Đạo Phật Khất Sĩ
CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Tìm hiểu về giáo lý Duyên khởi - phần 3

12Nhanduyen12Giáo lý Duyên khởi đã trở thành giáo lý nền tảng của đạo Phật. Vì vậy mọi giáo lý khác của Phật giáo cũng được xây dựng trên nền tảng giáo lý Duyên khởi. Chính điều này đã làm cho các giáo lý của đức Phật có một sự thống nhất. Các nhà Phật học xem giáo lý Duyên khởi như một sợi chỉ báu xuyên suốt toàn bộ các giáo lý của đức Phật. Giáo thuyết nào đi ra ngoài phạm vi duyên khởi, có thể khẳng định giáo lý đó không phải của đạo Phật. Muốn nghiên cứu các giáo lý căn bản khác như Nhân quả, Nghiệp báo, Tứ đế, Luân hồi, Ngũ uẩn, Tam pháp ấn v.v... cho thông suốt ắt không thể bỏ qua chìa khóa Duyên khởi. Từ đó chúng ta mới thấy hết được mối liên hệ hữu cơ giữa giáo lý Duyên khởi với các giáo lý khác của đức Phật, cũng như mối liên hệ giữa chúng với nhau. Nhờ ánh sáng duyên khởi chúng ta có một tầm nhìn xuyên suốt về đạo Phật, từ cái chung nhất đến cái vi tế nhất. Cho nên có thể nhận định rằng: thông hiểu giáo lý Duyên khởi là nắm được cái cốt lõi nhất của đạo Phật và biết được con đường đưa đến giải thoát mọi phiền não, luân hồi, đau khổ.

1. Duyên khởi và Nhân quả

Giáo lý Duyên khởi có thể được nhìn từ khía cạnh nhân quả. Mười hai chi phần nhân duyên vừa làm nhân vừa làm quả cho nhau. Như vô minh làm nhân của hành nhưng lại là kết quả của lậu hoặc. Hay hành là quả của vô minh nhưng lại làm nhân của thức. Nếu xét hai chi đứng kế nhau, chi trước làm nhân chi sau làm quả. Còn nếu xét trên tổng thể thì mười hai chi phần làm nhân quả cho nhau. Giáo lý nhân quả có lẽ được biết nhiều nhất qua thuyết Tam Thế Lưỡng Trùng Nhân Quả. Thuyết này lý giải một cách xuất sắc nhất về giáo lý nhân quả, luân hồi thông qua 12 chi phần nhân duyên. Theo thuyết này, sự hiện hữu của con người với tất cả những khổ đau đều có nguồn gốc từ nhân quả. Sở dĩ con người có mặt ở đời này là do đời trước đã gieo nhân hữu lậu. Nhân này chính là hai chi vô minh và hành. Vô minh, hành trong quá khứ sẽ tạo thành quả khổ vui hiện tại bằng các chi từ thức cho đến hữu. Do không giác ngộ, con người lại tiếp tục gieo nhân hữu lậu để phải tái sinh trong tương lai. Điều này được biểu hiện qua ba chi ái, thủ, hữu hiện tại làm nhân cho hai chi sanh và lão tử. Hai cặp nhân quả biểu hiện qua ba đời đã nói lên kiếp sống nhân quả luân hồi của chúng sanh vô cùng tận. Trong mười hai nhân duyên, các chi vô minh, hành, ái, thủ, hữu đóng vai trò làm nhân sinh tử; các chi nhân duyên còn lại đóng vai trò kết quả sinh tử. Thuyết Tam Thế Lưỡng Trùng Nhân Quả nói lên sự hiện hữu của con người vốn do duyên sinh, nhân quả. Nó phá tan thuyết không nhân, không quả sai lầm của một số ngoại đạo. Đồng thời nó cũng chứng minh rằng việc khổ vui do chính con người tạo ra chứ không phải do thượng đế hay một đấng thần linh nào như lý thuyết của một số tôn giáo. Sự khẳng định này có giá trị rất lớn về mặt giáo dục bản thân của chúng ta. Khiến người ta có tinh thần tự chủ, có trách nhiệm về hành động của chính mình:

     "Tự mình làm điều ác

     Tự mình làm nhiễm ô,

     Tự mình ác không làm,

     Tự mình làm thanh tịnh,

     Tịnh, không tịnh tự mình

     Không ai thanh tịnh ai.” [1,48]      

Thật vậy, nhân quả khổ đau hay nhân quả giải thoát là do chính con người. Con người tạo nhân nào ắt phải chịu kết quả dị thục của nó. Ngoài ra, thuyết duyên sinh, nhân quả còn cho chúng ta biết con đường đi đến giải thoát khổ đau cũng phải tiến hành theo quy luật duyên sinh nhân quả. Nếu 12 nhân duyên tập khởi làm nhân thì việc sống chết sầu bi là quả. Và việc chấm dứt 12 nhân duyên đạt trạng thái an lạc Niết-bàn là quả thì con đường Bát chánh đạo hay Giới, Định, Tuệ là nhân. Có thể nhận ra rằng nhân quả thế gian và xuất thế gian thông qua giáo lý Duyên khởi mà được sáng tỏ thêm. Vì thế, đức Thế Tôn đã nhiều lần khẳng định việc giải thoát hay đau khổ cũng ngay nơi thân năm uẩn này: "Chính trong xác thân không quá một tầm có thức có tưởng này. Như Lai tuyên bố thế giới, thế giới tập khởi, thế giới đoạn diệt và con đường đưa đến thế giới đoạn diệt.” [2,643]

Trên đây là nói về 12 chi phần duyên khởi được trình bày theo nhân quả có liên hệ đến khổ đau hay giải thoát của con người. Do tính đặc thù của duyên khởi nên có thể nói duyên khởi chính là nhân quả. Nếu trình bày duyên khởi bằng hai chi phần này thì ta cũng tìm thấy cách trình bày tương tự trong luận Đại Tỳ Bà Sa. Nhân quả nhờ có duyên khởi mà thành tựu. Mười hai nhân duyên khởi nhìn theo thứ đệ nhân quả thì có trước có sau, hay nhân quả khác thời. Còn quan sát theo nghĩa duyên sinh thật sự, ấy là nhân quả đồng thời. Vì vô minh sanh tức hành sanh hay toàn bộ 11 chi phần kia sanh khởi. Nhân và quả cùng sanh cùng diệt chớ không theo thứ tự thời gian. Như vậy có hai loại nhân quả dị thời và nhân quả đồng thời được tìm thấy trong giáo lý Duyên khởi. Nhân quả dị thời dùng để khảo sát lý duyên sinh trong phạm vi hẹp, theo nhận thức thông thường của chúng sanh. Nhân quả đồng thời dùng để khảo sát lý duyên khởi trên bình diện tổng quát rộng lớn. Lý thuyết nhân quả đồng thời được khai thác nhiều trong các trường phái Phật giáo Đại thừa.

2. Duyên khởi và Nghiệp

Giáo lý Duyên khởi có liên quan mật thiết với thuyết nghiệp báo của đạo Phật. Theo quan niệm của Phật giáo thì cả thế gian này được tạo thành bởi nghiệp. Chúng sanh bị vô minh chi phối, chấp trước vào các pháp hữu hình hữu hoại, sinh diệt vô thường cho là có thật ngã, thật pháp. Từ đó khởi sanh ái, thủ, hữu tạo thành nghiệp tái sanh trong ba cõi sáu đường. Điều này được biểu hiện cụ thể qua mười hai chi phần duyên khởi. Do nghiệp nhân quá khứ phát khởi từ vô minh, hành nên mới có thân năm uẩn hiện tại. Thân hiện tại bị vô minh huân tập lại tạo nghiệp mới để hình thành một đời sống trong tương lai.

Động cơ tạo nghiệp chính là hành uẩn hay 2 chi hành, hữu trong 12 nhân duyên. Hành gồm có thân hành, khẩu hành, ý hành. Ba loại hành này tương đương với ba nghiệp thân, khẩu, ý. Trong đó ý nghiệp còn gọi là tư tâm sở đóng vai trò chủ đạo. Theo Thắng Pháp Tập Yếu Luận, một lộ trình tư tưởng hay ý nghiệp được chia làm 17 chập tâm lý. Đầu tiên xuất hiện ba chập Bhavanga hữu phần, kế một tâm ngũ môn hướng, một tâm ngũ quan thức, rồi tiếp thọ tâm, suy đạt tâm, xác định tâm, 7 chập Javana tốc hành tâm và 2 chập đăng ký tâm. Trong lộ trình tư tưởng trên, 7 chập Javana tốc hành tâm có năng lực tạo nghiệp hơn cả. Chập tốc hành tâm đầu có năng lực tạo nghiệp yếu nhất nên trổ quả ngay trong kiếp sống hiện tại gọi là Hiện nghiệp. Chập tốc hành tâm thứ 7 trổ quả liền sau kiếp hiện tại, gọi là Hậu nghiệp. Còn năm chập tâm tốc hành từ thứ 2 đến thứ 6 có thể trổ quả bất cứ lúc nào trong vòng luân hồi từ kiếp hiện tại cho đến khi giải thoát gọi là nghiệp Vô hạn định. Hiện nghiệp và Hậu nghiệp nếu không sanh quả trong hiện tại hay đời sau, năng lực của nó hoàn toàn bị triệt tiêu, không còn khả năng sanh quả gọi là nghiệp Vô hiệu lực. Như vậy theo tiến trình thời gian chúng ta có bốn loại nghiệp:

  • Hiện Nghiệp: quả báo trổ sanh ngay đời hiện tại.
  • Hậu Nghiệp: quả báo trổ sanh sau kiếp hiện tại.
  • Nghiệp Vô Hiệu Lực: nghiệp không có tác dụng sanh ra quả.
  • Nghiệp Vô Hạn Định: quả báo trổ sanh vào bất cứ lúc nào trong kiếp luân hồi.[3,330]

Phần trên nói về động cơ của nghiệp, tức tư tâm sở hay là chi phần hành và hữu trong 12 nhân duyên. Bây giờ chúng ta hãy tìm hiểu về mối liên hệ giữa ba yếu tố duyên khởi: Hoặc, Nghiệp, Khổ như được đề cập trong luận Tỳ Bà Sa và Thanh Tịnh Đạo. Chính ba yếu tố này liên kết làm nhân quả cho nhau khiến bánh xe sanh tử xoay vần bất tận. Vì Hoặc duyên Nghiệp, Nghiệp duyên Khổ, Khổ lại nuôi dưỡng Hoặc. Cứ như thế ba chi Hoặc, Nghiệp, Khổ sanh khởi không ngừng. Ngài Phật Âm đã phân tích tiến trình này như sau trong bộ Thanh Tịnh Đạo: “Ở đây, hành và hữu là cái vòng nghiệp; vô minh, ái, thủ là cái vòng hoặc; thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ là cái vòng quả báo. Bánh xe sanh tử có ba vòng ấy quay mãi, vì các duyên chưa dứt khi lậu hoặc chưa dứt.”[18,975] Ba vòng Hoặc, Nghiệp, Khổ liên tục xoay chuyển như vậy khiến cho chúng sanh bị sanh tử luân hồi hết đời này qua đời khác. Sự tình này hoàn toàn không do một linh hồn bất tử hay một bản ngã thường trụ nào cả. Chúng chỉ trình diễn một vòng sinh khởi qua 12 nhân duyên hay do ba yếu tố Hoặc, Nghiệp, Khổ mà thôi:

“Không người tạo nghiệp nhân

Không ai nhận nghiệp quả

Chỉ hiện tượng trôi lăn

Không có gì khác cả

Ngoài tri kiến chánh chân

Không kiến nào đúng cả”.[4,339]

Tuy sự sanh tử của chúng ta bị chi phối bởi nghiệp nhưng nghiệp trong đạo Phật hoàn toàn không phải định nghiệp hay tiền định. Chúng ta có thể chuyển hóa nghiệp bằng sự tu hành. Con người hoàn toàn có được tự do ý chí để quyết định cuộc đời mình tốt hay xấu, khổ hay vui, giải thoát hay luân hồi. Vì nghiệp mang tính duyên sinh, cho nên nó cũng được hình thành và hoại diệt theo duyên. Một khi vô minh, ái, thủ bị diệt thì vòng nhân duyên hữu lậu cũng diệt theo, và nghiệp cũng không còn lý do tồn tại.

3. Duyên khởi và Tứ đế

Giáo lý Duyên khởi và giáo lý Tứ đế được xem như là hai viên bảo châu vô giá của đạo Phật. Cả hai đều chỉ ra nguyên nhân sanh tử khổ đau cũng như nguyên nhân đưa đến giải thoát Niết-bàn. Bởi vậy đức Thế Tôn thường trình bày giáo lý Duyên khởi trong hình thức Tứ đế và ngược lại. Người có Chánh tri kiến hiểu rõ lý Tứ đế thì nhất định sẽ nắm được giáo lý Duyên khởi. Cũng thế, ai thông suốt giáo lý Duyên khởi thì sẽ hiểu rõ giáo lý Tứ đế. Đây chính là mối tương quan tương duyên đặc biệt giữa Duyên khởi và Tứ đế.

Kinh Tương Ưng, đức Phật trình bày duyên khởi trong hình thức Tứ đế như sau:“... Đây là già, đây là chết. Do sanh khởi, già chết khởi. Do sanh diệt, già chết diệt. Đây là Thánh Đạo Tám ngành đưa đến già chết đoạn diệt tức là Chánh Tri Kiến, Chánh Tư Duy, ... Chánh Định... Và này các tỳ kheo, đây gọi là hành. Do vô minh khởi, hành khởi. Do vô minh diệt, hành diệt. Đây là Thánh Đạo Tám ngành đưa đến đoạn diệt các hành. Tức là Chánh Tri Kiến, Chánh Tư Duy, ... Chánh Định”. [5,78-80]

Theo đoạn kinh trên, chúng ta thấy Khổ đế đồng nghĩa với 12 nhân duyên. Mười hai nhân duyên hiện hữu, tức là toàn bộ khổ uẩn hiện hữu hay có thân năm uẩn. Từ đó mọi đau khổ do sanh già bệnh chết sầu bi khổ ưu não cũng xuất hiện theo.

Tập đế được biểu hiện qua 12 nhân duyên tập khởi, như sanh là nhân tập khởi của già chết, hữu là nhân tập khởi của sanh. Cứ như thế phăng dần đến vô minh là nhân tập khởi của hành. Do vậy, Tập đế ở đây bao hàm toàn bộ 12 nhân duyên tập. Trong ấy vô minh, hành, ái, thủ, hữu luôn là động cơ chủ yếu của Tập đế. Trong kinh, đức Phật dạy ái làm chủ nhân chính của Tập đế là nói một cách tổng quát vậy.

Diệt đế được hiểu như là 12 nhân duyên đoạn diệt, đồng nghĩa với khổ đau đoạn diệt. Như trên đã trình bày, vô minh, ái, thủ, hữu đóng vai trò chủ nhân của Tập đế. Bởi Diệt đế ở đây chính là trạng thái chấm dứt vô minh, ái thủ. Trên hình thức duyên sinh, một chi phần đoạn diệt tức là 12 chi phần đoạn diệt. Nhưng điểm thực dụng trong việc tu hành, chúng ta phải đột phá chi phần vô minh, ái dục là hiệu quả hơn cả. Vô minh, tham ái đoạn diệt, tức là Diệt đế hay Niết-bàn hiện hữu.

Đạo đế, con đường đưa đến chấm dứt 12 nhân duyên không ngoài Bát chánh đạo hoặc 37 phẩm trợ đạo hay gọi chung là Giới, Định, Tuệ.

Giáo lý Tứ đế đã minh định rõ ràng hai cặp nhân quả khổ đau và nhân quả giải thoát. Khổ đế, Tập đế thuyết minh cho nhân quả khổ đau, còn Diệt đế và Đạo đế làm phát sanh nhân quả giải thoát. Giáo lý 12 nhân duyên cũng tương tự như thế. Tuy nhiên, lý Duyên khởi chú trọng về mặt tìm hiểu thực trạng khổ đau của kiếp sống nhân sinh và phương hướng đưa đến giải thoát nhưng không đưa ra đường lối tu tập cụ thể như giáo lý Tứ đế. Mặt khác, giáo lý Duyên khởi sẽ giúp chúng ta hiểu sâu hơn về lý nhân quả. Vì 12 nhân duyên vừa là Khổ đế vừa là Tập đế. Mỗi chi phần trong 12 nhân duyên vừa đóng vai trò kết quả mà cũng là nguyên nhân. Điều trên đã giải thích tại sao chúng sanh bị luân chuyển trong vòng sanh tử luân hồi không dứt. Chính là do Tập đế làm nhân cho Khổ đế và ngược lại. Hoặc như ba luân Hoặc, Nghiệp, Khổ làm nhân duyên sinh khởi cho nhau không đứt đoạn như đã nói trong phần nghiệp. Tóm lại, giáo lý Duyên khởi không những có liên quan với giáo lý Tứ đế mà còn làm sáng tỏ giáo lý này trên nhiều phương diện. Tứ đế, Duyên khởi luôn luôn đi song hành với nhau và hỗ trợ cho nhau, đồng thời hỗ trợ cho các giáo lý căn bản khác nữa.

4. Duyên khởi và Năm uẩn

Mười hai nhân duyên thuyết minh sự hiện hữu của con người. Con người có khi được định nghĩa bằng Ngũ uẩn. Do vậy, 12 nhân duyên và Năm uẩn cũng có mối tương đồng với nhau.

Cả hai giáo lý Duyên khởi và Ngũ uẩn đều nói lên thực trạng vô ngã của con người. Con người thật ra chỉ là 12 yếu tố duyên sinh hay năm uẩn. Những yếu tố này do duyên hòa hợp giữa hai nhóm vật chất và tinh thần. Hai yếu tố này cùng sinh cùng diệt, không bao giờ tồn tại riêng biệt. Nếu đứng riêng lẻ thì không thể thành tựu con người hay chúng hữu tình. Trong kinh Tương Ưng, đức Phật ví dụ như hai cây lau nương vào nhau cùng đứng. Một cây ngã thì cây kia cũng ngã theo. Chi danh sắc trong 12 nhân duyên đồng nghĩa với 5 yếu tố Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức của năm uẩn. Theo lý duyên sinh, danh không thể tồn tại nếu thiếu sắc, và ngược lại sắc sẽ không hiện hữu nếu thiếu danh. Điều này nói lên ý nghĩa duyên khởi giữa vật chất và tinh thần. Không có cái nào có trước, cái nào có sau như quan niệm của một số trường phái theo duy tâm hay duy vật. Phật từng dạy danh sắc không thể hình thành nếu không có sự hòa hợp giữa tinh cha, huyết mẹ và hương ấm. Do vậy, con người chính là sự giả hợp của 12 nhân duyên hay năm uẩn đã nói lên tính duyên sinh vô ngã. Trong ấy ngoài hai yếu tố vật chất và tinh thần ra thì hoàn toàn không có một linh hồn bất tử nào ngự trị cả. Ai chấp nhận có linh hồn thường tại, có một bản ngã hiện hữu trong thân này sau khi chết chỉ là sự mê lầm, điên đảo, thất vọng, đau khổ mà thôi.

Bản thân giáo lý Năm uẩn cũng hình thành, phát triển theo lối duyên sinh. Đứng về mặt nhân quả đồng thời, một uẩn có mặt thì lập tức các uẩn khác cũng có mặt, một uẩn diệt thì bốn uẩn kia cũng không tồn tại. Còn xét về mặt nhân quả dị thời thì năm uẩn sinh khởi theo tiến trình Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Sự sắp xếp thứ tự năm uẩn không phải hoàn toàn ngẫu nhiên mà có đạo lý của nó. Do có sắc, hay căn trần duyên với nhau mà xúc sinh, do xúc sinh thọ, thọ sinh tri giác, do tri giác mà có hành, do có hành mà thức được huân tập và nuôi dưỡng. Đạo lý này được đức Thế Tôn diễn tả trong kinh Mật Hoàn: “Chư hiền, do nhơn con mắt và các sắc pháp, nhãn thức khởi lên, sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc nên có cảm thọ. Những gì có cảm thọ thời có tưởng, những gì có tưởng thời có suy tầm, những gì có suy tầm thì có hý luận. Do hý luận ấy làm nhơn, một số hý luận vọng tưởng ám ảnh tâm một người đối với sắc pháp do con mắt nhận thức về quá khứ, tương lai và hiện tại.” [6,254]

Giáo lý Duyên sinh không chỉ có mối tương quan với giáo lý Năm uẩn mà còn liên hệ mật thiết với giáo lý Thập nhị xứ và Thập bát giới. Thật ra, giáo lý Thập nhị xứ, Thập bát giới là hình thức mở rộng của giáo lý Năm uẩn mà thôi. Đối với giáo lý Năm uẩn, Phật chú trọng phân tích kỹ phần Danh để giáo hóa những ai chấp tinh thần làm ngã. Giáo lý Thập nhị xứ phân tích sâu rộng phần vật chất nhằm mục đích phá trừ sự chấp ngã của sắc thân, còn giáo lý Thập bát giới thì triển khai cả hai phần vật chất và tinh thần để giác ngộ cho những ai chấp chặt Danh sắc là bản ngã. Sau đây là mối tương quan giữa năm uẩn và mười hai chi phần nhân duyên:

_ Vô minh và hành thì tương đương với Hành uẩn trong năm uẩn

_ Thức trong 12 nhân duyên tương đương với Thức của năm uẩn

_ Danh sắc đồng nghĩa với năm uẩn

_ Lục nhập chính là Sắc uẩn.

_ Thọ của 12 nhân duyên tương ưng với Thọ uẩn

_ Ái, thủ, hữu là Hành uẩn

_ Sinh và lão tử, tức là sự sinh thành và hoại diệt của năm uẩn. [7,202]

Đến đây, một lần nữa chúng ta thấy giáo lý Duyên khởi là cầu nối kết với các giáo lý căn bản khác của đức Phật lại với nhau. Từ đó tạo nên một điểm thống nhất trong toàn bộ giáo lý của Thế Tôn.

5. Duyên khởi và Tam pháp ấn

Tam pháp ấn gồm có Vô thường, Vô ngã và Khổ. Có thuyết thêm vào pháp ấn Không tạo thành Tứ pháp ấn. Tam pháp ấn của Phật giáo Nguyên thủy và Phật giáo Phát triển có phần khác nhau về tên gọi cũng như cách trình bày. Ở đây chúng ta chỉ xét Tam pháp ấn của hệ Nikaya mà thôi.

Duyên khởi được xem là chân lý của thế gian, của các pháp hữu vi, Tam pháp ấn được xem như hệ luận rút ra từ giáo lý Duyên khởi. Bản thân lý Duyên khởi đã nói lên thực trạng của các pháp hữu vi là vô thường, vô ngã và khổ đau. Đức Phật định nghĩa duyên sinh chứa đầy đủ ba pháp ấn: “Duyên sinh pháp là các pháp được tác thành, hữu vi, biến hoại, tan rã, đoạn diệt, vô thường”. Các pháp hữu vi khi gặp các duyên hợp lại gọi là sanh, khi các duyên tan rã gọi là diệt. Vì chúng sanh diệt theo duyên cho nên mang tính vô thường. Các pháp hữu vi do nhiều duyên tạo thành, và không có một yếu tố nào làm chủ cho nên chúng mang tính vô ngã. Các pháp hữu vi mang tính vô thường, vô ngã, nếu ai lầm chấp chúng có ngã tính thường tồn rồi khởi tâm tham ái chấp trước, khi chúng đi theo qui luật vô thường, vô ngã thì nhất định phải chịu khổ đau. Đó là chúng ta xét Tam pháp ấn một cách tổng quát, còn Tam pháp ấn đối với con người thì sao? Con người là pháp duyên sinh được biểu hiện qua 12 chi phần nhân duyên hay năm uẩn. Trong ấy các nhân duyên sinh diệt liên tục không ngừng. Không có cái gì thường trụ. Từ tâm pháp cho đến sắc pháp đều sinh diệt theo duyên. Hai chi sinh và lão tử đã bao hàm cả một chuỗi sanh thành, hoại diệt của một đời người, một tiến trình tâm thức, hay một pháp hữu vi. Đây là tính vô thường vậy. Mười hai nhân duyên sinh khởi, không cái nào làm chủ thể, cũng không có cái gì làm nguyên nhân đầu tiên. Mọi câu hỏi về cái ta đều trái với chân lý duyên khởi. Theo lý duyên sinh, chúng ta không thể nói ai xúc, ai thọ, ai ái, ai đau khổ. Mà phải hỏi do duyên gì xúc sinh, thọ sinh, ái sinh, đau khổ sinh. Ngài Phật Âm đã lý giải tính vô ngã của con người bằng một bài kệ đặc sắc:

       “Có đau khổ nhưng không người chịu khổ

       Có việc làm dù chẳng có người làm

       Không kẻ diệt vong dù có Niết bàn

       Có đạo lộ song có đâu hành giả”. [8,339]

Thật vậy, đạo lý duyên sinh chính là vô ngã tính. Vô ngã là thực tính, như lý tính của vạn hữu. Con người chỉ là sự giả lập của năm uẩn hay mười hai nhân duyên cho nên cũng vô ngã. Mười hai nhân duyên sinh khởi là toàn bộ khổ đau tập khởi. Con người có thân năm uẩn cho nên phải chịu tất cả những khổ đau của kiếp nhân sinh. Nào là sinh già bệnh chết, sầu bi khổ não v.v... và nhiều thứ khổ khác nữa. Nhưng chưa hết, cái khổ đau nhất của con người chính là do không giác ngộ tính vô thường, vô ngã của bản thân và thế giới rồi khởi tâm tham ái, chấp thủ tạo ra vô số nghiệp phải tái sinh trong ba cõi sáu đường không cùng tận:

Sinh ra rồi lớn rồi già

Rồi đau rồi chết lìa qua một đời

Rồi theo nghiệp luân hồi trở lại

Cũng sanh thân cũng mãi tấn tuồng

Bánh xe tứ khổ quay cuồng

Sanh già bệnh chết theo vòng chuyển xoay.

Tóm lại, ba pháp ấn có liên hệ mật thiết với mười hai nhân duyên và có mối liên hệ hữu cơ với nhau. Vô thường cũng chính là vô ngã, khổ đau, duyên sinh. Trong ba pháp ấn này, hễ nói đến một pháp, tức liên quan đến hai pháp còn lại. Vì vô thường đứng về mặt thời gian, vô ngã xét về mặt không gian, khổ có mặt do không hiểu chân lý duyên sinh. Cả ba pháp này phát sinh từ giáo lý Duyên khởi. Thế nên giác ngộ lý Duyên khởi cũng đồng nghĩa với giác ngộ Tam pháp ấn, con đường đưa đến sự thanh tịnh và chấm dứt khổ đau.

                                                                                                       ( còn tiếp)

[1, 48] Thích Minh Châu, kinh Pháp cú, Nxb. Tôn Giáo, Hà Nội, 2000

[2,643] Thích Minh Châu, kinh Tăng Chi I, VNCPHVN ấn hành, TP.Hồ Chí Minh, 1996

[3,330] Phạm Kim Khánh dịch, Đức Phật và Phật Pháp, Thành hội PG TP.Hồ Chí Minh, 1998

[4,339] Trần Phương Lan dịch, Đức Phật lịch sử, VNCPHVN ấn hành, TP.Hồ Chí Minh, 1997

[5,78-80] Thích Minh Châu, kinh Tương ưng II, VNCPHVN ấn hành, TP.Hồ Chí Minh, 2003

[6,254] Thích Minh Châu, kinh Trung bộ I, VNCPHVN ấn hành, TP.Hồ Chí Minh, 1992

[7,202] Thích Chơn Thiện, Phật học khái luận, Nxb. TP.Hồ Chí Minh, 1998

[8,339] Trần Phương Lan dịch, Đức Phật lịch sử, VNCPHVN ấn hành, TP.Hồ Chí Minh, 1997  

    Chia sẻ với thân hữu: