Trường hạ Pháp viện Minh Đăng Quang PL.2570: Tư tưởng Kinh Duy-ma-cật qua lời giảng của Thượng tọa Minh Lực

Chiều 07/08/2026 (25/06/Bính Ngọ), TT. Minh Lực – Phó Ban Trị sự GHPGVN TP.HCM, Giáo phẩm Hệ phái PGKS, trụ trì Tịnh xá Ngọc An (TP.Dĩ An, TP.HCM), đã có thời pháp cuối thuộc chương trình học tập khóa ACKH PL.2570 tại Trường hạ Pháp viện Minh Đăng Quang (phường Bình Trưng, TP.HCM), với chủ đề "Tư tưởng Kinh Duy-ma-cật". Thời pháp thoại đã khép lại chuỗi bài giảng tổng quan về sự phát triển tư tưởng Phật giáo qua các thời kỳ kết tập kinh điển, để lại nhiều chuyển biến sâu sắc trong nhận thức tu học của hành giả An cư.

 

Khép lại chuỗi chuyên đề về tiến trình hình thành và phát triển tư tưởng Phật giáo qua các thời kỳ kết tập kinh điển, TT. Minh Lực đã khái quát lại toàn bộ lộ trình học tập của hành giả trong mùa An cư. Từ Thánh điển Nikāya của Phật giáo Nguyên thủy, trải qua thời kỳ Phật giáo Bộ phái với hệ thống A-hàm (Āgama), Nhất thiết hữu bộ, đại chúng từng bước tiếp cận tiến trình phát triển của tư tưởng Đại thừa. Theo Thượng tọa, chỉ khi nắm vững sự kế thừa ấy, người học mới có thể hiểu đúng tinh thần của Kinh Duy-ma-cật cũng như giá trị của Phật giáo Phát triển.

Thượng tọa nhấn mạnh rằng, để thấu hiểu bản chất của hệ thống Phật giáo Phát triển, người tu học cần nắm vững hai tiêu chuẩn cốt lõi: "Chân không""Diệu hữu". Bản thể vốn vắng lặng, tuyệt đối (Chân không), nhưng không phải là sự hư vô hay xơ cứng. Khi lục căn tiếp xúc với lục trần sẽ phát sinh cái thức biết. Nơi sáu giác quan tiếp xúc với cảnh trần, các trạng thái thọ ẩn chứa ba loại cảm giác: khổ thọ, lạc thọ và bất khổ bất lạc thọ.

Người thực hành giáo lý Phật đà cần giữ vững chánh niệm tỉnh giác, nhận biết rõ sự phát sinh và diệt đi của các trạng thái cảm thọ. Khi tâm thức trở về với thể tánh vắng lặng thanh tịnh, các cảm xúc sinh diệt ấy tự chấm dứt. Thượng tọa lưu ý đại chúng tránh rơi vào hai cực đoan: hoặc chấp chặt vào cái "Không" sinh diệt xơ cứng, hoặc chấp chặt vào cái "Có" dính mắc trong vòng sinh diệt. Việc tu tập của hành giả Khất sĩ là phải vượt lên trên sự chấp thủ hai bên để đạt tới sự tự tại chân thật.

 

Đi vào nội dung trọng tâm của phẩm thứ nhất trong Kinh Duy-ma-cật (Phẩm Phật quốc), Thượng tọa đã phân tích bối cảnh Đức Thế Tôn trụ tại khu rừng xoài thuộc thành Vesālī (Tỳ-xá-ly) cùng đại chúng Tỳ-kheo, chư Bồ-tát, Phạm thiên, Đế thích và Thiên long bát bộ. Trong hội chúng, Trưởng giả Bảo Tích đại diện cho đại chúng, sau khi tán thán công đức và tướng hảo của Đức Phật, đã dâng lời thưa hỏi về phương cách xây dựng cõi nước Phật thanh tịnh.

Thượng tọa giải thích, danh hiệu Bồ-tát Bảo Tích mang ý nghĩa biểu hộ cho những hành giả có tâm nguyện "gìn giữ và phát huy" (bảo) những giá trị thành quả, bảo vật trí tuệ (tích) mà Đức Phật đã khai mở. Câu hỏi của Bồ-tát Bảo Tích xuất phát từ thực tế tư tưởng của tăng đoàn thời bấy giờ: nhiều vị Tỳ-kheo có xu hướng xả bỏ trần duyên, tìm kiếm những nơi thanh vắng, tịch mịch để ẩn cư tu tập thiền định.

"Này Bảo Tích! Bồ-tát muốn có được cõi Phật thanh tịnh thì phải dựa trên công hạnh làm lợi lạc chúng sanh. Ví như người muốn xây cất lâu đài thì phải xây trên nền móng bằng đất bằng. Nếu không có đất, quyết không thể nào xây cất lâu đài." (Lời Đức Phật dạy trong Kinh Duy-ma-cật).

 

Từ hình ảnh ẩn dụ này, Thượng tọa nhấn mạnh: "Đối tượng thực hành công hạnh của Bồ-tát chính là chúng sanh. Chúng sanh chính là nền đất. Nếu rời bỏ chúng sanh để đi tìm cõi Phật thanh tịnh thì chẳng khác nào muốn xây lâu đài giữa hư không. Bồ-tát xây dựng cõi nước Phật bằng chính các pháp môn tu tập: Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Trí tuệ (Sáu pháp Ba-la-mật), cùng Tứ vô lượng tâm và 37 phẩm trợ đạo. Tất cả những công hạnh này đều phải bắt đầu từ 'Trực tâm' để nhập vào 'Thâm tâm', từ đó điều phục tâm thức và thành tựu Phật quốc".

Phân tích sâu hơn về tinh thần nhập thế, TT. Minh Lực làm rõ mối quan hệ giữa phiền não và Bồ-đề, giữa sanh tử và Niết-bàn. Đại thừa phát triển không chủ trương đoạn trừ phiền não theo nghĩa tiêu diệt hay xua đuổi cảm xúc một cách cơ học, mà là làm chủ và chuyển hóa tâm thức bằng chánh niệm tỉnh giác. Lìa bỏ chúng sanh thì không có Phật, lìa bỏ phiền não thì không thể tìm thấy Bồ-đề, cũng như rời xa sóng thì không tìm thấy nước.

Liên hệ với tư tưởng của Tổ sư Minh Đăng Quang trong Bộ Chơn Lý, Thượng tọa trích dẫn quan điểm về thái độ đối với các dục: Người thế gian (người nhỏ) thì đắm nhiễm theo dục lạc; bậc tu tiến ở cõi trời thì chán sợ, tránh xa các dục; còn bậc giác ngộ hoàn toàn (người già/người trí) thì đạt đến sự "tự tại trước các dục". Sự tự tại ấy giúp hành giả không bị trói buộc bởi hoàn cảnh thuận hay nghịch, không bị định kiến hay sự chấp mắc làm xáo động nội tâm.

 

Thượng tọa nhắc nhở các Tỳ-kheo và Sa-di trẻ: "Trong giai đoạn đầu tu học, việc khép mình vào giới luật, tránh né chướng duyên, hạn chế tiếp xúc ngoại cảnh là điều cần thiết để bảo hộ tâm thức. Tuy nhiên, khi đã trưởng thành trong giáo pháp, người tu không được dừng lại ở sự sợ hãi phiền não hay trốn tránh chướng duyên. Người hành Bồ-tát đạo phải dấn thân vào chốn phiền não để làm chỗ dựa và hóa độ chúng sanh, đúng như tinh thần đại nguyện của Bồ-tát Địa Tạng hay Bồ-tát A-nan trong Kinh Lăng Nghiêm".

Để giải tỏa nghi vấn về lý do vì sao cõi nước của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni lại mang biểu tướng "Ngũ trược ác thế" trong khi các cõi Phật khác đều trang nghiêm thanh tịnh, Thượng tọa đã nhắc lại bài học giữa Đức Thế Tôn và Tôn giả Xá-lợi-phất. Mắt người mù không thấy được ánh sáng mặt trời, mặt trăng không phải do mặt trời, mặt trăng không chiếu sáng, mà do mắt họ bị che lấp. Tương tự, cõi nước của Đức Phật vốn dĩ hằng thanh tịnh, nhưng do nghiệp trược và tâm lượng hẹp hòi của chúng sanh nên mới thấy cõi này đầy gồ ghề, dơ bẩn.

Từ đó, Thượng tọa nhắc nhở đại chúng về tinh thần An cư Kiết hạ. Ý nghĩa chân thật của "An cư" là Thân an trong cương giới và Tâm cư trong phạm hạnh. Cương giới không chỉ là ranh giới địa lý của hạ trường Pháp viện Minh Đăng Quang, mà về mặt lý tánh, đó là việc tâm luôn an trú trong Tứ niệm xứ (Thân, Thọ, Tâm, Pháp) hoặc an trú trong pháp môn tu tập được lựa chọn. Phạm hạnh chính là việc giữ gìn giới luật và thực hành Lục hòa đồng trụ, sống hòa hợp, hoan hỷ cùng tăng đoàn.

 

Thượng tọa nhấn mạnh lời dạy của chư Tôn đức tiền bối và Tổ sư: "Sự ấn chứng rõ ràng nhất của sự tu học không nằm ở lời nói suông hay sự tự hào ngoại hình trang nghiêm, mà nằm ở sự an lạc, hoan hỷ, khả năng thích nghi và tâm rộng mở biết cảm thông, tha thứ trước mọi thử thách của đời sống".

Thời pháp thoại kết thúc trong không khí trang nghiêm và thanh tịnh. Đại diện chư hành giả An cư tại Pháp viện Minh Đăng Quang đã dâng lời tri ân sâu sắc đến Thượng tọa giảng sư. Những lời khai thị mực thước, trích dẫn chuẩn xác từ kinh điển gốc đến tư tưởng kinh điển đại thừa đã trở thành hành trang tư lương quý báu cho chư Tăng trên bước đường tu học và phụng sự nhân sinh.

 

Một số hình ảnh được ghi nhận: