Đạo Phật Khất Sĩ
CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Tóm lược nội dung khóa "Bồi dưỡng đạo hạnh" dành cho hàng Sa-di lần thứ 12

BeMac sadi12 28Trên tinh thần kế thừa và phát triển, chư tôn đức lãnh đạo Giáo đoàn đã tiếp tục triển khai chương trình bồi dưỡng đạo hạnh dành cho hàng tân học: Sa-di, Sa-di-ni và tập sự nam nữ. Khóa bồi dưỡng lần thứ 12 này được tổ chức tại đạo tràng Tịnh xá Ngọc Trung thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai từ ngày mùng 3/2/ đến ngày 13/2 năm Bính Thân (nhằm ngày 11 đến 21/3/2016). Và khóa tu này có 112 vị hành giả Tăng Ni tân học tham dự, với 29 vị Sa-di, 20 tập sự nam, 63 Sa-di-ni và tập sự nữ.

Kính bạch quý Ngài,

Cũng như các khóa đã qua, trước khi làm lễ khai mạc khóa tu chư Tăng Ni đã thực hành hạnh trì bình khất thực hóa duyên để gieo duyên lành đối với bá tánh vùng cao nguyên này. Sau đó buổi lễ chính thức được diễn ra với sự chứng minh của Hòa thượng trụ trì Tịnh xá Ngọc Duyên, Chứng minh của Giáo đoàn và Hòa thượng trụ trì TX. Ngọc Sơn, Trưởng Ban giáo dục Tăng Ni của Giáo đoàn.

Kính bạch chư Tôn đức,

Về chương trình tu học trong khóa này cũng giống như các khóa trước, từ thời gian thức chúng 3h30 cho đến kết thúc một ngày tu học vào lúc 9h30 như thời khóa mà chư tôn đức lãnh đạo giáo đoàn đã chứng minh và chỉ dạy. Thời khóa gồm 2 thời thiền tọa, 2 thời thiền hành, 2 thời tụng kinh, 2 thời học pháp, 1 thời dò bài và trùng tụng chơn lý, 1 thời sám hối, và khất thực thọ nhận thực phẩm để cùng ăn cơm hòa chúng trong chánh niệm. Đối với nội dung tu học con xin được tóm lược như sau:

Sau buổi khai mạc, Hòa thượng Trưởng Ban giáo dục của giáo đoàn đã có lời sách tấn và khích lệ đến hội chúng tân học. Hòa thượng nhấn mạnh đến tinh thần tiếp nối hạnh nguyện của Tổ Thầy để hội chúng ý thức rõ hơn về con đường, về lý tưởng xuất gia của người khất sĩ, và đặc biệt hơn là hiện thực hóa phương châm sống chung tu học. Muốn đạt được điều ấy các vị tân học phải biết phát triển tinh thần hòa hợp và thanh tịnh, dù cả khi hội họp hay khi giải tán. Đây chính là yếu tố căn bản không thể thiếu để phát triển đạo pháp.

Đến buổi chiều Hòa thượng tiếp tục hướng dẫn cho hội chúng những phương pháp tu tập thiền định, từ điều thân cho đến cách ngồi như thế nào và quán chiếu ra sao để giúp cho niệm lực phát triển. Hòa thượng còn nhấn mạnh đến sự thiết yếu của chánh niệm tỉnh giác trong quá trình tu tập để giúp hành giả có mặt ngay trong giây phút hiện tại và đạt được sự an vui trong sinh hoạt thường nhật. Đồng thời Hòa thượng còn nhấn mạnh rằng chính niệm lực sẽ giúp cho hành giả phát triển năng lượng tỉnh giác để nuôi dưỡng và tăng trưởng đạo tâm, kiên cố đạo hạnh để chóng thành quả giác.

Đến cuối buổi lễ khai mạc Hòa thượng trụ trì Tịnh xá Ngọc Duyên đã có lời huấn từ đến với hội chúng. Hòa thượng rất lấy làm hoan hỷ khi thấy hội chúng tân học đã nổ lực để câu hội về tham dự khóa tu một cách đông đủ như thế. Sau đó Hòa thượng nhấn mạnh và triển khai cho hội chúng thấy tinh thần hòa hợp trong giáo pháp của Tổ Thầy. Hòa thượng nhắc lại lời kinh mà mọi hành giả đều tụng đọc hằng ngày trong lúc thọ trai qua bài thọ bát, để từ đó giúp cho hội chúng ý thức hơn về tinh thần lục hòa và tinh thần tri ân đối với bá tánh nhân sinh. Vì có tri ân hành giả mới nỗ lực tu tập để đền đáp, mới nhiệt tâm chuyển hóa những bất thiện pháp từ thân khẩu ý, mới có thể đi đến con đường hòa hợp và thanh tịnh. Và đặc biệt dù bệnh duyên nhưng Hòa thượng vẫn cố gắng đến sách tấn đối với hội chúng vào chiều ngày thứ 9. Hòa thượng đã phân tích cho đại chúng thấy được tinh thần của việc bồi dưỡng đạo hạnh không chỉ dành cho Sa-di mà việc bồi dưỡng đó còn theo ta suốt cuộc hành trình tìm về bến giác. Sau đó Hòa thượng nhắc đến những tinh thần mà người xuất gia cần lưu tâm như huân tập đức tánh tốt, môi trường sống và tu học tốt, hay như tinh thần cảm thông…. để hoàn thiện đời sống phạm hạnh Sa-môn.

Qua ngày thứ 2, Đại đức Giác Khiêm đã chia sẻ đến với hội chúng phương pháp thực hành điều thân và điều tâm. Đại đức đã hướng dẫn cho chư vị Sa-di cách ngồi thế nào cho vững chãi, để làm chủ được tấm thân trong lúc thiền tập. Khi thân được điều phục thì mới có thể thực tập phương pháp ghi nhận diễn biến của tâm, bởi phần thô bên ngoài còn không điều phục được thì làm sao có thể nhận diện những cái tâm niệm vi tế bên trong được. Đồng thời Đại đức còn chỉ cho hội chúng cách nhìn nhận các cảm thọ, hành vi ngay trên thân hành của bản thân. Đại đức đã phân tích cho hội chúng thấy được đâu là thân hành thiện, đâu là hành vi bất thiện, và thân hành đó có tâm tham sân si tham dự và chi phối hay không? để từ đó ghi nhận và phát triển tâm hành của mình cho đúng với chánh pháp. Và đặc biệt có thực tập được như thế mới có thể thăng tiến trên lộ trình tu tập và đạt đến quả vị giác ngộ được.

Đến ngày tiếp theo, Đại đức Giác Nhường đã chia sẻ với hội chúng những phương cách hành xử của một người xuất gia thông qua 5 pháp được đức Phật chỉ dạy trong kinh Tăng Chi bộ như không quá thân cận với người không thân tín; không xen vào công việc của người khác; không ra vào với những phần tử chống đối; không nói một bên tai; và không xin quá nhiều. Thông qua 5 pháp ấy Đại đức đã giảng giải cho đại chúng thấy được vì sao phải như thế, để nhằm phát triển đạo tâm và khả năng nhận thức của hàng Sa-di tân học, cũng như tránh làm cho bá tánh mất đi niềm kính tin đối với Tam bảo. Đến buổi chiều Đại đức đã chia sẻ với hội chúng về pháp tu học của người khất sĩ thông qua mắt tai mũi lưỡi trong thập lục hạnh, để qua đó hàng Sa-di hiểu được cách hành xử của vị Sa-môn trong cuộc sống thường nhật, và cũng là để phòng hộ các căn khi tiếp xúc với các trần, nhằm tránh bị ngoại cảnh chi phối dẫn dắt.

Đến chiều ngày thứ 5, Thượng tọa Giác Duyên đã đến với đại chúng bằng bài kệ “Pháp” trong Luật Nghi Khất Sĩ. Thượng tọa đã phân tích cho hội chúng thấy được tinh thần duyên sinh của các pháp và thấy được tính chất tương đãi của vạn vật, hai mặt có không, lý sự để đi đến bản chất của các pháp và nhận chân Tánh không trong chúng. Và qua đó Thượng tọa liên hệ đến tấm thân vô thường giả tạm này để giúp cho đại chúng thấy được sự biến chuyển của các yếu tố cấu thành chúng, và giúp cho hội chúng nhận diện ra được sự thật giả tạm của con người để mà từ đó nỗ lực tu học, để chóng thành tựu lý tưởng xuất gia của người học Phật.

Vào sáng ngày thứ 6, Hòa thượng Giác Phùng đã tán dương tinh thần cầu học ham tu của hội chúng và sau đó sách tấn hội chúng hãy nỗ lực tu tập cũng như luôn nhớ đến ân đức của Tam bảo và Tổ Thầy. Kế đó Hòa thượng đã dùng những hình ảnh, bài học cụ thể và thực tế qua cuộc đời tu học với đức Thầy và đức cố Trưởng lão để từ đó giúp cho hành giả có thêm iềm tin với Tổ Thầy. Đồng thời Hòa thượng nhấn mạnh đến những tính chất giúp cho vị hành giả hoàn thiện đời sống giới hạnh của vị Sa-môn như tinh tấn tu học, kham nhẫn, khiêm cung, nhịn nhường… và đặc biệt là phải kiên định trong con đường tu học để hoàn thiện lý tưởng mục đích xuất gia tu học.

Đến buổi chiều Ni trưởng Cảnh Liên đã chia sẻ với hội chúng về các chướng ngại trên con đường tu tập thiền định. Năm triền cái đó được xem như là kẻ thù của hành giả tu tập thiền định, bởi chúng sẽ cản trở và làm cho tiến trình giác ngộ của hành giả trở nên chậm hơn và lún sâu vào vòng vô minh. Đồng thời thông qua 5 triền cái này, Ni trưởng đã dẫn dụ những mẫu chuyện trong kinh tạng để minh họa cho hội chúng thấy cách chuyển hóa chúng, từ tham sân cho đến nghi ngờ về giáo pháp, về lộ trình tu học, và qua đó khích lệ hội chúng hãy cố gắng dụng công để phát triển yếu tố tỉnh giác nhằm vượt qua các chướng ngại này trên con đường tu tập.

Đến ngày thứ 7, Đại đức Giác Phổ đã đến với đại chúng qua chủ đề Bổn phận của xuất gia. Qua đó Đại đức đã trình bày cho hội chúng thấy được như thế nào là bổn phận và trách nhiệm của người xuất gia, cũng như thế nào là chưa xuất gia để hội chúng thấy được mình đã thực sự xuất thế tục gia chưa, hay chỉ là hình tướng xuất gia thôi, vì những thứ thế tục như sắc đẹp, danh lợi, quyền uy, lợi dưỡng… có còn chi phối, ràng buộc ta hay không? Sau đó Đại đức đã phân tích cho hàng xuất gia tân học thấy được những nguyên nhân đưa đến phiền não và con đường đi đến sự chuyển hóa những tham sân si ấy để bước ra khỏi ngôi nhà phiền não. Đại đức đã chỉ cho hành giả thấy được nguyên nhân chính là do dục sai sử mà chúng ta phải làm nô lệ cho tham sân si cùng tài sắc danh thực thùy... Đôi khi chúng ta sống trong dòng chảy ấy nhưng vì lơ là và thiếu hiểu biết mà không nhận ra rằng mình đang bị chúng cuốn trôi. Cho nên chỉ có con đường Giới Định Tuệ mới có thể nhận ra và chuyển hóa được, mới có thể trở thành sứ giả của Như Lai.

Qua ngày thứ 8, HT. Giác Phương đã trình bày kệ “Ý” trong Luật Nghi Khất Sĩ để giúp cho đại chúng thấy được lời kinh ý Tổ, và đặc biệt là pháp tu được truyền tải trong đó. Ở đây Hòa thượng đã chỉ cho hội chúng thấy được ý nghĩa "vốn hai" của con người. Vốn hai ở đây không chỉ là sự thay đổi của tâm ý mà đó là hai thái cực, hai cặp phạm trù đối đãi: ưa thích, ghét thương, có không... Cái này là thuốc chữa bệnh cho cái kia. Hòa thượng đã triển khai tinh thần phá chấp trước, nhằm tháo gỡ cái ngã sở và cái tự ngã của ta bằng lời dạy trong bài Ý “đến khi vô chấp mới hòa thuận nhau”. Hòa thượng nhấn mạnh chỉ có chánh niệm mới có thể kiểm soát hành vi trong mọi oai nghi, mới thấy được bản chất giả tạm của các pháp, mới có thể buông bỏ ngã chấp, chữa chứng bệnh mê lầm của chúng sanh để đi đến quả vị giác ngộ.

Đến sáng ngày thứ 9, Ni trưởng Hiệp Liên đã chia sẻ đến hội chúng tinh thần bảy yếu tố giác ngộ thông qua câu chuyện vua Asoka với vị Tỳ-kheo đi khất thực bị lạc vào vườn Ái Lạc. Ngay nơi câu chuyện, Ni trưởng đã phân tích cho hội chúng thấy các chi phần đưa đến sự giác ngộ mà vị Tỳ-kheo này đã khéo ứng dụng và chuyển hóa để đạt đến quả vị vô lậu sau 7 ngày tu tập. Qua đó khuyến tấn hội chúng chuyên tinh tu học như vị Tỳ-kheo ấy để chóng đạt được quả vị giải thoát. Và đặc biệt là các phương pháp tư duy, phân biệt đâu thiện đâu bất thiện mà vị Tỳ-kheo đã quán chiếu cũng như tinh tấn tu tập trong thời gian bảy ngày để chuyển hóa lậu hoặc. Đồng thời sau khi chuyển hóa rồi vị Tỳ-kheo đã nhiếp phục và khuyến hóa vua Asoka quay đầu hướng thiện để phụng sự Tam bảo làm lợi ích cho mọi người.

Đến ngày cuối khóa, Đại đức Giác Hoàng đã chia sẻ với hội chúng về lịch sử và đường lối của Tổ sư Minh Đăng Quang. Đại đức đã ôn lại lịch sử của đức Tổ sư từ niên thiếu cho đến xuất gia, hành đạo và vắng bóng. Qua đó Đại đức đã kể về tinh thần tu tập và sự quán chiếu mà đức Tổ sư đã hành trì và chứng ngộ. Hơn hết chính là con đường hoằng truyền giáo pháp giải thoát với tôn chỉ Nối Truyền Thích Ca Chánh Pháp, Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam. Đồng thời thông qua đó Đại đức khuyến khích chư vị Sa-di tân học hãy tìm hiểu, đọc và học thuộc lòng bộ Chơn Lý do đức Tổ sư biên soạn. Đến buổi chiều Đại đức đã cho trắc nghiệm để kiểm tra lại sự tiếp nhận của hàng Sa-di.

Kính bạch chư Tôn đức, 

Bên cạnh những thời khóa thuyết giảng đã được kính trình ở trên thì còn có sự chứng minh sách tấn của chư tôn đức giáo phẩm lãnh đạo như HT. Giác Phùng, HT. Giác Phương trong những giờ sám hối, cũng như sự tận tình chỉ dạy đối với hội chúng của chư vị đại đức như ĐĐ. Giác Phổ, ĐĐ. Giác Hoàng, ĐĐ. Giác Nhường, ĐĐ. Giác Khiêm đã giúp cho chúng Sa-di ngày một hoàn thiện hơn về đời sống phạm hạnh. Đây cũng chính là hành trang mà chư Tôn đức đã truyền trao cho hội chúng. Chính sự tận tình trao truyền ấy đã giúp cho hành giả nhận được món quà tinh thần vô cùng quý giá và đánh thức được tâm tinh tấn tu tập của hội chúng.

Kính bạch quý Ngài, 

Qua 10 ngày của khóa tu, hội chúng đã thu được những kết quả khả quan về sự chuyển hóa khá rõ nét trong đời sống phạm hạnh của vị Khất Sĩ. Điều này minh chứng qua lối sống chung tu học, qua cách ăn hòa chúng, đồng oai nghi trong khi xá chào, v.v… Đây cũng chính là điều mà hàng Sa-di đã thể hiện để đền đáp lại công ơn mà chư Tôn đức đã lao tâm, mở khóa tu dành cho hàng Sa-di, Sa-di-ni. Và chính sự trang nghiêm ấy cùng sự chuyển hóa trong thân hành của hội chúng đã làm cho Phật tử phát tâm hộ trì khóa tu thêm phần kính tin Tam bảo cũng như hoan hỷ với thiện sự hộ trì khóa tu.

Nam Mô Hoan Hỷ Tạng Bồ-tát Ma-ha-tát tác đại chứng minh.

 

    Chia sẻ với thân hữu: