịnh, vạn pháp đều ở nơi tự tánh, suy nghĩ tất cả các điều ác, liền làm theo các điều ác; suy nghĩ tất cả các điều thiện, liền tu tập theo điều thiện. Như vậy tất cả các pháp đều ở nơi tự tánh.

Vì trần thế có tám vạn bốn ngàn trần lao; nếu không có trần lao, Bát nhã thường hiện hữu, không rời tự tánh. Người hiểu được điều này, chính là không suy nghĩ, không nhớ lại, không chấp trước, không khởi cuồng vọng, chính là tánh chân như, dùng trí tuệ quán chiến, đối với tất cả các pháp không chấp thủ không xả bỏ, tức là kiến tánh thành Phật đạo.

Vì sao nghe pháp mà không ngộ? Do vì tà kiến trở ngại nhiều, gốc phiền não thâm sâu, như đám mây lớn, che mất mặt trời. Không nhờ gió thổi, mắt không thể nhìn thấy… có thể diệt trừ tám chấp trước, thông đạt vô ngại. Có thể tu tập được điều này, tức là vốn không có gì sai khác so với kinh Bát nhã Ba la mật đa. Cho nên biết chưa ngộ, Phật là chúng sanh. Nếu một niệm đã ngộ thì chúng sanh tức là Phật…. biết tâm thấy tánh, tự thành Phật đạo! Kinh Duy Ma Cật viết : “Tức thời rỗng rang, trở lại đạt được tâm vốn có.”

Bậc thiện tri thức thấy được nội tâm, liền được giải thoát.

Nhưng tự trừ bỏ phi tâm, phá tan phiền não.

Nếu thấy được bản tâm, tức là giải thoát chính mình

Người học đạo có thể tự quán xét, tức cũng giống với người đã ngộ

Có thể thanh tịnh là đức Thích Ca, bình lặng chánh trực là bậc Di Lặc. Ta người là tu di, tâm tà là biển lớn, phiền não là sóng gió, tâm ác là rồng dữ, trần lao là con ba ba, hư vọng tức là quỷ thần, tham sân si chính là địa ngục, ngu si chính là súc sanh,… diệt trừ tâm sai quấy, nước biển liền khô; phiền não không còn, sóng gió đều mất, độc hại đã trừ, cá rồng đều diệt, tự trong tâm địa là giác tánh Như Lai, phóng đại quang minh trí tuệ.

Những điều được nói ở trên đều là muốn nói chỉ cần minh tâm kiến tánh tức có thể thành Phật, liền hiển bày chân như tự tánh, đạt được giải thoát. Thiền tông nhấn mạnh rằng mọi người đều có Phật tánh, bản tánh vốn thanh tịnh, đều đầy đủ trí tuệ bồ đề, chỉ vì bị mây mờ vọng niệm che khuất, tự tánh bị mê mờ khuất lấp, là tự tánh đã bị mê lầm, Phật liền thành phàm tình chúng sanh. Nếu được cao nhân thiện tri thức hướng dẫn giúp đỡ, làm phát sanh trí tuệ bồ đề, diệt trừ vọng niệm, trong ngoài đều thấu triệt rõ ràng, thì sẽ thấy chân như bản tánh, tự thành Phật đạo. Đây chính là điều mà chúng ta gọi là ngộ tự tánh, chúng sanh tức là Phật. Trừ bỏ vọng tưởng tâm được trong sáng chính là yếu chỉ và phương pháp căn bản của việc ngộ đạo trong Thiền tông.

Ở trên đã dẫn đoạn luận cho rằng: “Gió trí tuệ thổi tan mây mù, sâm la vạn tượng nhất thời đều hiển bày”, “thổi đi mê vọng”, “trừ bỏ tâm chấp trước, thông đạt vô ngại”, “trừ bỏ tâm sai lầm, phá tan phiền não”, “trừ bỏ tâm sai quấy”… tức đều là giảng về những điều để minh tâm kiến tánh, dẹp trừ mê vọng, trở lại với sự sáng suốt, tự quay lại quán xét trong tâm, thấy rõ chân nguyên. Minh tâm kiến tánh là tông chỉ căn bản của Thiền tông, cũng chính là nội dung tu tập chính yếu hay duy nhất của Thiền tông. Đây là việc cần làm của mỗi người học thiền, người bước vào cửa Phật chính là để minh tâm kiến tánh tu hành thành Phật. Đây là tông chỉ mà Lục Tổ Huệ Năng đã nhiều lần nêu rõ, cũng là tông chỉ của tất cả các chi phái Thiền Tông. Không chỉ thế, Lục Tổ Huệ Năng còn tiến thêm bước nữa, nói rõ làm thế nào mới có thể dẹp trừ hư vọng, sáng tâm tỏ tánh, đưa ra thiền pháp nổi tiếng lấy “vô niệm làm Tông.” Nói lấy vô niệm làm Tông, thực ra cũng chính là nói lấy việc sáng tâm tỏ tánh làm Tông. Bởi vì, cho rằng “vô niệm là Tông” chính là phương pháp thiền trừ bỏ vô minh vọng niệm.

Kinh Phật Bảo Đàn dạy: “Bậc thiện tri thức; pháp môn này của ta, từ trước đến nay đốn tu tiệm tu đều lập vô niệm làm Tông, vô tướng làm thể, vô trụ làm gốc.

Vô tướng là gì? Vô tướng là từ có tướng mà lìa tướng; Vô niệm là ngay nơi suy nghĩ mà không suy nghĩ; Vô trụ là, vì bản tánh của con người luôn luôn suy nghĩ không ngừng. Niệm trước, niệm hiện tại, niệm sau, niệm niệm liên tục, không gián đoạn. Nếu một niệm ngưng dứt, pháp thân liền lìa sắc thân. Trong từng niệm niệm, không trụ vào tất cả các pháp, nếu một niệm trụ vào thì niệm niệm liền trụ, gọi là trói buộc. Đối với tất cả các pháp niệm niệm đều không trụ, tức là không trói buộc vậy. Đây gọi là lấy vô trụ làm gốc. Bậc thiện tri thức, chỉ lìa tất cả các tướng là vô tướng; chỉ có thể lìa tướng tánh thể mới thanh tịnh. Đây là lấy vô tướng làm thể. Không đắm nhiễm tất cả trần cảnh gọi là vô niệm; từ niệm mà lìa cảnh, đối với các pháp không khởi niệm. Nếu không suy nghĩ về các pháp, tức là dẹp trừ hoàn toàn niệm tưởng, một niệm đã đoạn tức là hết, không còn thọ sanh vào chỗ khác. Dụng tâm của người học đạo, luôn suy nghĩ về ý trong các pháp. Tự mình sai đã đành còn khuyên người khác mê lầm theo đó là hủy báng kinh pháp, nên lấy vô niệm làm Tông. Cho dù duyên theo những suy nghĩ về cảnh của người mê, niệm đó liền phát sanh cái thấy tà vọng, không sanh khởi niệm, nếu không có niệm, thì vô niệm cũng không thành lập. Vô là vô cái gì? Niệm là niệm vật gì? Vô tức là xa lìa hai tướng của trần lao. Chân như là thể của niệm, niệm là dụng của chân như. Tự tánh khởi niệm, cho dù thấy nghe tri giác cũng không nhiễm ô trước các cảnh mà luôn tự tại. “Kinh Bung Ma Cật” trình bày: “Bên ngoài có thể phân biệt rõ ràng tông của các pháp, bên trong thì luôn là đệ nhất nghĩa, mà không dao động.”

Phương pháp “Tam Vô” này chính là phương pháp tu tập diệt trừ mê vọng sáng tâm tỏ tánh do Lục Tổ Huệ Năng đề ra. “Lịch sử Thiền Tông Trung Quốc” gọi phương pháp này là: “Vô tướng làm thể, vô trụ làm gốc, vô niệm làm Tông là phương pháp tu tập do kinh Phật Bảo Đàn truyền lại.” Chỉ rõ “Tam vô” là phương pháp tu tập, nhưng điều càng rõ ràng hơn đó là: phương pháp tu tập này lại là phương pháp để “sáng tâm tỏ tánh diệt trừ hư vọng”, tức là nói “lấy vô niệm làm tông” và “minh tâm kiến tánh” thực ra chỉ là một nội dung. Lấy vô niệm làm Tông, thực hành “tam vô”, chính là “minh tâm kiến tánh”. Sở dĩ cho rằng phương pháp tu tập căn bản “Tam vô” chính là để “minh tâm kiến tánh”, để có sức mạnh triệt để trừ bỏ vọng niệm. Nói rằng “Vô niệm” là chỉ ra “Ngay nơi niệm mà không suy nghĩ chấp trước.”, cũng chính là toàn tâm toàn ý đặt vào chánh niệm của “chân như bản tánh.”, không suy nghĩ tạp niệm vọng niệm, xa lìa tạp niệm vọng niệm. Như trong Phẩm Quán Chúng Sanh của kinh Duy Ma đã trình bày:

“Lại hỏi: Muốn trừ phiền não, nên làm những gì?

Đáp rằng: Nên thực hành chánh niệm.”

Vì thế, “Vô niệm” hoàn toàn không phải là “không suy nghĩ gì cả” mà là bài trừ vọng niệm, tạp niệm. Chúng ta có thể thấy rằng: lấy vô niệm làm Tông, mục đích căn bản là “Sáng tâm trừ vọng”, “minh tâm kiến tánh”, “lấy vô trụ làm gốc “là chỉ ra” không trụ vào tất cả các pháp”, nói tất cả các pháp là chỉ cho vạn sự vạn vật trong vũ trụ, không trụ vào tất cả các pháp, chính là không dính mắc vào bất cứ vật gì bên ngoài, không bị vật bên ngoài trói buộc, vì vậy mà tư duy phải niệm niệm không trụ vào, niệm niệm tiếp tục, nếu một niệm trụ vào, thì liền bị dính chặt, đó chính là bị “trói buộc”, mà niệm niệm không trụ tức không bị trói buộc. Không dính mắc vào bất cứ ngoại vật nào như vậy, cũng chính là có thể sáng tâm tỏ tánh. Nói “Vô tướng làm thể” là chỉ cho “vô tướng là ngay nơi tướng mà lìa tướng”, tức là sau khi tiếp xúc với ngoại vật không đắm nhiễm sắc tướng, “lìa tất cả các tướng bên ngoài”, trong tâm sẽ không tồn tại bất cứ một biểu tượng ngoại vật nào. Thực hành được “Tam Vô”, tự nhiên sẽ làm cho tâm không bị tạp nhiễm, hoàn toàn không bị đình trệ chướng ngại, và có thể minh tâm kiến tánh, quán xét trở lại tự tâm, thấy rõ chân nguyên. Có thể thấy rằng, “Tam vô” chính là phương pháp minh tâm kiến tánh chủ yếu do Ngài Huệ Năng đề ra. Phương pháp căn bản này cũng đã trở thành phương pháp truyền thống được truyền thừa, xiển dương trong các phái của Thiền Tông sau này. Nhiều phương pháp của các vị sáng lập ra Ngũ Gia Thất Tông như “Tứ Tân Chủ”, “Tứ Liệu Giản”, “Ngũ Vị Quân Thần”, “Tam Chủng Sanh”, “Vân Môn Tam Cú”, “Công Án”, “Thiền Cơ”, “Khán Thoại”, “Mặc Chiếu” bất kể là biến hóa thế nào thì cũng đều có mục đích là đạt được mục tiêu sáng tâm tỏ tánh, diệt trừ mê vọng, giải trừ trói buộc, quán xét tự tâm, thấy rõ chân nguyên. Các thiền pháp này chẳng qua đều là kế thừa và phát triển thiền pháp minh tâm “Tam vô của Ngài Huệ Năng”. Ví dụ, pháp “Ngũ chấp”, “pháp chấp” của tông Lâm Tế nó là phương pháp “đoạt nhân đoạt cảnh”, thực chất đó chẳng phải là những phương pháp tương thông với “vô niệm”, “vô tướng”, “vô trụ” sao ? Do đó chúng ta có thể thấy, minh tâm kiến tánh đích thực là truyền thống kiên trì nhất quán của các thế hệ thiền tông.

Thực chất của phương pháp tu tập “minh tâm kiến tánh” cũng chính là phương pháp thể nghiệm trực giác của thần mật, là trực giác thấy rõ Chân Như Phật Tánh của phi lý tính. Dứt trừ mê vọng sáng tâm tỏ tánh, lấy tâm truyền tâm, trở lại quán xét tự tâm, và các thiền pháp tu tập cụ thể đều cùng lấy phủ định tri giải làm tiêu bảng. Vì thế, không lập văn tự tự nhiên trở thành tông chỉ trọng yếu của thiền. Đây là phương pháp mà Thiền tông cần phải phủ định để kiên trì minh tâm kiến tánh trực giác thể ngộ . Phương pháp dùng văn tự để hiểu rõ về Phật tánh chân như cũng thường thấy. Cho rằng phương pháp mượn kinh điển để truyền thừa Thiền tông, những giáo pháp truyền thống của việc tụng kinh niệm Phật thực ra chính là mượn văn tự để truyền giáo. Ngọn cờ Thiền tông đề xướng truyền ngoài giáo pháp, lấy tâm truyền tâm, minh tâm kiến tánh, tự nhiên cũng chính là đưa ra tông chỉ “không dùng văn tự”. Không dùng văn tự và minh tâm kiến tánh, chính là một mặt phải mặt trái, có lập có phá. Dưới đây sẽ nói về vấn đề này.

III. “Không Dùng Văn Tự” lại là “không lìa văn tự”.

“Không dùng văn tự” là một trong những tông chỉ căn bản của Thiền tông. Nhưng Thiền tông cho rằng “không dùng văn tự” rốt cuộc có nội hàm như thế nào? Có gì đặc sắc? Cần phải đi vào lý giải một cách toàn diện chứ không thể đơn giản hóa được.

Thiền tông nêu ra không dùng văn tự hoàn toàn không phải là khai sáng ra mà do nó tự có. Nó là sự kế thừa truyền thống của nhà Phật, và đã có sự phát triển một cách to lớn. “Thuyết không dùng văn tự” trong kinh Phật truyền thống có rất nhiều. Như “Kinh Đại Phương Quảng Bảo Khiếp” quyển thượng có trình bày : “Không chấp trước văn tự. Mục thứ ba phẩm Thanh Văn trong kinh Thuyết Vô Cấu Xưng viết: pháp không có văn tự, lời lẽ làm cho nó bị mất. Pháp không có thí dụ để trình bày, nên xa lìa tất cả làn sóng tư duy vậy. Các bậc trí giả không nên chấp trước văn tự, cũng không lo sợ. Tất cả lời lẽ đều xa lìa tánh tướng.” Quyển thứ 106 kinh Bồ Tát Hỏi Về Trừ Cái Chướng viết: “Pháp này chỉ được chứng ở trong tâm, không có văn tự lời lẽ nào có thể trình bày được, nó siêu việt tất cả cảnh giới của ngôn ngữ”. Phẩm Nhân Quả trong kinh Duy Ma Cật Sở Thuyết nói một cách trực tiếp thẳng thắn rằng: “Tất cả ngôn ngữ làm cho đạo bị đoạn mất, tâm hành bị diệt.” Mục thứ 9 trong phẩm Nhân Bất Nhị Pháp Môn của kinh Duy Ma Cật Sở Thuyết, cũng viết: “Không có văn tự ngôn ngữ là pháp môn không hai của con người.” Có thể thấy, không dùng văn tự đúng là chủ trương chung của các Tông phái Phật giáo. Nhưng Thiền Tông nói “truyền ngoài giáo pháp” so với thuyết “không dùng văn tự” lại càng có ý nghĩa hoằng dương to lớn hơn, là nét đặc sắc của phái này. Tương truyền cho rằng Sơ tổ của Thiền tông là Tổ Bồ Đề Đạt Ma bẩm thừa phương pháp ấn tâm “Phật tổ đưa cành hoa lên, Ca Diếp mỉm cười” vào Đông Độ truyền giáo, ngồi quay mặt vào tường chín năm có lẽ là do hậu thế của Thiền tông hư cấu, nhưng Thiền tông luôn tuyên dương một cách xuất sắc pháp môn không lập văn tự lại rõ ràng là sự thật. Cho nên trong “bài minh Tín Tâm” của Tam Tổ Thiền tông có nói “lời lẽ càng nhiều thì càng hư ngụy, chuyển không tương ứng, dứt hẳn lời lẽ, hư vọng liền dứt, thông khắp tất cả.” Truyền Pháp Bảo Ký có ghi: Tứ Tổ Đạo Tín đề xướng “Không đọc kinh, không nói với người khác, làm được như vậy, lâu dần có thể dùng được”. Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn lại nói: “Im miệng đối với chuyện đúng sai, hướng tâm nơi cảnh không, có.”, “Không chú ý đến văn tự mà nghĩa thì phù hợp với chân lý huyền diệu”. Sau đời Ngũ Tổ chia ra làm hai tông Nam, Bắc. Tổ sư Thần Tú người khai sáng Bắc tông cũng là “đèn Thiền ngầm chiếu, ngôn ngữ làm mất đạo, tâm hành xứ diệt, không viết ra văn tự.” Còn như chủ trương “không dùng văn tự” của Lục Tổ Huệ Năng người chính thức khai sáng ra Thiền tông lại càng hùng hồn hơn: “Lý của Phật tánh, không liên quan đến văn tự. Có thể hiểu được, nay ta không biết chữ cũng chẳng là gì?” Ngài nói với mọi người, mình không biết chữ, trả lời những câu hỏi không hiểu Phật lý, tức thuyết minh một cách rõ ràng Phật lý không thể dùng văn tự để biểu đạt.

Lý luận không dùng văn tự của các vị khai sáng các tông phái Thiền Tông sau này nhiều không kể xiết. Hơn nữa do vì kiên quyết phủ định tác dụng của văn tự cho nên phát triển đến độ trách Phật, mắng tổ, hủy báng kinh Phật. Như Thiền Sư Nghĩa Tồn nói : “Ba đời chư Phật là thằng cắt cỏ, 10 bộ kinh 5 bộ luận là cái cọc buộc lừa, 18 bộ “kinh Hoa Nghiêm” là 18 bó rơm rác, chỉ là thức ăn ngôn ngữ, 12 phần giáo là thứ trong miệng cóc nhái.” (Sách Đường Đại Phật giáo, của Phạm Văn Lan, tr.72) Ngài Đức Sơn Tuyên Giám chửi rủa còn thậm tệ hơn: “Đạt Ma là lão mọi rợ thối tha, Thích Ca là que phân khô, Văn Thù Phổ Hiền là những kẻ gánh phân, Đẳng Giác Diệu Giác là phàm phu phá chấp, Bồ Đề Niết Bàn là cọc buộc lừa, 12 phần giáo là sổ sách của quỷ thần là giấy lau mụt ghẻ”. Lại nói: “Tông của Ta không có ngôn ngữ”. Trong “Ngũ Đàn Hội Nguyên”, quyển thứ 7, thiền sư Nghĩa Huyền vị sáng lập ra tông Lâm Tế nói: “Cầu Phật cầu pháp là tạo nghiệp địa ngục, cầu Bồ Tát cũng là tạo nghiệp, xem kinh điển cũng là tạo nghiệp”. Sự hủy báng kinh điển không kiêng nể gì như thế ở trong “Cổ Tôn Túc Ngữ Lục” cũng chính là “không dùng văn tự”, kiên quyết phủ nhận tác dụng trình bày rõ ràng của văn tự ngôn ngữ. Tư tưởng không dùng văn tự đến Thiền tông thực sự đã phát triển đến cực điểm.

Lý do mà các vị khai sáng ra các tông phái Thiền tông không dùng văn tự thì mọi người cũng đã biết rõ. Chủ yếu là cho rằng: văn tự ngôn ngữ khộng thể giải thích bản thể tuyệt đối vô cùng huyền diệu của “Phật tánh”, “Chân Như”. Ngôn ngữ là tương đối, phiến diện, tính hạn chế rất lớn. Ngôn ngữ văn tự thuộc tư duy lý tính chủ quan, thuộc tư tưởng có thể hiểu biết. Ngôn ngữ văn tự biểu đạt tư duy này bản thân nó là một thứ thuộc vọng niệm vô minh ô trược, bản thân nó là một loại trần cấu làm phương hại cho người học trong quá trình minh tâm kiến tánh, nên phải dẹp bỏ. Dùng thứ tương đối, hư huyễn không thật này tuyệt đối không thể giải thích được chân như Phật tánh. “Chân Như” “Phật tánh” hay được gọi là “Thắng nghĩa”, “Đệ Nhất Nghĩa”. “Thiền Sư Tây Lai Ý”, “Phật pháp” là sự tuyệt đối vô cùng vĩ đại, thần kỳ vi diệu siêu tuyệt, bao hàm tất cả, sự tuyệt đối này không thể bàn luận được, “nói nó là một vật gì đó liền sai”, ngôn ngữ văn tự phiến diện tự nhiên càng phải vứt bỏ. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói nhiều lời lẽ chân thật như vậy, nhưng Ngài lại cho rằng ngôn ngữ không thể giải thích Phật tánh, cho nên Ngài nhấn mạnh: “Bắt đầu từ vườn Lộc Uyển đến cuối cùng ở sông Bạt Đề, trong vòng 50 năm, Ta chưa từng nói một chữ.” Kinh Kim Cang càng nói rõ ràng hơn, Chân Như Phật Tánh chính là sở đắc của bậc thánh Trí tự giác, chẳng phải là cảnh giới của ngôn ngữ vọng tưởng. Vì thế lời lẽ không thể hiển bày Đệ Nhất Nghĩa. Lời lẽ ngôn ngữ sanh diệt dao động biến chuyển dựa theo sự tự chứng ở bên trong”. “Thắng Nghĩa không thể bàn luận”. Tất cả những điều đó đều nhằm nhấn mạnh Phật tánh không thể dùng lời lẽ miêu tả bàn luận được. Thể nhận của Phật tánh dựa vào nội chứng, không dựa vào ngôn ngữ văn tự, cần phải vứt bỏ ngôn ngữ văn tự. Phật tánh cần được nội chứng tự giác, cũng chính nhờ vào minh tâm kiến tánh, nhờ vào trực giác thể nghiệm, là lãnh ngộ, diệu ngộ, đốn ngộ phi lý tính không thể dùng ngôn ngữ văn tự để hiểu được. Sở dĩ họ chửi Phật mắng tổ, hủy báng kinh điển nguyên nhân cũng do đó là ra vậy. Đây là cách nhìn căn bản của Thiền tông đối với tính hạn chế và nguy hại của ngôn ngữ văn tự; là căn cứ xác đáng để Thiền tông không dùng văn tự, và phủ định tác dụng của ngôn ngữ văn tự. Quan điểm này của Thiền tông và quan điểm “lời không nói hết ý” của Lão Trang đều tương đồng vậy. Nói rằng lời không hết ý là nói “đạo” của Lão Trang, không thể dùng ngôn ngữ để luận bàn, cũng không thể nói hết ý được. Tuy Lão Trang đưa ra tư tưởng này, nhưng lại không hoàn toàn triệt để, mà lời nói và hành động trái ngược nhau, tức là rốt cuộc không thể nói lão Trang là người lập ra lý luận không dùng văn tự. Chỉ có thiền tông mới quán triệt một cách kiên quyết nhất triệt để nhất chủ trương này.

Nhưng mà, nói Thiền Tông quán triệt tông chỉ không dùng văn tự một cách kiên trì triệt để dường như cũng rất khó để thành lập. Tuy Thiền tông nêu ra không dùng văn tự, nhưng không phải cũng lời nói và hành động trái ngược nhau như Lão Trang chứ? Thiền tông chẳng phải cũng dùng văn tự, phát triển đến mức từ “không dùng văn tự” đến “không tách rời văn tự” sao? Đến đời nhà Tống chẳng phải cũng soạn ra văn tự thiền một cách rầm rộ hay sao? Thiền tông không dùng văn tự, chẳng phải cũng viết thành quyển, lập thành sách nào là “Ngữ lục”, “Đăng lục” đó sao? Thiền tông cũng không hoàn toàn kiên trì triệt để. Nhưng, đối với vấn đề vận dụng văn tự của Thiền tông cũng tuyệt đối không thể chỉ là đưa ra những phán đoán một cách hời hợt , ở đây cũng cần phải phân tích một cách rõ ràng nghiêm túc và thiết thực vậy, tức là phải có lý giải một cách chính xác về đặc điểm và thực chất của việc không lìa văn tự, thì mới có thể càng thấy rõ sự trác việt trong khi quán xét ngôn ngữ của thiền tông. Nhìn thấu được “không lìa văn tự” của thiền tông thì việc lập ra văn tự thiền trên căn bản hoàn toàn không trái ngược với tông chỉ “không dùng văn tự”, điều đó chứng tỏ Thiền tông đã thể hiện một cách tuyệt vời việc “không lìa văn tự” dựa trên “không dùng văn tự”, tuy nhiên mục đích lập ra văn tự thiền vẫn chỉ là phủ định tác dụng lý giải của văn tự, mà chỉ lấy văn tự làm công cụ để hướng dẫn, lấy văn tự làm phương tiện để đạt đến mục tiêu diệt trừ vô minh, ô trược, trở lại quán xét nội tâm trực giác Chân Như Phật tánh. Chính việc “không lìa văn tự” này đã khắc phục một cách rõ rệt tính hạn chế của văn tự, phát triển công năng của ngôn ngữ văn tự. Đây là sự sáng tạo của Thiền, thuyết minh rõ ràng Thiền tông phủ nhận tác dụng và giá trị của ngôn ngữ văn tự không phải là tuyệt đối, phiến diện, cứng nhắc mà là có tính sáng tạo tích cực. “Không dùng văn tự”, là kiên quyết phủ nhận tác dụng thuyết minh, giải thích, lý giải của văn tự; phủ nhận công năng nhận thức và công năng biểu ý của ngôn ngữ văn tự đã được mọi người khoa trương quá mức, khiến cho mọi người không chấp trước vào ngôn ngữ văn tự. Bởi vì chính theo sự biểu thị bản thể Chân Như Phật tánh mà nói thì chữ viết ngôn ngữ không có giá trị bất hũ vĩnh hằng, tuyệt đối không thể mê tín chấp trước, năng lực nhận thức của con người chỉ tương đối, hữu hạn, công năng biểu ý của chữ viết lời nói cũng cùng hạn chế, ít ỏi. Cách phủ nhận phá trừ sự chấp trước vào ngôn ngữ chữ viết này chỉ có thể nói là một phương pháp khoa học, không thể nghĩ bàn.

Nhưng, Thiền tông lại không phế bỏ văn tự, tức là vẫn thấy rõ giá trị của văn tự, tức nhìn thấy được văn tự có thể có giá trị như là một thứ công cụ, như một phương tiện khái niệm, một cách thức hướng dẫn. Do đó, Thiền Tông lại rất lợi dụng văn tự đặc biệt là thơ. Bất luận vận dụng phương diện công năng ngôn ngữ này như thế nào thì sức sáng tạo của Thiền tông vẫn rất đáng nể, thậm chí làm cho người ta kinh ngạc, cũng rất đáng để khẳng định, đặc biệt là trên phương diện nghệ thuật thi ca. Thiền tông vận dụng văn tự làm biểu thức hướng dẫn, nội dung sáng tạo của nó vô cùng phong phú, biểu hiện cụ thể ở nhiều phương diện. Nhưng trọng tâm của nó được thể hiện trên sự vận dụng trác việt trong việc đạt ý mà quên lời. Rõ ràng Thiền tông hấp thu tư tưởng đạt ý quên lời của lão Trang. Nhưng sự phi phàm trác việt trong phương thức vận dụng của Thiền tông lại vượt xa Lão Trang. Dưới đây thử phân tích một vài biện pháp cụ thể trong biểu thức đạt ý quên lời, để xem Thiền tông vận dụng như thế nào, mới có thể chứng thực rõ ràng.

Thiền tông phát triển rõ rệt thuyết ‘đạt ý quên lời’ của Lão Trang, tức sửa đổi thuyết ‘đạt ý quên lời’ hay ‘được cá quên nơm’ thành một thuyết nổi tiếng ‘ngón tay chỉ mặt trăng’. Tức cái dụng của văn tự như ngón tay để chỉ, nhờ ngón tay mà thấy trăng, ngón tay không phải là trăng, chấp vào ngón tay tức không thể thấy trăng, ngón tay có tác dụng chỉ cho người ta thấy trăng, văn tự ngôn ngữ không thể nói rõ Phật tánh, nhưng ngôn ngữ văn tự có thể chỉ dẫn gợi ý cho con người ngộ Phật tánh Chân Như. Như kinh Viên Giác có trình bày: Kinh giáo, như ngón tay chỉ mặt trăng, nếu không thấy trăng mà chỉ biết ngón tay chỉ trăng, cuối cùng không phải là trăng, tất cả những lời lẽ của Như lai, khai thị cho Bồ Tát cũng lại như thế. Điều này cũng chính là nói lên rằng, kinh điển Phật giáo, lời dạy của Chư Tổ, ba tạng kinh luật luận 12 bộ kinh giáo cho đến ngàn vạn cuốn ngữ lục của Thiền tông chẳng qua cũng chỉ là công cụ để khởi ngộ, là biện pháp, phương tiện. Tác dụng của nó đều là vì mục tiêu gợi ý khai thị, bản thân nó hoàn toàn không phải là Chân Như Phật tánh, nhưng có thể nhờ mục tiêu này dẫn đến giác ngộ Chân Như Phật tánh. Từ trên tác dụng này mà nhìn ngôn ngữ văn tự và kinh điển Phật giáo thì không thể hủy báng kinh điển. Vì thế trong kinh điển Pháp Bảo Đàn, ngài Huệ Năng đã phê bình những người hủy báng kinh rằng: “Người chấp không hủy báng kinh điển, lời nói ngay thẳng không dùng văn tự, đã nói không dùng văn tự, thì con người cũng không cần đến ngôn ngữ, nhưng ngôn ngữ này lại là tướng của văn tự.” Lại nói: “Đạo chân thật không dùng văn tự, cho dù không dùng văn tự, cũng nhờ văn tự mới biết được người ta muốn nói gì, cho dù hủy báng người khác dùng ngôn ngữ văn tự, các ngươi nên biết, tự mê như thế lại còn hủy báng kinh Phật. Không nên hủy báng kinh vì như vậy tội chướng vô cùng. Trong quyển “Tổ Đình Sự Uyển” cũng viết: “Chư Tổ truyền Pháp, ban đầu lấy ba tạng kinh, luật, luận làm chỗ nương tựa thực hành theo, sau này Tổ sư Đạt Ma chỉ truyền tâm ấn, phá chấp để xiển dương Thiền tông, gọi là truyền ngoài giáo pháp, không dùng văn tự, chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật. Nhưng không dùng văn tự, người không được như ý thì nhiều, luôn luôn nói là dẹp bỏ văn tự, cho ngồi yên lặng là Thiền, đây thật là loài dê câm trong Phật giáo chúng ta. Vả lại vạn pháp phức tạp như thế, làm sao có thể không dùng văn tự được. Không biết nhờ ngôn ngữ mới thông hiểu được các pháp, lại cố chấp nơi trở ngại cho nên nói do văn tự ngôn ngữ mà không thể nắm bắt được. Văn tự đã như vậy thì các pháp khác cũng như vậy thôi, cho nên thấy tánh thành Phật há có thể để lại sau sao”. Đây chính là từ việc tạo ra phương pháp dẫn dắt mà phản đối sự lý giải phiến diện về việc không lập văn tự, rồi chủ trương không thể phế bỏ văn tự, không thể hủy báng lời dạy của Phật tổ, và châm biếm việc ngồi thiền yên lặng quán chiếu, chửi là con dê câm.

Vậy thì, làm thế nào để khiến cho văn tự ngôn ngữ đạt đến tác dụng chỉ mặt trăng? Công án, cơ phong, khán thoại thiền, văn tự thiền càng cụ thể được ba điều chủ yếu (Tam huyền tam yếu) của yêu cầu ngôn ngữ, đã có thể nói là phát huy công năng chỉ mặt trăng của văn tự từ nhiều phương diện có tính sáng tạo, trác việt. Nói chung, bất luận là công án hay là cơ phong hay là khán thoại thiền, văn tự thiền có một điểm chung là dùng phương thức biểu hiện mơ hồ mông lung, phi lý tính không thể hiểu của văn tự ngôn ngữ phát huy công năng hướng dẫn của nó. Phần lớn ngữ lục, công án, thoại đầu, câu thơ của Thiền tông đều lấy sự không thể hiểu không thể giải thích làm nét đặc sắc. Những câu đối đáp hoang đường không liên quan gì với nhau đầy dẫy trong “Đăng Lục”, tính không liên tục, không nhân quả ở giữa các câu nói làm cho người ta như rơi vào mây mù dày đặc, trố mắt đờ đẫn, suy nghĩ mãi cũng không hiểu được, bộ “Cảnh Đức Truyền Đăng Lục”, bộ “Ngũ Đăng Hội Nguyên” đúng là những quyển sách thần bí vĩnh viễn không thể đọc hiểu được, thậm chí văn sĩ kinh luận đầy bụng cũng hoang mang lúng túng, tự thẹn không thể hiểu được. Kỳ thực, chỉ cần hiểu rõ đặc điểm vận dụng ngôn ngữ của Thiền tông, biết được cách làm này chỉ là cố ý làm cho nó hoang đường, vốn là làm cho người ta không hiểu, vốn là vận dụng phương thức không thể hiểu biết để giải thích, cho dù là bản thân Thiền sư cũng không hiểu, chúng ta lại suy nghĩ một cách đờ đẫn thì làm sao có thể hiểu được ? Chính vận dụng một cách tài tình hình thức ngôn ngữ này, dùng tính hoang đường phi lý, không thể hiểu biết giải thích của nó mà làm cho người học không có cách nào hiểu được, mới khiến họ không vướng mắc vào ngôn ngữ văn tự, mà có thể vượt qua ngôn ngữ để trở lại quán xét tự tâm, minh tâm kiến tánh. Gọi Tam Huyền Tam Yếu của ngôn ngữ, đấu cơ phong, khán thoại đầu, tất cả đều là phát huy tác dụng gợi ý này. Giống như cái được gọi là “khán thoại đầu” người tham thiền cho là những “lời không có ý nghĩa”, “những lời không thể hiểu được” trong công án của bậc cổ đức. Theo khán thoại thiền mà nói, tuyệt đối không phải để cho người học hiểu được ý nghĩa của những “lời không có ý nghĩa” này, bởi vì nó vốn là “lời không thể hiểu”, không thể giải thích được. Vậy thì, tại sao phải như vậy?

Vốn dĩ, những thoại đầu được dùng để đưa ra tham cứu và giác ngộ, chẳng qua chỉ là một cách thức để minh tâm kiến tánh, lấy nó làm vũ khí trừ bỏ vô minh vọng niệm, cuối cùng đạt đến mục đích là trở lại quán xét tự tâm thấy rõ cội nguồn của tâm. Đứng trên phương diện khán thoại đầu mà nói thì kiểu lợi dụng thoại đầu để đạt được diệu ngộ này so với hình thức cho là ngồi yên suy nghĩ kiểu dê câm thì càng cao minh hơn, ngồi yên lặng thầm suy tư kiểu dê câm không thể diệt trừ vô minh vọng tưởng, mà nghiền ngẫm thoại đầu lại có thể khử trừ vọng niệm. Vốn dĩ, tác dụng của thoại đầu chỉ khi tập trung đưa nó ra mới có thể giải trừ những dính mắc trói buộc, trừ bỏ vọng tưởng tạp nhiễm, để đạt đến minh tâm kiến tánh. Đây chính là tính sáng tạo của Thiền tông nhằm phát huy công năng chỉ mặt trăng hay công năng dẫn dắt của văn tự, đây chính là phương thức đạt ý quên lời được thiền tông vận dụng. Điều này căn bản giống với quan điểm đạt ý quên lời của Lão Trang và Vương Bật. Khác biệt căn bản của nó là trong Thiền tông đạt ý quên lời mang tính chất phi lý tính triệt để, là đạt lý quên lời hoàn toàn không thể hiểu được. Sự đạt ý quên lời của hình thức chỉ trăng này và tông chỉ không dùng văn tự của Thiền tông hoàn toàn nhất trí. Phương thức này tuy dùng văn tự, hoặc lập văn tự, không rời văn tự nhưng sự vận dụng văn tự không thể hiểu này và tông chỉ Phật tánh không thể dùng lời để nói hoàn toàn phù hợp. Từ đây có thể thấy, không dùng văn tự, không phế bỏ văn tự hay dùng văn tự của Thiền tông thật sự vẫn biểu hiện sự quán triệt kiên quyết triệt để đối với tông chỉ không dùng văn tự , mà trước sau hoàn toàn không trái ngược. Quan điểm không rời văn tự, dùng văn tự của Thiền tông trên thực tế vẫn là kiên quyết phá trừ công năng giải thích của ngôn ngữ văn tự, lập chính là phá, tùy duyên mà lập, tùy duyên mà phá, hoàn toàn không phải muốn phát huy công năng giải thích của ngôn ngữ. Đương nhiên, đây chỉ là dựa trên tổng thể, dựa trên Phật tánh chủ yếu, dựa trên tông chỉ cơ bản của năm phái bảy tông trong các Tông phái nổi tiếng của Thiền tông để nói. Còn như, có một số thiền sư vẫn tiếp nhận tư tưởng lời có thể diễn đạt hết ý, rồi thực thi văn tự thiền, dùng logic thông thường, dùng thơ tùy hứng đối đáp đơn giản mà hiểu Phật lý, chứ không thể chân chánh duy trì tông chỉ không dùng văn tự cũng là một hiện tượng tồn tại thực tế. Bởi vì tư tưởng lời có thể trình bày hết ý, nên lấy phương thức biểu hiện chủ đề hình tượng luôn trôi chảy là điều thông thường được vận dụng , là truyền thống lịch sử vững chắc, không thể không tiếp tục ảnh hưởng đến mọi người bao gồm cả thiền sư ở trong đó. Nhưng khuynh hướng chung của Thiền tông là tình hình được trình bày ở trên, nói Thiền tông kiên quyết, kiên trì quán triệt “thuyết lời không trình bày hết ý”, “thuyết không dùng văn tự” vẫn là điều có thể thành lập được. Trên đây chính là nội hàm và đặc sắc của tông chỉ không dùng văn tự của Thiền tông. Liên hệ nó với phương pháp minh tâm kiến tánh dược trình bày ở trên mà xem xét chúng ta có thể thấy được không dùng văn tự là phá trừ, là làm tiêu trừ trần lao ô trược có hại cho việc minh tâm kiến tánh, phá trừ chấp trước đối với văn tự, cũng chính là cởi bỏ những trói buộc dính mắc. Mà không bỏ văn tự tức là lấy văn tự làm phương thức cởi bỏ những trói buộc chấp trước, điểm quay về vẫn là đạt đến minh tâm kiến tánh. Từ ý nghĩa này mà quán xét cách làm không dùng văn tự lại không lìa văn tự thực tế cũng có thể nói giống như “Tam Vô” vậy, nó là một phương pháp minh tâm kiến tánh. Tóm lại, từ đây chúng ta có thể thấy rằng, gọi là” không dùng văn tự, truyền ngoài kinh điển, lấy tâm truyền tâm, minh tâm kiến tánh”, thật sự là tông chỉ chặt chẽ của Thiền Tông.

IV. Tư Lực Tự Độ :

Thiền Tông cho rằng tự tánh tức là chân như Phật tánh, tự tâm của mọi người đều có Phật tánh, Phật tánh của mọi người đều bình đẳng. “Tự tánh mê Phật tức là chúng sanh, tự tánh ngộ chúng sanh tức là Phật.” Vì thế, tu hành ngộ đạo của Thiền Tông nhấn mạnh tự lực tự độ, phương pháp tu hành tự lực tự độ này cũng là nét đặc sắc chủ yếu của Thiền tông. Trong kinh Pháp Bảo Đàn ngài Huệ Năng đã giải thích rõ ràng về vấn đề này

Người ngộ đốn tu, tự biết bản tâm, tự thấy bản tánh.

Tự tu tự tạo thành pháp thân tự tánh, tự thực hành theo hạnh của Phật tự tác thành Phật đạo.

Không phải Huệ Năng độ, này các thiện tri thức, trong tâm chúng sanh, ai nấy đều tự thân tự tánh tự độ. Tự tánh tự độ là gì? Tự trong sắc thân, tà kiến phiền não, ngu si mê vọng, tự có tánh vốn sáng suốt đem cái thấy chân chánh mà độ, đã ngộ chánh kiến, trí huệ Bát Nhã thì trừ được ngu si mê vọng, như vậy là chúng sanh ai nấy tự độ.

Nhưng đối với tự tâm, làm cho tự bản tánh thường khởi lên chánh kiến, các chúng sanh phiền não trần lao lúc đó đều ngộ hết, giống như biển cả, các dòng sông đều chảy về, sông lớn sông nhỏ, hợp thành một thể, chính là thấy tánh.

Cho nên biết tất cả các pháp, đều ở trong tự thân, có cái gì không từ tự tâm mà thoạt hiện chân như bản tánh.

Ai tự giác ngộ được, thì không cần phải nhờ thiện tri thức bên ngoài. Ai nhận sự giúp đỡ của bậc thiện tri thức bên ngoài mà mong được giải thoát, thì không thể có việc đo. Biết được thiện tri thức bên trong tự tâm tức liền giải thoát. Nếu tự tâm mê vọng sái quấy, vọng niệm điên đảo, thiện tri thức bên ngoài tức là có người dạy dỗ truyền trao. Nhưng cầu vẫn không đạt được. Nếu ngươi không thể tự ngộ, nên khởi trí tuệ quán chiếu, ngay lúc đó tất cả vọng niệm đều diệt, tức là tự mình là bậc chân chánh thiện tri thức, vừa ngộ liền được như Phật vậy.

Những lời bàn luận này đều là nhấn mạnh sự tu hành ngộ đạo, giải thoát thành Phật hoàn toàn nhờ vào bản thân của mỗi người, chứ không phải nhờ vào thiện tri thức bên ngoài. Dựa vào người khác để cầu mong giải thoát là “điều không thể có”, “cầu không thể được”. Chỉ có dựa vào sự minh tâm kiến tánh của bản thân để loại bỏ vọng niệm dẹp trừ trần lao mới là con đường giải thoát duy nhất. Nhấn mạnh tự lực tự độ là vì Thiền tông không mê tín vào kinh, Phật, “Chư Phật trong ba đời, 12 bộ kinh, cũng có đầy đủ trong tự tánh của mỗi người”. Chính tự tánh có Phật, có kinh, nên không cần phải dựa vào Phật, nương vào kinh mà chỉ cần dựa vào bản thân. Như vậy, phát triển đến cực đoan chửi Phật, mắng Tổ, hủy báng kinh điển, lìa kinh trái với đạo cũng là điều tất nhiên. Đả phá sự sùng bái tượng cốt, mới có thể chân chánh phát huy tự lực. Nguyên tắc này do Huệ Năng đưa ra cũng được các tông phái sau này kế thừa, phát huy và quán triệt. Trong “Đốn Ngộ Nhập Đạo Yếu Môn” ngài Huệ Hải đã trình bày một cách rõ ràng :

Chúng sanh tự độ, Phật không thể độ. Nếu khi Phật có thể độ chúng sanh, thì chư Phật trong quá khứ nhiều như vi trần, tất cả chúng sanh đã được độ hết. Làm sao chúng ta đến ngày nay vẫn còn luân hồi sanh tử, chưa được thành Phật! Nên biết chúng sanh tự độ, Phật không thể độ. Siêng năng nổ lực, tự tu, chớ dựa và Phật lực bên ngoài.

Tư tưởng Phật không thể độ, chúng sanh đành phải tự dựa vào bản thân này Hoàng Bá Hi Thiên cũng nhấn mạnh rằng: “Ở đâu có Phật độ chúng sanh? Ở đâu có chúng sanh được Phật độ?”, “Thật không có chúng sanh được Như lai độ.” Ngài hoàn toàn không tin Phật có thể độ chúng sanh, lấy lý do rất xác đáng để phủ định khả năng Phật độ chúng sanh, nhấn mạnh rõ ràng “chúng sanh tự độ, Phật không thể độ, nỗ lực tự tu, chớ nương tựa vào Phật lực.” Thiền tông thời kỳ sau lại càng như vậy, càng kiên quyết không tựa vào Phật, không cầu Phật, mà nhờ vào chính mình. “Thà vĩnh kiếp phải chịu trầm luân. Cũng không cầu giải thoát từ chư Thánh.”, “Cầu Phật liền bị Phật ma lôi kéo, cầu tổ tiên liền bị Tổ ma lôi kéo”. Đả phá hoàn toàn triệt để việc sùng bái tượng cốt, vượt qua cả Phật tổ, kiên định tin tưởng vào sức mình, biểu hiện mạnh mẽ tính tự tin tưởng, tự tôn trọng vào bản thân.

Thiền tông tuyên dương và nhấn mạnh một cách đặc sắc tinh thần tự lực tự độ, phát huy cao độ tính năng động chủ quan của con người, làm nổi bật tính chủ thể của con người. Đem tư tưởng này đối chiếu rõ ràng với tư tưởng nhờ vào Phật lực, Bồ tát siêu độ của tông Tịnh Độ, trên phương diện này cũng thể hiện nét đặc sắc độc đáo. Tư tưởng tự nhờ vào chính mình này rõ ràng có ý nghĩa tích cực.

V. Đốn Ngộ.

Chủ trương đốn ngộ cũng là một tông chỉ rõ ràng của Thiền tông. Đốn ngộ thành Phật là một phương pháp tu tập của Thiền tông có nét khác biệt, nổi bật, đặc sắc so với nhiều tông phái Phật giáo khác, đặc biệt là chủ trương cơ bản của Thiền tông Nam tông chánh thống, là tiêu chí chủ yếu để phân biệt Nam tông Bắc tông trong nội bộ thiền tông. Gọi “Nam đốn Bắc tiệm”, chính quan điểm này mà làm cho hai tông “đệ tử của phái đốn tu và phái niệm tu, nhìn nhau như kẻ thù; trong Nam Tông và Bắc tông, đối địch nhau như Sở với Hán”. Tư tưởng đốn ngộ thành Phật, ngài Huệ Năng cũng nêu tỉ mỉ trong kinh Pháp Bảo Đàn :

Nghe đốn giáo này, không tu theo bên ngoài.

Một niệm nếu ngộ, chúng sanh liền thành Phật.

Sao không từ nơi tự tâm đốn hiện chân như bản tánh.

Nếu ngươi không tự ngộ được, nên khởi trí tuệ quán chiếu, ngay lúc đó, vọng niệm đều diệt, tức là bậc thiện tri thức chân chánh, vừa ngộ liền được như Phật vậy.

Người ngộ vô niệm hiểu được Pháp, đến được quả vị Phật tín.

Nếu gặp pháp đốn giáo của Đại thừa, thành kính chắp tay chí tâm cầu nguyện.

Đại sư truyền trao đốn giáo cho họ, mong người học cũng đồng một thể

Chỉ thực hành trực tâm, đến như gảy móng tay.

Nếu ngộ pháp vô sanh, thấy Tây phương chỉ trong nháy mắt. Không ngộ giáo pháp đại thừa, con đường niệm Phật vãng sanh xa xôi như vậy làm sao đạt được?

Nếu học pháp đốn giáo, người ngu không thể mê.

Nhưng đốn giáo này cũng gọi là đại thừa, mê từ vô số kiếp, ngộ tức trong sát na.

Ngộ pháp này, một niệm tâm khai mở.

Đời nay nếu ngộ pháp môn đốn giáo, ngộ tức là Thế Tôn ngay hiện tiền.

Gọi là đốn ngộ tức là nhấn mạnh một đao xông thẳng, khai ngộ trong nháy mắt. Nó khác với ngộ trong tiệm tu- tức là rỗng rang đại ngộ sau khi đã trải qua hết nhiều giai đoạn, trải qua sự khổ tu chứng lý. Đốn ngộ tức là ngộ ngay trong một niệm, ngộ ngay trong khoảng sát na. “Ngộ trong sát na”, “trong một niệm tâm liền khai mở”. Ngay trong mỗi niệm tâm đốn hiện chân như bản tánh. Loại ngộ này và tu tập trải qua các giai đoạn tiệm tu thứ lớp, tức lấy tiệm tu thứ lớp làm sự khác biệt cơ bản, tức quyết định ở chỗ không cần tu thứ lớp, then chốt là ở chỗ ngộ hay không ngộ. Nếu ngộ tức ngay trong khoảnh khắc liền ngộ, không ngộ dần dần tu tập theo thứ lớp cũng không thể ngộ, cho nên nói “Như Lai Thiền có tu có chứng, Tổ sư Thiền không đối không tu”, là nói rõ sự khác nhau căn bản giữa đốn tu và tiệm tu. “Không cần phải tu tập” chính là nét đặc sắc chủ yếu của đốn ngộ, nhưng “không cần phải tu tập” có thể đốn ngộ thành Phật sao ? không cần phải tu tập, đốn ngộ thành Phật y cứ vào cái gì? Thần Hội Hà Trạch được gọi là người thuộc phái chính truyền bình luận và phân tích rất rõ ràng về sự đốn ngộ của ngài Huệ Năng. Trong lúc Thần Hội đang trả lời câu hỏi của đệ tử Vô Hành : “Phiền não của chúng sanh vô lượng vô biên, chư Phật Như Lai, đại Bồ tát trải qua nhiều kiếp tu hành, vẫn không thể chứng đắc vì sao Long Nữ phát tâm trong một sát na, liền thành chánh giác” rằng: Phát tâm có đốn tiệm, mê ngộ có chậm nhanh. Nếu mê tức từ vô số kiếp, ngộ liền trong phút chốc. Nghĩa này khó hiểu được, trước hết ta cho ngươi một ví dụ, sau mới rõ nghĩa này, hoặc có thể nhân đó mà hiểu ra… Thí như một bó tơ, số nhiều vô lượng, nếu kết thành một sợi dây thừng, treo ở trên cây, dùng kiếm sắc chém một nhát, liền đứt tất cả. Số tơ tuy nhiều nhưng không hơn kiếm sắc; Phát tâm Bồ đề cũng giống như vậy, ở đây nói số sợi dây tơ tuy nhiều, nhưng không chịu nổi một nhát kiếm, phiền não của chúng sanh tuy nhiều, nếu ngộ được lý vô sanh, tức tất cả phiền não vọng niệm nhất thời đều dứt sạch. Phiền não vọng niệm đều dứt sạch, cho nên chân thật thành Phật là điều rõ ràng. (Hà Trạch Thần Hội Thiền Sư Ngữ Lục)

Đây là ví dụ nổi tiếng về việc lấy “Kiếm sắc chặt bó tơ” để ví dụ cho việc đốn ngộ, thông qua ví dụ bằng hình tượng rõ ràng để nói rõ lý đốn ngộ. Cuộc đối đáp giữa Thần Hội và Hòa Thượng Trí Viên càng thuyết minh rõ ràng lý do đốn ngộ mà “không cần tu tập”.

Hòa thượng Trí Viên hỏi : “ Tất cả chúng sanh đều nói tu đạo, không biết người tu đạo suốt đời có thành Phật được không?

Hòa thượng Thần Hội đáp: “Có thể được”

Lại hỏi : “Làm sao tu tập trong sát na liền có thể thành Phật ? Xin giải thích nghi ngờ này cho tôi”.

Đáp : “Nói tu tập tức là các pháp hữu vi, đều thuộc vô thường, các pháp vô thường lìa sanh diệt”

Lại hỏi : “Hết thảy chư Phật, đều tu tập hạnh quả viên mãn, chứng thành Phật đạo; Nay tại sao lại nói không cần phải tu tập?”

Đáp : “Phàm gọi là tín hạnh tu tập đều không lìa trí giác. Đã có trí giác, tức có tác dụng chiến sáng. Như vậy nhân quả giống nhau, sanh diệt vốn là không có, cần gì tu tập?”

Lại hỏi : “Chư Phật thành đạo, đều nhờ trí giác. Nay lìa trí giác, thì đạo là gì?”

Đáp : “Thể của đạo chẳng có vật gì… cũng không có tên, không có tướng, không suy nghĩ, kẻ trí cũng chưa thấu được. Người chưa chứng đắc, tánh của đạo đều không thể nắm bắt được.” (giống trên)

Đây chính là luận lý y cứ của quan điểm đốn ngộ thành Phật không cần tu tập. Thần Hội đã phát huy đầy đủ phương pháp tu tập thể nghiệm trực giác, minh tâm kiến tánh của ngài Huệ Năng, chỉ rõ lý đốn ngộ chủ yếu ở nơi “thể của đạo không có vật gì” không có tên gọi, không có tướng trạng, không suy, không nghĩ, là thứ không thể lý giải được. Mà tu tập tiệm tu là pháp tri giải, là pháp hữu vi. Dựa vào phương pháp tiệm tu hữu vi, không thể đạt đạo được. Chỉ có nhờ vào việc trên trừ vọng niệm, đạt đến thấu triệt được bên trong bên ngoài, không tướng trạng, không suy, không nghĩ, minh tâm kiến tánh, liền có thể thành Phật, mà vọng niệm là thứ có thể đoạn trừ ngay.

Trong cuốn “Đốn ngộ Nhân Đạo Yếu Môn Luận” của ngài Huệ Hải cũng thừa hưởng và phát huy tư tưởng “vô niệm vô tông”, “minh tâm kiến tánh” của ngài Huệ Năng để thuyết minh lý đốn ngộ. Ngài cho rằng “ đốn tức là lập tức trừ vọng niệm, ngộ là ngộ cái không thể đạt được”, mà tông của “pháp môn đốn ngộ” chính là lấy “ vô niệm làm tông, vọng tâm không khởi làm ý chỉ”. Thiền sư Hi Vận cũng phát huy tư tưởng “li tướng vô niệm” của ngài Huệ Năng để giải thích đốn ngộ, nói đốn ngộ là: “ngay lúc đó chính là, khởi niệm là sai, sau đó vốn là Phật”, “đốn ngộ ngay hiện tiền, tự tâm vốn là Phật, không có pháp nào không đạt được, không có hạnh nào là không thể tu, đây là chân như Phật”. Và cho rằng tu hành căn bản nhất là làm được “tâm chớ chấp trước một vật gì” chỉ cần “vô tâm” tức có thể thành Phật, “cúng dường chư Phật trong 10 phương, không bằng cúng đường một người tu tập vô tâm”, Nhiều kiếp tu tập hoàn toàn không nhất định sẽ thành Phật, nhưng có thể ‘vô tâm’ liền có thể đốn ngộ. “Tánh chính là tâm , tâm chính là Phật, Phật chính là pháp”. “Không thể lấy tâm để cầu nơi tâm, không thể Phật để cầu Phật, không thể lấy pháp mà cầu pháp, cho nên người học đạo thẳng thắn vô tâm, âm thầm khế nhập mà thôi” (Truyền Pháp Tâm Yếu).

Tất cả những lời thuyết pháp này, tổng kết lại có thể thấy được cái gọi là đốn ngộ cũng chính là các được gọi là diệu ngộ, là sự thể nghiệm nắm bắt bằng trực giác đối với chân như Phật tánh. Sự thể nghiệm này không cần văn tự, không dựa vào lý giải, là một loại nắm bắt chỉnh thể của trực giác. Chỉ cần hoàn toàn trừ bỏ vọng tâm trần cảnh, đạt đến “vô tâm”, “sáng tâm”, tức có thể kiến tánh thành Phật. Phương pháp thần diệu này tự nhiên có thể “không cần tu tập”, mà hoàn toàn trực tiếp đốn ngộ.

Từ sự giới thiệu trên, chúng ta có thể thấy rõ ràng rằng Thiền tông Phật giáo Trung Quốc là Tông phái Phật giáo mang đậm nét độc đáo của Trung Quốc, đã phát triển một cách đặc sắc nhất trong Phật giáo Đại thừa của Ấn Độ. Phương pháp dạy thiền, học thiền của Thiền tông chính là sự phát triển to lớn đối với phương pháp tu tập của Phật giáo, chư vị đại sư của Thiền Tông tạo ra nhiều phương pháp tu tập trác việt, thể hiện rõ nét trí tuệ cao tột của các Tăng nhân Trung Quốc. Trí tuệ của Thiền tông chính là sự thể hiện tập trung trí tuệ của Phật giáo, các hạng mục nội dung được chọn trong quyển sách này thể hiện trí tuệ Thiền tông Phật giáo, phần lớn đều là nội dung đại trí tuệ của Thiền tông.

LỜI CUỐI

“Giác ngộ của Thiền” viết từ Thiền sư Đạt Ma từ đông độ sang, cho đến một dòng mạch pháp của năm tông phái lớn Thiền tông ra đời. Cũng nói lên công án được lựa chọn ở trong sách này trình hiện hoàn chỉnh sự phát triển mạch lạc của “một hoa năm cánh”. Có được tiền đề “tải đạo” này giống như mang gông mà nhảy múa thì thật khó là thoải mái mặc sức được. Càng cảm thấy đáng tiếc hơn là, quá trình này giống như một sợi dây chuyền trân châu, mặc dù thấy từng hạt từng hạt to lớn mượt mà đầy đặn, màu sáng chóa mắt, đáng được gọi là dạ minh châu trân bảo hiếm có trên đời, nhưng do vì nó không ở trong sự truyền thừa mạch lạc của năm dòng phái lớn, càng không có cách gì liên kết nó lại: huống là, ngoài trân châu, còn có hổ phách, phỉ thúy, san hô, toản thạch…

Mà thế giới của Thiền, “băng lạnh trong lò lửa, hoa liễu bay trong tháng chín, trâu đất rống trên mặt nước, ngựa gỗ hí theo gió”; “người đẹp như băng tuyết rất lạ, thường thổi ngọc tiêu cho người nghe. Trong khúc nhạc muôn vàn tâm hoa cảm động, chỉ dành cho người một khúc thôi”, xa xôi thần diệu, huyền bí thâm áo, trong sáng linh động như thế; kỳ ảo đẹp đẽ, sắc màu xán lạn như thế, thâm sâu rộng lớn, phong phú đa dạng như thế, tuyệt đối không phải có thể được bao hàm toàn bộ trong năm dòng phái lớn.

Nhìn ra xa vào thời kỳ Đường Tống, anh tài của Thiền tông xuất hiện lớp lớp, đại sư ra đời, mỗi mỗi dẫn dắt tông phong của mình, trong một lúc, sư tử thét rừng sâu, hổ gầm trên núi cao, rồng bay tít đồng không, voi dậm chốn tòng tâm, khắp nơi trên Trung Hoa đại lục dấy lên những ngọn sóng mạnh mẽ của biển Thiền , rầm rầm rộ rộ bao la hùng tráng. Vô số Thiền sư ai nấy đều thi triển thân thủ, mỗi người một sở trường, chiếu sáng cho nhau, khích lệ lẫn nhau, hùng hùng hổ hổ, tự nhiên thoải mái, đem pháp thiền đốn ngộ của Lục Tổ Huệ Năng nhanh chóng mở rộng ra toàn quốc, cùng sáng lập ra thời kỳ vàng son của Thiền tông sáng chói thiên thu, xán lạn hoàn vũ – thời đại thiền cơ.

Phong vận thiền cơ truyền thiên cổ, một bó linh quang chiếu khắp vòm trời. Thế là, đốt hương xông gội, du ngoạn vào sông Thiền huyền diệu, nhặt được 32 viên đá quí lấp lánh trong suốt, cống hiến cho quý vị. Nó như bóng cây che nắng, có thể đem lại cho bạn sự mát mẽ: Nó giống như ánh sáng thanh lương của ánh trăng mùa thu, làm cho bạn cảm nhận được sự trong sáng của trí tuệ giải thoát. Đá sỏi có va chạm mới có thể phát ra những tia lửa hừng hực, sấm chớp cùng lúc, mới có thể lấp lánh ánh sáng chiếu khắp bầu trời. Những công án được lựa chọn trong “Giác ngộ của Thiền”, phần lớn đều là câu chuyện về sự nhạy bén của Thiền cơ, thiền cơ hướng vào nhau, mũi tên sắc bén đối chọi nhau, kiếm dài đối với thương nhọn, mũi tên đối với râu lúa mạch. Tổ sư Thiền tông nói: “vô sanh nhẫn dưới gậy, đương cơ không nhường Thầy”. Đại trí tuệ của Thiền chính là ngay trong mỗi lần mỗi lần cơ phong gặp nhau mà nhấp nháy xuất hiện, chính vì tinh thần vượt qua cả Phật Tổ này mà Thiền càng ngày càng mới, lưu truyền thiên thu.

Những năm gần dây, thiền viện Bá Lâm giống như quê hương tâm linh của Tôi. Phương trượng tiền nhiệm là lão Hòa thượng Tịnh Huệ, phó hội trưởng hiệp hội Phật giáo Trung Quốc, Phương trượng đương nhiệm đại Hòa thượng Minh Hải đã dẫn dắt gợi ý cho tôi nhiều về phương diện, một câu “cảm ơn” làm sao có thể nói hết trong muôn một! Còn nữa, vợ tôi cư sĩ Minh Hoa và con trai Trương Dương đã cùng giúp tôi chỉnh lý tư liệu, cung cấp một vài danh từ dịch từ tiếng Anh, cho nên, trong sách này cũng hun đúc tâm huyết của họ.

An Sơn

06.09.2004

    Chia sẻ với thân hữu: