CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Tựa sách Thiền Tông Chỉ Nam

 

Tinhhoabiyeu

 

TỰA SÁCH

THIỀN TÔNG CHỈ NAM

Trẫm trộm bảo rằng: Phật tánh đại đồng, không chia ra có phương Nam phương Bắc, ở đâu vẫn chỉ là một Phật tánh mà người ta đều có thể lấy sự tu hành để tìm đến. Tánh người tuy có kẻ khôn người ngu, ai cũng nhờ vào sự giác ngộ mới hiểu biết. Cho nên dẫn dụ đám hôn mê về phương pháp tiện lợi, chỉ rõ đường sống chết, đấy là giáo lý chính của Phật, còn như cầm cân nẩy mực cho đời sau, làm khuôn phép cho tương lai, đây là trách nhiệm trọng yếu của các Tiên Thánh. Cho nên Lục Tổ ([1]) có nói:

Tiên Thánh với đại sư không khác gì nhau”. Đủ thấy giáo lý của Đức Phật còn phải mượn đến sức Tiên Thánh mới truyền bá được ở đời. Nay Trẫm sao lại có thể không lấy trách nhiệm của Tiên Thánh làm trách nhiệm của mình, giáo lý của Phật làm giáo lý của mình được? Và Trẫm từ thuở trẻ thơ có hiểu biết, mỗi khi nghe lời dạy giảng của các Thiền sư, tức thời dập tắt mọi sự nghĩ ngợi, trong lòng hết sức thanh tĩnh. Bấy giờ Trẫm đã có ý ham say Nội Giáo, tìm hiểu Thiền Tông, dốc chí tìm thầy, thành tâm mộ đạo. Song lẽ, ý hướng dầu đã có manh nha mà cái động cơ cảm xúc thì vẫn còn chưa đạt.

Năm mười sáu tuổi, Thái hậu ([2]) chán cõi đời. Trẫm những nằm rơm, gối đất, khóc ra máu mắt, đau như cắt lòng. Trong lúc lo phiền khổ não, không còn bụng nghĩ đến chuyện gì. Chỉ trong vài năm Thái Tổ Hòang đế ([3]) lại cũng tạ thế. Thương mẹ chưa khuây, xót cha càng thấm thía. Bồi hồi ngao ngán khó nguôi nỗi lòng. Trẫm nghĩ tình cha mẹ đối với các con, vỗ về nuôi nấng không thiếu bề gì. Đời con dẫu nát xương tan thịt chưa đủ báo đền được một phần muôn vậy. Huống chi Trẫm xét Thái Tổ Hòang đế mở cơ dựng nghiệp đã rất khó khăn, sửa nước giúp đời lại càng hệ trọng.

Từ khi Ngài đem ngôi báu trao cho ta lúc còn trẻ thơ, ta những sớm khuya canh cánh lo sợ, không một lúc nào rời. Lòng riêng tự nhủ rằng: Ở trên đã không còn cha mẹ để nương nhờ, thì ở dưới cũng e không đáp nổi sự mong mỏi cho dân đen. Biết tính làm sao đây? Rồi cố tìm cố nghĩ:Âu là lui về núi rừng, tìm sang bên Phật giáo để tỏ rõ được điều bí quyết của sống chết và để báo đáp công đức cù lao, như thế cũng chẳng hay lắm sao ! Đây là chí Trẫm đã quyết định.

Triều Thiên Ứng Chính Bình thứ năm, năm Bính Thân (1236) đêm mồng ba tháng tư, Trẫm ăn mặc thường phục, đi ra cửa cung bảo tả hữu rằng: “Ta muốn đi chơi nghe ngầm lời dân, để xem chí dân họa may mới biết được sự khó nhọc của họ”.

Lúc đó theo bên cạnh Trẫm chẳng qua độ bảy tám người. Đêm ấy vào giờ Hợi, một mình một ngựa cất lẻn ra đi. Khi sang sông đi về phía Đông, bấy giờ mới thật tình bảo cho tả hữu biết. Họ rất ngạc nhiên, đều ứa nước mắt khóc lóc. Hôm sau giờ Mão đi đến bến đò Đại Than dưới núi Phả Lại, Trẫm e có kẻ biết phải lấy áo che mặt mà qua sông, rồi theo đường tắt lên núi. Đến tối vào nghỉ trong Chùa Giác Hạnh, đợi đến sáng lại đi. Chật vật trèo lội núi hiểm, suối sâu, ngựa mệt không tiến lên được nữa, Trẫm bèn bỏ ngựa vịn vào vách đá mà đi, đến giờ Mùi tới núi Yên Tử. Sáng hôm sau trèo thẳng lên đỉnh núi và vào ra mắt Quốc Sư Trúc Lâm là vị Đại Sa-môn ở chùa ấy.

Thấy Trẫm, Quốc Sư mừng rỡ, thung dung bảo Trẫm rằng: “Lão Tăng ở lâu rừng núi, xương rắn mặt gầy, ăn rau răm, cắn hạt dẻ, uống nước suối, chơi cảnh rừng, lòng nhẹ như đám mây nổi (Phù Vân là hiệu của Quốc Sư) nên mới theo gió đến đây. Nay nhà Vua bỏ cái thế nhân chủ, nghĩ đến sự quê hèn của rừng núi, chẳng hay muốn đi tìm điều gì mà tới chốn này?”

Trẫm nghe nói, hai hàng nước mắt tự nhiên ứa ra, bèn bảo Quốc Sư: “Trẫm còn thơ ấu, vội mất hai thân, trơ vơ đứng trên sĩ dân không biết nương tựa vào đâu. Nghĩ lại sự nghiệp Đế vương ngày trước hưng - phế thành - bại bất thường. Cho nên Trẫm nay vào núi này chỉ cầu làm Phật, không cầu một vật gì khác”.

Quốc Sư đáp: “Trong núi vốn không có Phật, Phật ở tại trong lòng. Hễ lòng yên lặng mà hiểu biết ấy là Phật thực vậy. Nay nếu nhà Vua giác ngộ được cái tâm ấy, thì sẽ tức thì thành Phật, không phải khổ công tìm ở bên ngoài vô ích”.

Bấy giờ Trần Công ([4])là chú họ của Trẫm, người đã được đức Tiên quân gửi gắm con côi. Ông là em họ Tiên quân. Sau khi đức Tiên quân bỏ thế gian và quần thần, Trẫm tôn làm chức Thái Sư, giúp việc chính sự Nhà nước, nghe tin Trẫm đi khỏi, bèn sai tả hữu chia đi khắp mọi nơi để tìm dấu vết đường của Trẫm. Cả bọn đều tìm đến núi này. Gặp Trẫm, Trần Công thống thiết nói rằng:

- Tôi chịu lời uỷ thác của đức Tiên quân, vâng nhà Vua làm chủ dân thần. Nhân dân trông đợi ở Bệ hạ khác nào con đỏ mong đợi cha mẹ vậy. Huống chi ngày nay những vị Cố Lão trong triều đều là họ hàng thân thích, những sĩ thứ trong nước ai cũng vui vẻ phục theo cho đến đứa trẻ lên bảy cũng biết nhà Vua là cha mẹ dân. Vả lại Thái Tổ vừa mới bỏ tôi mà đi, hòn đất trên nấm chưa khô, lời nói bên tai còn đó, thế mà nhà Vua trốn lánh vào núi rừng, ẩn cư để cầu thoả mãn chí hướng riêng. Tự tôi xem ra: nhà Vua vì mục đích tự tu mà làm như thế thì có thể được, nhưng còn Nhà nước xã tắc thì sao? So ra, để lời khen suông cho đời sau, sao bằng lấy ngay chính thân mình làm người dẫn đường đi đầu cho thiên hạ? Nhà Vua nếu không nghĩ lại, bọn tôi sẽ xin cùng người thiên hạ cùng chết trong ngày hôm nay, nhất định không trở về nữa.

Thấy Thái sư và các cố Lão quần thần đều không có ý bỏ Trẫm, Trẫm bèn đem lời nói của Thái Sư bảo với Quốc Sư. Quốc Sư nắm lấy tay Trẫm mà nói rằng:

- Phàm làm đấng nhân quân phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình và tâm của thiên hạ làm tâm mình. Nay thiên hạ muốn đón Nhà Vua về cung, Nhà Vua không về sao được? Tuy nhiên sự tìm hiểu về Nội Điển, xin mong Bệ Hạ đừng phút nào quên theo đuổi.

Bởi vậy Trẫm với mọi người trong nước lại cùng về Kinh, cố gắng gượng bước lên ngôi báu. Mười mấy năm trời ròng rã, hễ khi nào có cơ hội nhàn rỗi việc nước bên ngoài, Trẫm lại tụ họp các vị kỳ đức để hỏi đạo tham thiền, cùng các kinh sách nhà Phật, không chỗ nào không tham cứu tìm tòi. Trẫm thường ngày hay đọc Kinh Kim Cương. Có lần đọc đến câu: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” (Nên sanh ra cái tâm không bám víu vào một tướng nào), đang lúc đặt quyển sách mà thở dài, thì hoát nhiên tự ngộ, bèn đem sự giác ngộ ấy để làm những bài ca này, đặt tên là “THIỀN TÔNG CHỈ NAM”.

Năm đó Quốc Sư ở núi Yên Tử về Kinh, Trẫm mời vào chùa Thắng Nghiêm để bàn in các kinh và đưa tập này cho coi. Coi rồi Quốc Sư ngậm ngùi và nói:

- Lòng của Chư Phật ở cả trong này, sao không khắc in để dạy kẻ hậu học?

Trẫm nghe lời đó bèn sai thợ viết ra chữ Khải truyền cho đem in. Không phải chỉ để dẫn bảo đường mê cho đời sau mà thôi, ý Trẫm còn muốn nối theo công nghiệp đấng Tiên Thánh mà làm cho rộng thêm nữa.

Nhân thế mới tự làm ra bài tựa này.

_____________________________________________________

[1] Lục Tổ đây là Tổ Huệ Năng.

[2] Mẹ Thái Tông, vợTrần Thừa

[3] Cha Thái Tông, Trần Thừa, danh hiệu của con làm Vua phong cho cha mẹ Thái Hậu và Thái Tổ Hoàng Đế.

[4] Đây là Trần Thủ Độ ép Vua lấy vợ của anh là Trần Liễu đang có mang, nên Vua phẫn uất bỏ đi.

    Chia sẻ với thân hữu: