Đạo Phật Khất Sĩ
CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Vài suy nghĩ về khóa tu "Sống chung tu học"

Trong hai năm (từ 2015) trở lại đây, được sự chứng minh và khuyến khích của chư Tôn đức Tăng, chư Ni Giáo đoàn III đã tổ chức được 4 khóa tu “Sống chúng tu học”. Tuy còn rất mới mẻ, song các hành giả tham gia khóa tu đều ghi nhận lợi ích thiết thực của việc tu học bên nhau, đặc biệt trong các khóa tu học này. Dù vậy, chư Tôn đức Ni vẫn còn nhiều trăn trở - tổ chức một khóa tu như thế nào hiệu quả nhất để tăng trưởng đạo hạnh cho chư Ni trẻ, đồng thời nhắc nhở chư Ni thấm nhuần ý thức tu tập, bồi dưỡng kiến thức Phật học hầu trong tương lai mới làm tốt trọng trách “thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sinh”.

SCTH3 BeMac 30

A. VỀ GIỜ GIẤC TU TẬP VÀ SINH HOẠT

1. Thời khóa tu

Mỗi ngày chỉ có hai thời thiền tọa (4g30 – 5g15, 18g00 – 18g45), một thời thiền hành và hai thời tụng kinh. Thời thiền tọa hoặc thiền hành, trung bình từ 40-50 phút. Giờ tụng kinh sáng chỉ 30 phút và tối khoảng 40-45 phút.

Các hành giả cố gắng chuyên niệm, thành tâm đặc biệt trong những giờ tu này. Mặc dù, đến với khóa tu, mỗi hành giả đều đã phát nguyện giữ chánh niệm, tỉnh thức trong mọi lúc, song vào những giờ thiền tập, tụng kinh, các hành giả cần ý thức mạnh mẽ hơn để tâm trọn vẹn trong đề mục, lời kinh, ý kinh. Như thế, công đức tu tập mới phát sinh và mới có năng lượng an lành để hồi hướng làm lợi lạc cho mọi người cũng như cho chúng sinh.

2. Thời học pháp và trao đổi kinh nghiệm tu học

Với hai thời học pháp (1) 7g30 – 9g00, (2) 13g30 – 15g00, chư hành giả có ba tiếng đồng hồ học pháp, lắng nghe chư Tôn đức giảng giải giáo pháp, tự thân tích góp được ba phần lợi lạc. Thứ nhất là ôn lại hoặc học thêm kiến thức Phật học, làm cho vốn kiến thức Phật học tăng trưởng. Thứ hai học được kinh nghiệm tu tập của chư Tôn đức chân thành truyền đạt lại cho người sau. Hành giả tham gia khóa tu mới có cơ hội được lắng nghe học hỏi những kinh nghiệm tu hành của các bậc Thầy tiền bối. Và thứ ba, giờ học pháp cũng là một giờ tu hết sức hiệu quả, cả thân tâm ý của chúng ta tập trung vào lời giảng và giáo pháp chư Tôn đức chia sẻ, đó chính là hành giả đang thực hành pháp Văn, Tư, Tu vậy.

Từ 15g30 đến 16g20, đại chúng có năm mươi phút trao đổi chuyện tu học cho nhau. Việc học của mình được thăng tiến còn nhờ vào sự nhắc nhở, nâng đỡ, chia sẻ của đại chúng khi được tu học sinh hoạt, sống chung nhau trong bảy ngày. Đó là ý nghĩa và sự cần thiết của việc sống chung tu học mà Đức Tổ sư nhắc nhở rất nhiều lần tiêu chí này cho Tăng Ni Khất sĩ:

“Nên tập sống chung tu học:

Cái Sống là phải sống chung,

Cái Biết là phải học chung,

Cái Linh là phải tu chung”.

4. Thời tụng Luật

Thời tụng Luật chỉ 40 phút từ 16g20 đến 17g00 nhưng giúp cho hành giả ôn lại giới điều, các thiên oai nghi đã học và đang hành trì. Trong quá trình tụng, nếu có những chỗ khó hiểu, hành giả có thể thưa hỏi các vị giáo thọ trong các buổi Chia sẻ giáo pháp để được giải thích tường tận. Nhiều vị Ni được nhân duyên tham học tại các trường Phật học, tuy nhiên có nhiều vị Ni lớn tuổi mới xuất gia chưa được học ở trường lớp nên có nhiều vấn đề trong giới luật chưa được rõ biết hết. Nhân khóa tu như thế này được mở ra, những vị Ni này được học, hiểu, giúp ích rất nhiều cho con đường tu tập của tự thân. Giờ tụng luật đôi khi cũng là giờ tập lắng nghe. Thầy lắng nghe trò, đồng phạm hạnh lắng nghe nhau. Đây cũng là những khoảnh khắc để các bậc Thầy bước xuống gần với hàng hậu học, chư Tăng Ni trẻ có dịp bộc bạch những khó khăn, hoài bão trong quá trình xuất gia tu học của mình để các bậc Thầy đồng cảm, chỉ dạy thêm kinh nghiệm.

5. Cúng ngọ, thọ thực hòa chúng (10g15 – 12g00)

Bắt đầu từ 10h15, các hành giả y bát chỉnh tề vân tập tại chánh điện, kỉnh xá Tam Bảo và tuần tự đi về Trai đường nhận vật thực, độ ngọ. Đây cũng là một thời tu – chánh niệm trong bốn oai nghi. Cất bước đi, mở nắp bát, nhận vật thực, đi về chỗ ngồi đã định sẵn trong Trai đường, ngồi xuống, tụng kinh chú nguyện, mở bát, trộn đều thức ăn, múc cơm, đưa vào miệng, để muổng xuống, bưng bát, rửa miệng, uống nước,… tất cả mọi cử chỉ để có sự nhận biết rõ ràng của tâm sáng rỡ. Đặc biệt, pháp ăn hòa chúng chẳng những mang lại sự chánh niệm trọn vẹn mà còn tạo nên một khung cảnh nhất loạt, uy nghiêm, một nếp sống đại chúng hòa hợp thiêng liêng. Bởi vậy, mỗi hành giả tham dự khóa tu đều phải ý thức điều này, hết sự trân trọng pháp thực tập chánh niệm trong buổi cúng ngọ, thọ thực hòa chúng để rồi tự mình có được tâm thanh tịnh, niềm hỷ lạc, hồi hướng công đức cho đàn na tín chủ và chúng sinh chung.  

6. Thời sám hối (20g00 – 21g30)

Thường thì vào cuối ngày tu tập, đại chúng vân tập để thực hiện pháp sám hối. Đây cũng là một thời tu tập hết sức ý nghĩa và quan trọng, đại chúng không nên xem thường. Bởi trải qua một ngày tu tập nên vào giờ này đại chúng cảm thấy mỏi mệt và muốn được nghỉ ngơi sớm. Tuy nhiên, đây là giờ tu rất cần thiết cho mỗi hành giả tự soi sáng lại chính mình trong tinh thần tinh tấn tự giác. Nếu không tự thiết lập cho mình tinh thần này, sự tu tập của chúng ta không thể nào thăng tiến được. Nếu mình không tự thấy lỗi mình, đồng phạm hạnh sẽ giúp mình thấy được điều mình cần sửa đổi để chính mình tu tập tốt hơn, góp phần làm đại chúng thanh tịnh hiệu quả hơn.  

Có trường hợp, một hành giả phạm lỗi (vừa mới phạm hoặc đã phạm nhiều ngày rồi), lòng cứ khắc khoải hỗ thẹn mãi. Nếu nhân khóa tu này, với tinh thần tu tập tự giác của đại chúng, vị ấy sẽ cảm thấy mạnh mẽ hơn, ý thức hơn và quỳ lên giữa đại chúng cầu xin sám hối và xin lắng nghe lời dạy bảo của chư Tôn đức cùng đại chúng. Như thế, khi được sám hối rồi, tâm vị ấy trở nên thanh thản, hoan hỷ, tự tin trên con đường tu tập của mình sắp tới. Đây chỉ là một điển hình nhỏ cho thấy lợi ích của giờ sám hối đại chúng vào cuối ngày là như vậy.

Một thiện pháp vào cuối giờ sám hối đó là những giây phút tĩnh tâm, rải tâm từ. Một chút tri ân báo ân từ thành quả tu học một ngày, chư hành giả ngồi lại để tâm hết sức thanh tịnh truyền năng lượng từ ái đến tứ ân. Chính ý nghĩa và giá trị của giờ sám hối như đã được nêu, hành giả dù mỏi mệt thế nào cũng ý thức và tinh tấn có mặt cùng hội chúng thực hiện pháp sám hối – rải tâm từ, một pháp tu mà hầu như trước đây trong các khóa tu, các hành giả cảm thấy không mấy quan tâm thực tập.

B. Ý thức tu học

1. Tuyệt đối tịnh khẩu

Để tâm chánh niệm, định tĩnh, nhất định phải giữ cho ba nghiệp thanh tịnh trong đó khẩu nghiệp phải thật yên tĩnh là điều cần yếu trước tiên. Đôi khi chúng ta có thể giữ đúng thời khóa, trong giờ tu, hay giờ học pháp ngồi rất yên, nhưng ra khỏi thời khóa, trong những lúc giải lao… chúng ta không kềm chế nỗi khẩu - cửa ngõ truyền thông của mình. Thân, khẩu, ý nối kết với nhau mật thiết trong một quỹ đạo tròn bất tuyệt. Hãy cố gắng bắt đầu tu một phần và ở đây chúng ta chọn tu tịnh khẩu để tâm có thể yên tĩnh nhanh nhất.

Đức Tổ sư bảo: “Làm, nói sanh ra tưởng loạn. Không làm, không nói thì tưởng định. Thân khẩu sanh ra ý, và khi không còn thân khẩu là không còn ý. Cái ý của thân khẩu bên ngoài là ý loạn. Và cái ý của thân khẩu bên trong, hay là không còn thân khẩu thì ý định.

Thực ra, tự tánh chúng sinh tự nhiên vắng lặng. Tổ dùng từ “linh” chỉ cho trạng thái này. Từ sự tu cái khẩu bên ngoài để hỗ trợ lại cho cái linh yên lành, trong suốt bên trong. Như thế việc tu của chúng ta mới có hiệu quả. Chúng ta không nín nghỉ nói trong 70 ngày, hay 7 tháng, 7 năm…được thì ở đây chỉ có 7 ngày, chúng ta hãy tự giác thực hiện cho nghiêm túc vì lợi ích của tịnh khẩu rất lớn. Thói quen của cộng đồng người là truyền thông bằng lời nói, và người đang tập tu giáo pháp của Như Lai cũng không hoàn toàn kiểm thúc thói quen này. Nói và cứ nói, chúng ta mãi nói suốt ngày, ngày này qua ngày khác và khi vào khóa tu, khi nghe thanh quy “không được nói”, chúng ta ngại ngùng, hoặc xem thường quy tắc tu tập quan trọng này.

2. Đúng giờ

Một số hành giả do mệt mỏi hay do tâm còn quan niệm dễ duôi từ bao lâu nay nên xem thường giờ giấc tu học. Tuy giờ tu hoặc học pháp đã bắt đầu nhưng những vị ấy vẫn chưa xuất hiện hoặc lề mề không ổn định vào vị trí của mình. Trong khóa tu “Sống chung tu học”, nhất định các hành giả phải tuân thủ giờ giấc quy định. Tập chánh niệm, biết rõ giờ nào việc đó, tinh tấn lên trước giờ tu quy định ít nhất là 5 phút. Điều này tạo thói quen tích cực cho mỗi hành giả và tạo không khí tu học tinh cần, trang nghiêm, hoan hỷ cho đại chúng.

3. Chánh niệm

Để tuân thủ tốt giờ giấc tu học và để việc tu trong bảy ngày có một kết quả thật sự, mỗi hành giả tự phải biết nhắc mình luôn giữ tâm chánh niệm. Đời sống người xuất gia là đời sống chánh niệm và trong những ngày tu chung đặc biệt này, sự chánh niệm là pháp tu căn bản của mỗi hành giả. Nếu không giữ tâm chánh niệm, hành giả chỉ là tham dự khóa tu một cách lấy lệ, qua loa cho hết một ngày, tinh thần uể oải, ngọn lửa tu tập thuở sơ tâm nguội lạnh dần. Nhờ có chánh niệm trong mọi lúc, tâm hành giả yên lắng, tịch tịnh dần nên học pháp dễ nhớ, dễ hiểu, thẩm thấu ý pháp mà Phật, Tổ tha thiết dạy nhắc cho hàng hậu học. Nhờ có chánh niệm hiệu quả tu học dâng cao, niềm hoan hỷ, tịnh tín giáo pháp nơi mỗi hành giả bền chắc hơn.  

4. Buông xả

Những phàm phu hữu học như chúng ta khi sống chung tu học không khỏi có những va chạm bất như ý. Tuy vậy, nếu mỗi người đều ý thức rằng tất cả mọi người đến đây để được sống chung tu học, để được năng lượng tinh tấn của đại chúng lan tỏa trong nhau khiến nhiệt huyết tu hành bùng lên thì tự mỗi người phải làm “cái tôi” của mình nhỏ bé lại. Bớt chấp nhất, bớt ích kỷ, bớt tham lam, bớt sân giận, bớt nhớ dĩ vãng, bớt tánh chỉ trích người... “Buông xả” là pháp hết sức cần thiết khi sống chung vậy. Hễ còn chấp giữ, cái tôi còn ngất ngưỡng, tâm kiêu ngạo chắc nịch, vậy là mình đã làm cho hội chúng nặng nề thêm, nội kết trong hội chúng rối bời khó bề tháo gỡ nỗi. Đó cũng chính là một tội nghiêm trọng mà chư Phật, Tổ hằng quở rầy – tội phá hòa hiệp Tăng rồi. Chính vì vậy, đến tham gia khóa tu, hành giả hãy tự mình tập tâm buông xả dần dần.

5. Bi mẫn

Nhờ tâm buông xả, các hành giả sống hòa ái, tương thân tương trợ lẫn nhau. Khi biết đồng phạm hạnh của mình bệnh đau hoặc gặp chướng duyên làm trở ngại việc tu học…, chúng ta tùy duyên, tùy khả năng giúp đỡ. Có lòng bi mẫn, đồng cảm với nỗi khổ của nhau để dắt dìu nâng đỡ nhau cùng đi trên con đường đạo là điều mỗi hành giả cần quan tâm và tập gieo hạt giống hiền thiện, biết thương yêu tha nhân trong tâm mình. Chính tâm bi mẫn khiến chúng ta biết hy sinh lợi ích của mình để làm những việc thiện tạo phước đức cho chính mình. Đức Thế Tôn là bậc Thầy của ba giới bốn loài vẫn không từ những việc thiện nhỏ nào mà không làm. Nhất là đối với người bệnh yếu, Ngài tự tay chăm sóc và khuyên dạy cho các đệ tử rằng nuôi giúp người bệnh là tạo phước vô lượng. Kẻ phàm phu hậu học như chúng ta sao không noi theo tấm gương và lời dạy của Ngài?!  

6. Hòa hợp

Hòa hợp là đặc tánh thiêng liêng của Tăng đoàn. Nếu trong cộng đồng Tăng không có sự hòa hợp thì không thể thiết lập khối đại Tăng hay được gọi là Tăng đoàn. Với tâm yêu thương, buông xả, hành giả dễ dàng sống hòa chúng nhịp nhàng. Nếu không cảm thông, sẽ không có yêu thương. Tuy nhiên điều đầu tiên chúng ta cần có tâm từ bi. Đối với người thật sự thực tập giáo pháp, tâm từ bi tự nhiên khởi sinh. Họ dễ dàng thông cảm tha thứ trước những sơ suất, lỗi nhỏ của các đồng phạm hạnh, hay bất cứ ai khác. Thế nên, chúng ta hãy nhận thức đúng và tinh tấn hành trì. Sự tu tập không phải nói là tu được thuận lợi mà chúng ta phải trau dồi, phải tập, và môi trường tốt để thực tập giáo pháp đó là sống trong cộng đồng thiện hữu tri thức.

C. LỜI KẾT

- Nếu mỗi hành giả đều có ý thức tốt và tinh cần tu tập, khóa tu dù chỉ bảy ngày cũng mang lại kết quả khả quan và năng lượng tích cực, vô cùng hữu hiệu cho mỗi tự thân.

- Vì mục đích làm sơ tâm xuất gia cũng như ý niệm giác ngộ viễn ly của chư Ni dõng mãnh hơn, kiên trì hơn, mô hình khóa tu “Sống chung tu học” nên được nhân rộng trong hội chúng Ni.

- Ý thức được lợi ích của khóa tu mang lại, mỗi hành giả phải tự thân nỗ lực thật sự, tuân thủ thời khóa nghiêm túc và nhất là giữ yên lặng tuyệt đối cho thân khẩu và ý.

Bởi vì chúng ta không thật sự nỗ lực tu nên không thấy có biến đổi hiệu quả của con đường tu tập. Nếu sự giác ngộ xuất gia của chúng ta đúng như Tổ Quy Sơn bảo là “hảo tâm xuất gia”, thấy thân giáo của các bậc Thầy, thấy tấm gương của những nhà tu hành đàng hoàng, trang nghiêm, nghe hiểu được lời pháp lành và quyết tâm thúc thủ tu sửa cho chính mình, chắc chắn những vị ấy thu nhận được kết quả tích cực khôn lường. Nhờ an trú trong niềm vui Chánh pháp, nuôi sống bằng thiền duyệt thực, tự thân mỗi hành giả sẽ trực tiếp cảm nhận được hiệu ứng giáo pháp đối với tự thân.

- Nhớ năm xưa Tổ sư khai lập Giáo hội Tăng-già Khất sĩ, dưới sự hướng dẫn của Tổ sư, chư Tăng sống chung tu học và hành đạo trong tinh thần hòa hợp, an lạc lợi ích khôn cùng. Trải qua khoảng thời gian vì thời duyên làm gián đoạn, nay đã đến lúc hàng hậu học con trò Khất sĩ vân tập về cùng “sống chung tu học” để sớm tìm đến đích giải thoát mà chúng ta đã khéo chọn lựa con đường cho mình.

    Chia sẻ với thân hữu: