Chiều ngày 11/08/2026 (29/06/Bính Ngọ), ĐĐ. Minh Sơn – Ủy viên VNCPHVN, Giảng viên HVPGVN tại TP.HCM, Phó Văn phòng Hệ phái PGKS, Chánh Thư ký Ban Quản trị Pháp viện, đã có những chia sẻ về bảy nguyên tắc giúp đời sống phạm hạnh không bị suy giảm, khép lại chuỗi pháp thoại của Đại đức trong mùa ACKH PL.2570, tại Hạ trường Pháp viện Minh Đăng Quang (phường Bình Trưng, TP.HCM).
.jpg)
Từ bài kinh Công việc (Kamma Sutta), thuộc Chương Bảy pháp, ĐĐ. Minh Sơn đặt người tu trước một câu hỏi tưởng như đơn giản, nhưng có sức cảnh tỉnh sâu xa: “Đâu là công việc đích thực của người xuất gia?”. Rõ ràng, người tu không thể đồng nhất “công việc” với những hoạt động đang diễn ra bên ngoài, có những việc nhìn qua rất lớn lao nhưng nếu khiến tâm nhiễm danh, nhiễm lợi, hơn thua, tự mãn thì lại trở thành chướng ngại. Ngược lại, có những khoảng lặng rất nhỏ, như một thời thiền, một lần giữ im lặng, một sát-na nhận diện được tham - sân - si, đó lại có thể là bước tiến quan trọng trên con đường giải thoát.
Theo Đại đức, tinh thần ấy cũng tương ứng với lời cảnh tỉnh của Đức Tổ sư Minh Đăng Quang trong kệ “Ý”: “Tịnh tâm, bớt nói, ngưng làm / Lần lần nhập Thánh siêu phàm từ đây”. “Đây không phải là lời kêu gọi người xuất gia phủ nhận phụng sự hay xa lìa mọi Phật sự, mà là lời nhắc phải biết làm mà không bị việc làm chi phối, biết phụng sự mà không đánh mất tâm đạo. Bởi một khi tâm đạo không còn, ngay cả những việc mang danh nghĩa Phật sự cũng có thể trở thành ‘ma sự’ nếu bị dẫn dắt bởi bản ngã, danh vọng và lòng ham muốn được công nhận”, ĐĐ. Minh Sơn chỉ rõ.
Từ đó, bảy pháp không làm suy giảm đời sống Phạm hạnh được Đại đức trình bày như bảy tấm gương để người tu tự soi mình, để giữ mình không đi lệch hướng.
THỨ NHẤT, không đam mê thế sự – Kammārāmatā. Người xuất gia cần cảnh giác trước sự cuốn hút của những công việc thế tục như sản xuất, kinh doanh, buôn bán và những lo toan mang tính thế nghiệp. Không phải mọi hoạt động xã hội đều bị phủ nhận, nhưng nếu người tu dành phần lớn tâm lực cho những việc ấy đến mức ăn không yên, ngồi thiền không tĩnh, tâm không còn thời gian quay về soi chiếu chính mình, thì đạo nghiệp đã âm thầm bị đẩy xuống hàng thứ yếu.
.jpg)
Ngay cả việc xây dựng chùa to, Phật lớn, làm nhiều Phật sự, theo ĐĐ. Minh Sơn, nếu bị danh lợi dẫn dắt, để nợ nần, hơn thua và tiếng khen chê trói buộc, cũng có thể trở thành một hình thức khác của thế sự. Do đó, điều người xuất gia cần lưu tâm là làm mà không để mất mình, hay nói cách khác là phụng sự mà không để thế sự thấm ngược vào tâm đạo.
THỨ HAI, không đam mê phiếm luận – Bhassārāmatā. ĐĐ. Minh Sơn nhận định, trong thời đại thông tin liên tục chuyển động, lời nói có thể trở thành một thứ tiêu hao năng lượng tinh thần rất lớn. Những câu chuyện thị phi, tranh luận đúng - sai, bàn tán danh lợi, hay phán xét người khác… tưởng chừng chỉ là lời nói, nhưng lại có khả năng nuôi lớn tâm phân biệt và kéo người tu ra khỏi đời sống tỉnh giác.
Theo tinh thần Phật dạy, người xuất gia cần biết trở về với hai công việc thiết yếu, đó là giữ sự im lặng của bậc Thánh (tức thiền định) và đàm luận chánh pháp. “Đặc biệt, trước những câu chuyện ‘tu lạ’, những thông tin thiếu kiểm chứng, hay những dòng tranh luận trên mạng xã hội, người tu càng cần thận trọng. Biết nhiều chưa chắc là trí tuệ, phản ứng nhanh chưa chắc là tỉnh thức. Có khi biết dừng lời đúng lúc mới là một biểu hiện của định lực”, ĐĐ. Minh Sơn khẳng định.
.jpg)
THỨ BA, không đam mê ngủ nghỉ – Niddārāmatā. Ngủ là nhu cầu tự nhiên của thân thể, nhưng ngủ để phục hồi khác hoàn toàn với ngủ để nuông chiều sự giải đãi. Theo đó, Đại đức nhấn mạnh tinh thần “ngủ để thức”, tức nghỉ ngơi để thân thể có đủ năng lượng tiếp tục hành trì, chứ không phải biến sự nghỉ ngơi thành nơi trú ẩn của tâm lười biếng. “Người xuất gia phải biết quan sát chính mình, xem thân có đang thật sự mệt, hay tâm có đang tìm lý do để buông xuôi? Khoảng cách giữa nghỉ ngơi cần thiết và giải đãi đôi khi rất mong manh, do vậy, chỉ có chánh niệm mới giúp người tu nhận diện được ranh giới ấy”, Đại đức chỉ rõ.
THỨ TƯ, không đam mê quần tụ – Saṅgaṇikārāmatā. Theo ĐĐ. Minh Sơn, sống trong Tăng đoàn không đồng nghĩa với việc tìm kiếm sự náo nhiệt. Hòa hợp cộng trú là một giá trị của đời sống xuất gia, nhưng quần tụ để vui chơi, nói chuyện vô ích, hay tìm kiếm sự chú ý lại là một chuyện khác. Qua đó, Đại đức nhấn mạnh ý nghĩa của sự độc cư nội tâm. Trong đó, độc cư không có nghĩa là chạy trốn con người, hay phủ nhận cộng đồng, mà là không để tâm luôn phải tìm kiếm một đối tượng bên ngoài để lấp đầy khoảng trống bên trong. Khi tâm đủ đầy bằng chánh pháp, người tu có thể sống giữa đại chúng mà vẫn giữ được sự tĩnh lặng, có thể phụng sự giữa cuộc đời mà không đánh mất khoảng trời thanh tịnh của chính mình.
THỨ NĂM, không để ác dục vọng chi phối – Pāpicchatā. Đây là điểm Đại đức đặc biệt lưu ý, bởi ác dục vọng thường không xuất hiện với diện mạo dễ nhận biết, nó hoàn toàn có khả năng khoác lên mình chiếc áo “Phật sự”, “phụng sự”, “trách nhiệm”, hay “vì tập thể”. “Khi làm một việc mà trong lòng vẫn mong người khác phải nghe theo mình, khi ý kiến không được chấp thuận thì sinh tức giận, khi không được khen thì cảm thấy tổn thương, khi thấy người khác thành công thì khởi tâm ganh tị… tất cả những điều đó cho thấy người tu cần quay lại soi chính mình, để thấy rõ, nhận biết rõ, liễu tri cái tâm đứng phía sau Phật sự”, ĐĐ. Minh Sơn giảng giải.
.jpg)
THỨ SÁU, không thân cận và cộng hành với ác dục – Pāpamittatā. Tâm thức chịu ảnh hưởng sâu sắc từ môi trường và những người mình thường xuyên tiếp xúc. Vì thế, muốn bảo hộ thiện pháp, theo ĐĐ. Minh Sơn, người tu cần biết lựa chọn bạn lành, môi trường lành và những mối quan hệ có khả năng nâng đỡ đạo tâm. “Nếu không tìm được người đồng hành trên cùng lý tưởng, thà có những khoảng thời gian sống một mình với chí nguyện ban đầu, còn hơn để mình dần bị cuốn theo những tập khí bất thiện. Cần hiểu rõ, đó không phải là thái độ xa lánh con người, mà là biết bảo vệ mảnh đất tâm khi hạt giống giác ngộ còn đang được vun bồi”, Đại đức nhắc nhở.
THỨ BẢY, không dừng lại nửa chừng – Anantara-antarāvosāna. Đây là điểm kết tinh của cả bảy pháp. Người tu có thể vượt qua thế sự, bớt phiếm luận, làm chủ ngủ nghỉ, không đam mê quần tụ, nhận diện ác dục và tránh xa bạn xấu, nhưng nếu sau đó tự bằng lòng với những gì đã đạt được thì con đường vẫn có thể dừng lại. Bằng cấp, học vị, chức vị trụ trì, sự kính trọng của tín đồ, hay một trạng thái an tịnh nhất thời… tất cả những gì được tích lũy thuộc về thế gian, đều không thể là đích đến cuối cùng trong sự nghiệp của người xuất gia. Mặt khác, sự nghiệp củ người xuất gia chính là không ngừng làm nhẹ đi tham - sân - si và tiến về các quả vị giải thoát.
Bởi vậy, ĐĐ. Minh Sơn nhấn mạnh: “Tinh thần không dừng lại nửa chừng chính là lời nhắc mạnh mẽ nhất, đã phát tâm xuất gia thì chí nguyện ấy phải được gìn giữ cho đến cùng, không để những thành tựu giữa đường trở thành lý do khiến mình quên mất điểm đến”.
Từ bảy nguyên tắc trên, ĐĐ. Minh Sơn kết nối thành một tiến trình tu tập có tính logic: bớt thế sự để có thời gian quay về nội tâm; bớt phiếm luận để tâm không tán loạn; bớt ngủ nghỉ để tăng trưởng tinh tấn; bớt quần tụ để có không gian quán chiếu; từ đó nhận diện ác dục, lựa chọn thiện hữu và tiếp tục tiến bước không dừng nghỉ.
.jpg)
Nói cách khác, càng buông được những duyên không cần thiết, hành giả càng có điều kiện trở về với công việc căn bản nhất, đó là làm việc với chính tâm mình. Đây cũng là điểm gặp gỡ giữa tinh thần kinh điển và đường hướng tu tập của Hệ phái PGKS: sống đơn giản, thanh bần nhưng không thụ động, phụng sự nhưng không nhiễm thế, làm nhiều việc nhưng không để công việc làm mất phương hướng, sống giữa đại chúng nhưng vẫn có khả năng trở về với chính mình.
Nhắc lại hình ảnh khúc gỗ trôi giữa dòng sông mà Trưởng lão HT. Giác Giới đã giảng trạch ở các buổi trước, ĐĐ. Minh Sơn khẳng định: “Muốn trôi ra biển lớn, khúc gỗ không được mắc vào hai bờ, cũng không được mục ruỗng từ bên trong. Người tu cũng vậy, chúng ta phải công phu hành trì để không vướng căn - trần ở bên ngoài, cũng không để phiền não làm mục ruỗng đạo tâm ở bên trong”.
Khép lại thời pháp, ĐĐ. Minh Sơn một lần nữa khuyến tấn chư hành giả: “Sống trong giáo pháp Đức Phật, không có điều gì quan trọng hơn việc giữ gìn tâm đạo và lý tưởng xuất gia ban đầu. Mọi hình tướng công đức bên ngoài đều là phương tiện, chỉ có sự chuyển hóa phiền não và sự lớn mạnh của Giới - Định - Tuệ mới là sự nghiệp chân chính của người tu sĩ”.