Trước những biến chuyển của thời đại, khi luồng thông tin ngày càng đa chiều và việc tiếp cận kinh điển giữa các truyền thống trở nên rộng mở hơn bao giờ hết, người xuất gia ngoài việc cần có kiến thức để hiểu rõ đúng sai, còn cần trí tuệ để vượt lên mọi khuynh hướng cực đoan, giữ gìn tinh thần hòa hợp và Trung đạo. Bởi lẽ suy cho cùng, đối với người xuất gia, học là để hiểu, hiểu để biết tôn trọng, tôn trọng để hướng đến sự hòa hợp và cùng nhau phụng sự chánh pháp.
Theo đó, “Thái độ của người tu trước sự khác biệt giữa hai truyền thống Phật giáo”, cũng chính là sự trăn trở của TT. Giác Hoàng – Ủy viên HĐTS, Phó Viện trưởng VNCPHVN, Phó Trưởng ban Văn hóa TƯGH, Chánh Thư ký Ban Thường trực GPHP, Phó trưởng Ban Thường trực Ban Giáo dục Tăng Ni GĐ.III PGKS, được nêu ra trong khuôn khổ khóa ACKH PL.2570 tại Trường hạ Pháp viện Minh Đăng Quang (phường Bình Trưng, TP.HCM), chiều 05/08/2026 (23/06/Bính Ngọ).
Sở dĩ Thượng tọa chọn đề tài này xuất phát từ thực trạng đáng suy ngẫm trong sinh hoạt Phật giáo hiện nay, khi một số nơi, sự khác biệt trong nhận thức giữa các truyền thống đã vô tình trở thành nguyên nhân dẫn đến những thái độ cực đoan, những tranh luận thiếu tinh thần xây dựng, thậm chí tạo nên khoảng cách ngay trong nội bộ Tăng đoàn. Điều đáng tiếc hơn, hiện tượng ấy đôi khi cũng xuất hiện ngay trong chính nội bộ Hệ phái PGKS. Theo Thượng tọa, muốn hóa giải những bất đồng ấy, trước hết phải nhận diện đúng bản chất của sự khác biệt.
Dẫn lại lịch sử hơn 2.500 năm phát triển của Phật giáo, Thượng tọa khẳng định rằng, sự đa dạng về truyền thống là một quy luật tất yếu của lịch sử, chứ không phải biểu hiện của sự chia rẽ. Ngay từ thời Đức Thế Tôn còn tại thế, chư vị đại đệ tử như Tôn giả Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, Đại Ca-diếp, A-nan, Ưu-ba-ly, hay Ly-bà-đa v.v… đều có sở trường và công hạnh khác nhau. Điều này được ghi nhận rõ trong Kinh Đại Rừng Sừng Bò (Mahāgosiṅga Sutta). Tuy mỗi vị là một biểu hiện riêng của đạo hạnh, song tất cả đều hướng đến một mục tiêu tối hậu của đạo pháp, đó là đoạn tận phiền não và chứng đạt Niết-bàn.
Thượng tọa chỉ rõ, khoảng 100 năm sau khi Đức Phật nhập Niết-bàn, cuộc kết tập kinh điển lần thứ hai đã đánh dấu sự phân chia đầu tiên thành hai bộ phái chính: Đại chúng bộ (Mahāsaṅghika) và Thượng tọa bộ (Theravāda). Từ thế kỷ I TCN đến thế kỷ I SCN, quá trình này tiếp tục phát triển, hình thành nên 20 bộ phái (và mở rộng thành 25 đến 27 bộ phái nhỏ hơn). Trong giai đoạn này, khái niệm Abhidhamma (Luận tạng / Tối pháp) dần hình thành, tạo nên hệ thống phân loại và phân tích giáo lý một cách chi tiết, tỉ mỉ. Song song đó, phong trào Phật giáo Đại thừa hưng khởi, tiêu biểu với sự xuất hiện của Đại sĩ Long Thọ (Nāgārjuna) vào cuối thế kỷ II SCN, trải qua các giai đoạn Sơ kỳ, Trung kỳ và Hậu kỳ. Đến khoảng thế kỷ VII (thời kỳ Hậu kỳ Đại thừa), Kim Cang thừa (Mật tông) ra đời và được truyền sang Tây Tạng vào thế kỷ VIII bởi chư Tổ sư như ngài Liên Hoa Sanh (Padmasambhava) và ngài Tịch Thiên (Śāntideva).
Như vậy, trên diện cục quốc tế, Phật giáo hình thành hai dòng chảy chính là Nam truyền (Theravāda) và Bắc truyền (Mahāyāna), cùng nhánh Kim Cang thừa. Nhìn trên toàn cảnh lịch sử có thể thấy, rõ ràng sự phong phú ấy phản ánh sức sống của chánh pháp trong từng không gian văn hóa khác nhau, chứ hoàn toàn không phải là sự đối lập về chân lý.
Trở về bối cảnh Việt Nam – nơi hội tụ đặc biệt của hai dòng truyền thừa Nam truyền và Bắc truyền, TT. Giác Hoàng cho biết, Phật giáo Bắc tông (Đại thừa) có lịch sử du nhập hơn 2.000 năm, đồng hành gắn bó khăng khít cùng lịch sử dựng nước, giữ nước và phát triển qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần... hình thành nên bản sắc Phật giáo dân tộc sâu sắc. Trong khi đó, Phật giáo Nam tông bao gồm Phật giáo Nam tông Khmer gắn liền với lịch sử sinh tụ lâu đời của đồng bào Khmer vùng đất Nam Bộ và Phật giáo Nam tông Kinh phát triển mạnh mẽ từ khoảng năm 1938 với mốc lịch sử thành lập chùa Bửu Long do Hòa thượng Hộ Tông truyền thừa từ Campuchia về. Đặc biệt, giai đoạn năm 1946–1954 đánh dấu cột mốc lịch sử quan trọng khi Đức Tổ sư Minh Đăng Quang khai sáng Đạo Phật Khất sĩ Việt Nam với chí nguyện “Nối truyền Thích-ca Chánh pháp”.
“Cần nhấn mạnh rằng, Hệ phái PGKS không ra đời để tạo thêm một tông phái mới, càng không nhằm đứng giữa để phân định hơn thua giữa Nam truyền và Bắc truyền, mà giá trị đặc sắc của Hệ phái nằm ở tinh thần dung hội, lấy Tứ y pháp làm gốc, duy trì nếp sống trì bình khất thực của Phật giáo Nguyên thủy, đồng thời phát huy tinh thần từ bi, Bồ-tát hạnh của Phật giáo Đại thừa, trở thành chiếc cầu nối hài hòa giữa hai dòng truyền thống lớn của Phật giáo”, TT. Giác Hoàng khẳng định.
Qua đó, Thượng tọa lần lượt tháo gỡ nhiều ngộ nhận căn bản vốn tồn tại lâu nay. Đối với Phật giáo Theravāda, nhiều người cho rằng chỉ chú trọng tự giải thoát mà xem nhẹ việc độ sinh. Thượng tọa khẳng định, đây là cách hiểu phiến diện, bởi muốn cứu người đuối nước thì trước hết phải biết bơi, cũng vậy, hành giả phải hoàn thành việc tự độ mới đủ năng lực độ tha một cách vững chắc. Ở chiều ngược lại, cũng có quan điểm cho rằng, Đại thừa không coi trọng giới luật và thiền định. Bằng việc trích dẫn Kinh Đại Bát Niết-bàn, Thượng tọa chứng minh tinh thần trì giới của Đại thừa vô cùng nghiêm mật, với quan điểm “thà chết chứ không phá giới”. Như vậy, thực tế cho thấy, dù diễn đạt khác nhau, nhưng rõ ràng, cả hai truyền thống đều đặt Giới - Định - Tuệ làm nền tảng bất biến của con đường giải thoát.
Ngoài ra, vấn đề nghiên cứu kinh điển trong thời đại số cũng được Thượng tọa đặc biệt lưu tâm. Thượng tọa đánh giá Internet và sự phát triển của các ngôn ngữ Pāli, Sanskrit, Hán văn, Anh văn… đã mở ra cơ hội quý báu để Tăng Ni đối chiếu kinh điển giữa các truyền thống, từ đó có cái nhìn khách quan và toàn diện hơn. Tuy nhiên, điều đáng lưu ý là, đối với người xuất gia, tri thức chỉ thật sự có giá trị khi đi đôi với công phu tu tập. “Nếu chỉ giỏi ngoại ngữ, giỏi nghiên cứu mà thiếu thực hành thì cái học ấy rất dễ trở thành chướng ngại. Kiến thức phải giúp giảm phiền não, chứ không làm tăng thêm ngã mạn”, TT. Giác Hoàng nhận định.
Từ những phân tích lịch sử và học thuật ấy, Thượng tọa nêu rõ, điều nguy hiểm nhất không phải là khác biệt truyền thống, mà là thái độ chấp thủ vào sự khác biệt ấy. Khi người học Phật lấy kiến thức để hơn thua, dùng "binh khí miệng lưỡi" để công kích nhau, lấy truyền thống này phủ nhận truyền thống kia, thì càng học càng xa chánh pháp, càng nghiên cứu càng nuôi lớn phiền não.
Khép lại thời pháp, TT. Giác Hoàng khuyến tấn chư hành giả: “Tinh thần mà Đức Tổ sư Minh Đăng Quang để lại cho Hệ phái PGKS chính là tinh thần Trung đạo và dung hội. Trung đạo không chỉ là con đường vượt khỏi hai cực đoan của khổ hạnh và dục lạc, mà còn là vượt khỏi mọi cực đoan trong nhận thức giữa Tiểu thừa và Đại thừa, giữa tự lợi và lợi tha, giữa học và hành. Vì vậy, người Khất sĩ hôm nay cần học rộng để hiểu sâu, nhưng càng hiểu càng phải khiêm cung, càng nghiên cứu càng phải biết tôn trọng những giá trị của các truyền thống khác, lấy sự đoạn trừ phiền não làm thước đo của sự tu học, chứ không nên lấy kiến thức, hay lập trường cá nhân để đánh giá người khác”.
Cuối lời, Thượng tọa nhấn mạnh: “Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, việc nghiên cứu đối chiếu kinh điển là xu hướng tất yếu. Song, mục tiêu tối hậu của mọi sự học vẫn là chuyển hóa nội tâm. Nếu sau quá trình học tập, tâm trở nên bao dung hơn, khiêm hạ hơn, hòa hợp hơn thì đó mới là thành quả chân thật của chánh pháp. Ngược lại, nếu càng học càng thấy mình đúng, càng nghiên cứu càng thích phê phán người khác, thì đó chỉ là ‘ô nhiễm của sự tinh tấn’, hoàn toàn đi ngược lại tinh thần giải thoát mà Đức Phật và Đức Tổ sư Minh Đăng Quang đã chỉ dạy”.
Một số hình ảnh được ghi nhận: