Đạo Phật Khất Sĩ
CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Tìm hiểu tư tưởng Phật giáo Nguyên thủy trong bộ Chơn lý

Chon ly 02 aChơn lý là bộ sách giáo lý, ghi lại những bài thuyết pháp của Tổ sư Minh Đăng Quang giảng dạy, hoằng hóa trong suốt mười năm (1944 - 1954) hành đạo khắp các tỉnh thành Nam Bộ. Sau ngày 1 tháng 2 năm Giáp Ngọ - 1954, Đức Tổ sư thọ nạn và vắng bóng, bộ Chơn lý là hiện thân, là dấu ấn, là Pháp bảo của Tổ sư lưu lại cho chư Tăng Ni và Phật tử Hệ phái Khất sĩ Việt Nam.

Bộ Chơn lý gồm có tất cả 69 đề tài, mỗi đề tài Đức Tổ sư giảng luận trình bày về một vấn đề, một ý pháp liên hệ, tựu trung nhằm khai thị, hướng dẫn cho người học tu tập theo đúng “Thích-ca Chánh pháp” như trong Tam tạng giáo điển Kinh Luật Luận của Đức Phật dạy.

Chơn lý kế thừa những tinh hoa của Phật giáo Nguyên thủy (Nam truyền) và Phật giáo Bắc truyền (Đại Thừa).

Bài viết này góp phần tìm hiểu tư tưởng Phật học của Tổ sư Minh Đăng Quang trong bộ Chơn lý chịu ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo Nguyên thủy với một số nội dung sau:

Vũ trụ quan  

Quan điểm vũ trụ hình thành của Tổ sư Minh Đăng Quang trong bộ Chơn lý, tuy giải thích dẫn chứng theo tiến trình khoa học vật lý, từ “thể của võ trụ… nhân duyên của mỗi quả địa cầu… hình thể địa cầu… ánh sáng của địa cầu... chúng sanh trong võ trụ... cuối cùng là chân lý vũ trụ”1 theo trình độ khoa học hiện đại, đều vận dụng thuyết nhân duyên trong giáo lý Phật giáo Nguyên thủy.

Trong khi 10 hiện trạng của vũ trụ quan trong bộ Chơn lý đã xác định yếu tố cấu thành qua bốn giai đoạn thành - trụ - hoại - không với các yếu tố đất - nước - gió - lửa có sinh diệt nhưng vẫn tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau, thì với giáo lý Nguyên thủy, Phật giáo Nguyên thủy coi một số pháp (dhamma) bị ô uế và hạn định là có thật, và đồng thời cũng tin rằng một số pháp không bị ô uế (klésa) và không bị hạn định là có thật. Theo nhận xét của Phật giáo Nguyên thủy, Niết-bàn có nghĩa là một sự thay đổi thực sự của những sự sinh tồn cá biệt, hữu hạn và ô uế thành những pháp vô hạn định và không ô uế.

Trong sự hình thành và hoại diệt của vũ trụ vạn pháp, Chơn lý đã xác định tính vô thường chi phối bởi nhân quả tại bài “Võ trụ quan”, mục 10 - mục cuối cùng của bài luận về vũ trụ “Chơn lý của võ trụ”, Tổ viết: “Chúng sinh là tiến hóa, từ địa ngục đến Niết-bàn do nhân duyên chuyền níu sinh ra. Từ nơi không sinh ra có, nhỏ tới lớn, có rồi có mãi, không hết không rồi: mượn vật chất làm thân, để nuôi tâm còn thân trả lại tứ đại . “Cây sinh trái, cỏ sinh hoa, sự biến hóa không lường, có rồi sinh thêm có, từ không đến có, có rồi lại không, thay qua đổi lại ”. Tổ giải thích vấn đề sinh diệt trong bài “Ngũ uẩn” như sau:

Không sắc thân có đâu thọ cảm.

Không thọ cảm có đâu tư tưởng.

Không tư tưởng có đâu hành vi.

Không hành vi có đâu thức tri.

     Không thức tri có đâu giác chơn. 2

Phật giáo Nguyên thủy đã giải thích duyên khởi như là một tiến trình thời gian ngắn ngủi của những thực thể đích thực mà giữa chúng có một chuỗi tương quan nhân quả. 

Đây chính là sự vận dụng tư tưởng của Pht giáo Nguyên thủy khi giải thích về vũ trụ nhấn mạnh vào các hiện tượng sinh diệt, hư giả, lay động, chuyển biến không ngừng của sự vật (tức sự vận động).

Phải nói rằng những vấn đề về vũ trụ của Phật giáo Nguyên thủy tưởng chừng phức tạp, khó hiểu đã được Đức Tổ sư luận giảng một cách giản đơn, dễ hiểu, người hạn chế kiến thức vẫn có thể tiếp thu được.

2. Thiền định

Thiền là tư tưởng cơ bản của Phật giáo. Đã có nhiều sách, từ điển định nghĩa về thiền, nhưng theo chúng tôi, định nghĩa và phân tích của D .T. Suzuki trong sách Thiền luận đầy đủ hơn cả:

Thiền ( theo người Trung Quốc) là nói tắt, nói đủ chữ là thiền-na , phiên âm theo tiếng Bắc Phạn (Sankrit) là dhyana hoặc theo tiếng Pali là jhana. Thiền có liên quan đến phương pháp tu luyện cổ truyền có từ thuở sơ khai của Phật giáo , có lẽ từ thuở khởi nguyên của văn hóa Ấn Độ. Dhyana thường được dịch là tị n h lự, có nghĩa là trầm tư về một chân lý, triết hoặc đạo, đến triệt ngộ và in sâu trong nội thức. Tu thiền cần tìm đến chỗ thanh vắng, xa cảnh náo nhiệt và loạn động của thế gian . Văn học Ấn Độ có nhiều đoạn văn ngụ ý ấy và câu nói “tìm đến chỗ vắng, trụ tâm ngồi tịnh vẫn thường gặp trong các bộ kinh A -hàm3.

D.T. Suzuki phân tích: “Định (Samadhi) và thiền (Dhyana) trong nhiều trường hợp đồng nghĩa nhau, và thường được dùng lẫn lộn; đúng nghĩa thì định là một trạng thái tâm lý chứng được bằng phép tu thiền. Thiền là diễn trình, còn định là cứu cánh. Kinh điển Phật giáo nêu lên rất nhiều thứ định, và thêm rằng, trước khi nói pháp, Phật thường nhập Định, nhưng không bao giờ nói Phật nhập thiền, nếu tôi không nhầm, thì chỉ nói là hành thiền, tu thiền. Nhưng ở Trung Hoa, thường người ta ghép đôi hai chữ lại thành thiền định, để chỉ trạng thái yên tịnh thực hiện bằng phép định hoặc thiền”.

Tiểu sử Tổ sư cho biết: Sau thời gian ở núi Thất Sơn, đến mùa xuân năm 1944 (22 tuổi) Ngài xuống núi qua đất Hà Tiên định lần sang Phú Quốc rồi tiếp tục đến các nước học đạo, nhưng vừa đến Mũi Nai (nay thuộc xã Mỹ Đức, thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang) thì đã trễ tàu, Ngài tìm đến những hòn đá cao nơi thanh vắng ở bãi biển ngồi tham thiền bảy ngày đêm quán sát lý nhân duyên. Rõ ràng nhờ tham thiền quán sát lý nhân duyên Ngài đắc đạo như thái tử Sĩ ạt -ta tức đạo sĩ Cồ àm (Gotama) ngồi thiền định 49 ngày đêm dưới gốc cây Tất -bát-la rồi chứng ngộ đạo giải thoát. Vì vậy, trong bộ Chơn lý, Đ ức T sư rất coi trọng t hiền định, Ngài đề cập và luận giảng thiền định ở nhiều bài, nhưng vận dụng rõ nét nhất thiền Nguyên thủy ở bài số 14: Nhập đ ịnh , bài số 53: Số tức q uan liệt kê 40 đề mục thiền định trong Luật nghi Khất sĩ (riêng giới xuất gia).

2.1. Nhập định

Trong bài Nhập định (từ trang 212 -230), Đức Tổ sư chỉ rõ mối quan hệ giữa định và t uệ ( huệ):

“Không định không có thần thông quả linh thì con người phải té sa vào nơi vật chất giả dối, nắm níu lấy ác tà loạn vọng, chôn nhốt giết hại tâm mình. Cho nên tâm định thì trí mới huệ, huệ nhiều ít là do định. Định nhiều thì huệ nhiều, định ít thì huệ ít, không định thì không có huệ (Chơn lý,tr. 213).

Muốn có định thì phải có niệm. Niệm tưởng ghi nhớ một câu, một việc, một lời, một điều gì đó, mới được định. Cũng như nước bị đựng trong tô chén để yên lặng thì sẽ định, cái ý nhờ bị trói buộc một chỗ mà  phải đứng ngừng, đến lâu sau quen lần, mới không còn loạn động ” (Chơn lý, tr. 217).

Hễ định được thì thần thông và trí huệ sẽ có một lượt. Từ định mau đến lâu là quả linh và đạo lý cũng sẽ có từ ít tới nhiều, tự nhiên nơi ta sẵn có. Nếu không xao động che đậy là nó yên trụ và xuất hiện ra, chứ chẳng cầu vái nơi ngoài, ai cho mà có được (Chơn lý, tr. 226).

Ngài chỉ rõ: “Muốn định phải có giới ủng hộ, và chỉ có giới xuất gia Khất sĩ mới có thể vào đại định nổi. Giới người cư sĩ thì chỉ tập được chút ít thôi... Kẻ Khất sĩ mà không có định là ra người khất cái. Chỉ có định mới sinh huệ, Định huệ song tu, do nơi giới luật Khất sĩ, thì chơn như toàn giác mới sống đời, đúng theo chơn lý lẽ thật, tức là chánh đạo, đạo của vũ trụ, của ta và của tất cả, hay là đạo của tâm mình”.

2.2. Số tức quan

Nội dung thiền Nguyên thủy chia làm bốn bài tập quán tưởng hướng dẫn theo dõi hơi thở ra - vào khôn gián đoạn, đồng thời tập trung tâm vào từng đối tượng cụ thể.

1 – Quán Thân (Thân niệm xứ)

2 – Quán Thọ (Thọ niệm xứ)

3 – Quán Tâm (Tâm niệm xứ)

4 – Quán Pháp (Pháp niệm xứ).

Tất cả đều nhằm mục đích “chế ngự tham ưu ở đời” để đạt mục đích giải thoát4. Thiền học đánh giá Tứ niệm xứ là một giáo lý Nguyên thủy phổ quát nhất về phương pháp thiền quán, là con đường đúng đắn đưa người tu hành đến giải thoát.

Bốn bài tập đó là tập trung toàn bộ ý nghĩ vào hơi thở ra - vào và tập trung quán (tự nhận thức một cách tỉnh táo), do vậy còn gọi là “minh sát” về bốn đối tượng.

Trong trường hợp nào cũng giữ vững tâm ý mình, tâm ý người tu không để bị dao động, bị chi phối bởi pháp trần. Như vậy, gọi là  “quán niệm hơi thở”theo như kinh An-ban-thủ-ý (Anapanasati).

Đức Phật coi trọng Tứ niệm xứ và khẳng định đây là con đường duy nhất, để làm thanh tịnh chúng sinh, vượt qua mọi buồn phiền, than khóc, xóa đi đau đớn và hoảng sợ, chứng được Niết-bàn, gọi là Tứ niệm xứ.

Đức Tổ sư đã vận dụng một cách sáng tạo Tứ niệm xứ mà chủ yếu là Thân niệm xứ Thọ niệm xứ để giảng luận về Số tức quán (Chơn lý, tr. 784-806) một cách đơn giản, dễ hiểu. Ngài cho rằng Số tức quan tức là quán xét hơi thở mà đếm số. Đức Phật Thích-ca khi xưa dưới cội Bồ-đề, ngồi trên tòa cỏ, xét đếm như vậy.

Tổ sư trình bày pháp tu dựa trên hơi thở bằng cách đếm hơi thở theo trình độ hành giả khác nhau “về hơi thở, người ta luyện tập cách nào cũng được, cốt yếu là để tập định, nhưng lúc hành thì phải kinh nghiệm… kẻ thái quá bất cập có điều trở ngại, tai hại, cho cơ thể, làm mất an vui tấn hóa”. Ngài cho rằng, phép đếm hơi thở vẫn hay chẳng bì được phép ngó chừng trái tim mà bởi có thấy dễ làm nên ai cũng chú ý đến, hơn nữa là nó cũng có phép ngăn đón, ngừa bệnh, được sống dai, tươi trẻ, khiến cho ai ai cũng tham muốn sự phản lão hoàn đồng ấy. Mặc dù có tác dụng ngừa bệnh và trị bệnh, nhưng tinh hoa bí yếu của Số tức quan vẫn là giữ thái độ khách quan đối với hơi thở, nghĩa là không can thiệp vào hơi thở:

“Tất cả những phép tu tập hơi thở có khó dễ khác nhau, nhưng chẳng có cách nào qua lẽ tự nhiên bình thường này, là người ta phải đừng cố ý chăm chú vào riêng hơi thở, nhưng người ta mỗi lúc nào cũng phải ngăn đón sự thái quá thở mạnh, càng bất cập thở nhẹ, tức là phải giữ làm sao hơi thở được mực trung điều hòa nhau như sợi dây ngang thẳng, chẳng cho gợn sóng, như cái vòng tròn không cho móp méo” (Chơn lý, tr. 802).

“Vậy thì tất cả phép tu, không có phép nào qua sự tự nhiên, vì tự nhiên chơn như là định, trung đạo. Còn các pháp tu là dùng trừ thái quá bất cập, để đặng giữ cái trung đạo tự nhiên chơn như định, chớ không phải tu là để tìm thái quá bất cập, hai bên lề. Bởi cái sống, biết, linh là ai cũng đang có, mà vì bị thái quá bất cập, tà pháp ngăn che ám muội. Hiểu như thế tức là cũng như không có tu tập luyện rèn chi, miễn đừng thái quá bất cập vọng loạn, và không nên chấp có hơi thở tưởng đếm chỉ số tức quan” (Chơn lý, tr. 803).

2.3. Định và Số tức quan trong Luật nghi Khất sĩ

2.3.1. Định

Phần Pháp vi tế về Định (trang 128 - 151) trongLuật nghi Khất sĩ, Tổ sư đã liệt kê đầy đủ 40 đề mục thiền định theo bộThanh tịnh đạo luận (gồm: Mười đề trước mặt, mười đề tử thi, Mười đề niệm niệm, Bốn đề vô lượng tâm, Bốn đề vô sắc, Một đề bất động, Một đề tưởng). Không những thế, trong mỗi mục còn chi tiết hóa như “30 đề mục đem đến nhập định”, “11 đề mục có thắng lực đem tâm từ sơ định tới ngũ định”, tu tập “11 đề mục có thắng lực đem tâm đến sơ định” v.v…

2.3.2. Số tức quan

Trang 142 - 151 liệt kê các chi pháp của thiền định như: 5 phép đề mục số tức quan, 8 phép ghi nhớ, 3 chặng hơi thở, 5 cách vui thiền định, 6 phép trừ tham dục, 6 phép trừ phóng tâm..., Qua đó cho thấy, Tổ sư đã nghiên cứu kỹ thiền định như thế nào. Điều này giúp chúng ta có thể nhận định rằng tôn chỉ của Tổ sư lấy định làm nền tảng, làm điểm tựa rồi mới khởi quán như truyền thống thiền Phật giáo Nguyên thủy.

3. Luật nghi Khất sĩ

Trong Luật nghi Khất sĩ, ngoài những điều đã nói ở mục nói trên, Tổ sư còn đề ra một số quy định dựa trên Luật tạng Nguyên thủy như: Tứ y pháp 5 của luật Khất sĩ cũng tương tự với luật Phật giáo Nguyên thủy: Đối với nhà sư khất thực có 4 điều phải nương theo:

1) Phải lượm những vải bỏ mà đâu (khâu) lại thành áo, nhưng có ai cúng vải, đồ cũ thì được nhận.

2) Chỉ ăn đồ xin mà thôi, nhưng ngày hội, thuyết pháp, đọc giới bổn, được ăn ở chùa.

3) Phải nghỉ dưới cội (gốc) cây, nhưng có ai cúng lều, am nhỏ, bằng lá một cửa thì được ở.

4) Chỉ dùng cây, cỏ, vỏ, lá mà làm thuốc trong khi đau, nhưng có ai cúng thuốc, dầu, đường thì được dùng.

(Phật giáo Nguyên thủy qui định nhà sư hành hạnh đầu-đà phải đi khất thực, mặc y phấn tảo, ngụ dưới bóng cây, dùng phân của bò mà làm thuốc).

Quy định về điều mà hàng xuất gia không nên làm:

“Không tự lấy để trừ tham; Không tự làm để tránh ác; Uống hỏi xin nước; nằm hỏi xin đất; Ăn hỏi xin lá, trái; Không ngắt lá cây, không bẻ trái, phải lượm xin; Ăn quả chừa hột, đừng bứng gốc (không xin thái quá); Không dùng đồ vật về sanh mạng của thú, người. Dứt tham ác thì sân si vọng động chẳng phát sanh”.

Phật giáo Nguyên thủy quy định cấm nhà sư không được: hành dâm, trộm cắp, giết người, khoe pháp bậc cao nhân. Riêng phần người xuất gia không nên làm thì Phật giáo Nguyên thủy cấm không được giết người, giết động vật, không làm tổn hại đến mạng sống của chúng sanh.

Kết luận

Những gì đã trình bày ở trên, tuy chưa đầy đủ và phân t ích chưa nhiều nhưng đã nêu lên phần nào mức độ ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo Nguyên thủy đối với bộ Chơn lý - di sản quý báu của Đức Tổ sư Minh Đăng Quang để lại cho chư Tăng Ni, Phật tử Khất sĩ. Tổ sư không chỉ kế thừa tinh hoa tư tưởng Phật giáo Nguyên thủy mà còn mạnh dạn đổi mới, phát triển cho phù hợp với sự phát triển của thời đại và thực tế Nam Bộ. Hơn nữa, Ngài lại kết hợp những tinh hoa của giáo lý Phật giáo Phát triển (Đại thừa) với tinh hoa Phật giáo Nguyên thủy, nhờ vậy, giáo lý của Ngài được nhiều người tin theo. Mười năm, kể từ ngày khai đạo, du hoá thuyết pháp tới ngày Ngài thọ nạn và vắng bóng, Đạo Phật Khất Sĩ đã có 20 ngôi tịnh xá, 100 Tăng Ni và vài vạn Phật tử và đến nay đã có trên 500 tịnh xá, với hơn 3.000 Tăng Ni và khoảng nửa triệu Phật tử.

Sức hấp dẫn của Chơn lý thật to lớn. Chúng tôi hoàn toàn nhất trí với Mục sư Lê Trung Trực - Tiến sĩ Siêu hình học Á châu đánh giá về bộ Chơn lý như sau: “Đây là bộ kinh rất phong phú, đa dạng, bao la, uyên bác, rất nhiều vấn đề quan yếu khác nhau, mỗi tập là một thuyết đề không trùng lập, mà mỗi chữ đều chọn lọc có ý nghĩa. Dù người đọc ở tầm mức nào, cũng sẽ nhận ra ngay, đây là một vị phi thường xuất chúng”.

Nguyễn Hữu Việt
Viện Nghiên cứu Tôn giáo

***

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Tổ sư Minh Đăng Quang, Chơn lý, Nxb. TP. Hồ Chí Minh, 1993.

2. Thích Chơn Thiện, Phật học khái luận, Nxb. TP. Hồ Chí Minh, 1999.

3. Daisetzzteitaro Suzuki, Thiền luận, quyển thượng, Nxb. TP. Hồ Chí Minh, 2008.

4. Chơn lý “Luật nghi Khất sĩ”, Nxb. Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2012.

5. Narada Maha Thera (Phạm Kim Khánh dịch), Đức Phật và Phật pháp, Nxb. Tôn giáo, 2011.

 


1 Tổ sư Minh Đăng Quang, Chơn lý tập I “Võ trụ quan”, Hà Nội, Nxb. Tôn giáo, 2009, tr. 5 - 21.

2 Sđd, “Ngũ uẩn”, tr. 37.

3 Daisetzzteitaro Suzuki, Thiền luận, quyển thượng, Nxb. TP. Hồ Chí Minh, 2008.

4Thích Chơn Thiện, Phật học khái luận, Nxb. TP. Hồ Chí Minh, 1999.

5 Luật nghi Khất sĩ “Tứ y pháp”, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2012, tr. 47-48.

    Chia sẻ với thân hữu: