Trong không khí thanh tịnh của ba tháng ACKH, khi chư hành giả tinh chuyên thúc liễm thân tâm, tấn tu đạo nghiệp và trau dồi Tam vô lậu học Giới - Định - Tuệ, việc bồi dưỡng nền tảng nhận thức về lịch sử, truyền thống và căn cội tông phong cũng là một trong những điểm hết sức quan trọng. Với ý nghĩa đó, sáng 10/07/2026 (26/05/Bính Ngọ), TT. Giác Nhường – Phó Trưởng ban Thông tin - Truyền thông TƯGH, Giảng viên HVPGVN tại TP.HCM, Phó Thư ký kiêm Trưởng ban Thông tin - Truyền thông PGKS, với nhiều năm nghiên cứu, giảng dạy và hoằng pháp, nhân dịp thăm chư hành giả an cư tại hạ trường Pháp viện Minh Đăng Quang (phường Bình Trưng, TP.HCM), đã dành buổi chia sẻ chuyên đề "Những tư liệu lịch sử về Phật giáo Khất sĩ", mở ra một góc nhìn khách quan, khoa học về tiến trình hình thành và phát triển của PGKS, góp phần củng cố nhận thức và bồi đắp niềm tin nơi chư hành giả an cư.
Khác với một thời thuyết pháp thông thường, buổi chia sẻ được TT. Giác Nhường triển khai như một diễn đàn học thuật nghiêm túc, đặt trọng tâm vào việc khảo cứu và đối chiếu sử liệu, nhằm làm sáng tỏ những vấn đề còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau trong lịch sử PGKS. Trong đó, Thượng tọa đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nghiên cứu lịch sử trên nền tảng các tư liệu gốc và cứ liệu văn bản xác thực. Theo Thượng tọa, tuy thế hệ hậu học hôm nay cách xa thời đại của Tổ sư Minh Đăng Quang và chư Đức Thầy khai sáng, nhưng thông qua việc khảo cứu, đối chiếu và phân tích có hệ thống các nguồn sử liệu còn lưu giữ, người học Phật vẫn có thể tiếp cận lịch sử một cách khách quan và đúng đắn. Từ đó, mỗi người con Khất sĩ sẽ hiểu sâu hơn về nguồn mạch tông phong, tiếp nối trung thành con đường tu tập giải thoát mà Tổ sư đã vạch mở trên nền tảng dung hợp tinh hoa của hai truyền thống Phật giáo Nam truyền và Bắc truyền.
Một trong những nội dung trọng tâm được TT. Giác Nhường đề cập đầu tiên, đó là vấn đề xác định mốc thời gian ra đời của Đạo Phật Khất sĩ Việt Nam. "Đây là chủ đề từ lâu tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, không chỉ trong giới nghiên cứu, mà ngay cả trong nội bộ Hệ phái", Thượng tọa khẳng định. Để làm sáng tỏ vấn đề, Thượng tọa đã phân định rõ ràng hai phạm trù cần được nhận thức riêng biệt: "Đạo Phật Khất sĩ Việt Nam" với tư cách là một hệ thống tư tưởng, giáo lý và con đường thực hành giải thoát; và mặt khác, các hình thái tổ chức hành chính, giáo hội được hình thành trong những giai đoạn lịch sử về sau.
Theo phân tích của Thượng tọa, nhiều tài liệu lâu nay ghi nhận, Đạo Phật Khất sĩ Việt Nam do Tổ sư Minh Đăng Quang khai sáng vào năm 1944. Tuy nhiên, cũng có những quan điểm cho rằng mốc thời gian ấy phải được xác định vào năm 1946, khi Tổ sư bắt đầu hành trì giới luật một cách toàn diện, hoặc năm 1947, khi Tăng đoàn chính thức hình thành qua việc tiếp Tăng độ chúng. Đứng trên nền tảng các tư liệu gốc, đặc biệt là bộ Chơn Lý, Thượng tọa khẳng định: "Chính Tổ sư Minh Đăng Quang đã xác định năm 1944 là thời điểm xuất gia. Đến năm 1946, do hoàn cảnh chiến tranh, Tổ sư không thể tiếp tục ẩn tu tại vùng núi Cao Miên, nên trở về Việt Nam, nghiêm trì giới luật và tiếp tục đời sống phạm hạnh cho đến năm 1948 trước giáo pháp Khất sĩ đến Sài Gòn để hoằng hóa".
Từ những cứ liệu đó, TT. Giác Nhường lý giải, cụm từ "Nối truyền Thích-ca Chánh pháp – Đạo Phật Khất sĩ Việt Nam" xuất hiện trên các chứng điệp và văn bản gốc không phải là danh xưng của một tổ chức hành chính, hay một pháp nhân Giáo hội. Danh xưng ấy biểu thị lý tưởng, mục đích, phương châm và hệ thống tư tưởng mà Tổ sư đã chứng ngộ và khai mở. Vì vậy, khái niệm "khai sáng" ở đây cần được hiểu theo ý nghĩa tối thượng là giác ngộ, đắc đạo và chứng ngộ chân lý vũ trụ. Chính trên cơ sở ấy, Thượng tọa khẳng định, việc xác định Đạo Phật Khất sĩ Việt Nam được Tổ sư Minh Đăng Quang khai sáng vào năm 1944 là hoàn toàn chuẩn xác và thuyết phục. "Đây là dấu mốc tâm linh đánh dấu sự chứng ngộ và khai mở con đường tu tập mang bản sắc Khất sĩ, hoàn toàn phù hợp với thực tiễn lịch sử, chứ không mang hàm ý thành lập một tổ chức hành chính theo nghĩa pháp lý", Thượng tọa phân tích rõ.
Để minh chứng cho lập luận ấy, Thượng tọa đã trích dẫn trực tiếp lời dạy của Tổ sư trong bài Chơn Lý "Đạo Phật Khất sĩ": "Đạo Phật là con đường đi đến quả Phật giác chơn", "Đạo Phật không phải là học Phật hay Phật pháp. Vì Phật pháp là giáo lý giác ngộ phương tiện tùy duyên của Phật dạy cho mỗi chúng sanh khác nhau. Còn học Phật là kẻ đang học giáo lý của Phật mà chưa thực hành. Trái lại, đạo Phật là sự thật hành để thành Phật, là sự tu giống y theo Phật. Con đường ấy là Khất sĩ, là Tăng, là đệ tử Phật sau này, là giới luật y bát chơn truyền vậy". Tiếp đó, Thượng tọa dẫn thêm đoạn văn trong bài Chơn Lý "Hòa Bình", qua đó Tổ sư khái quát bản chất của danh xưng Đạo Phật Khất sĩ bằng một tư tưởng vừa khoáng đạt vừa sâu sắc: "Đạo đây là chơn lý vũ trụ của chúng sanh chung, chớ không phải tông giáo tư riêng. Kẻ sống đúng chơn lý kết quả rốt ráo giác ngộ gọi là Phật, theo tiếng thông thường cũng kêu là đạo Phật. Khất sĩ chúng tôi tập nối truyền Chánh pháp của Phật Thích-ca Mưu-ni, xuất hiện nơi xứ Việt Nam này, với mục đích cố gắng noi y gương Phật, thay Phật đền ơn và để đáp nghĩa chúng sanh trong muôn một, đang thời nạn khổ".
Từ hai cứ liệu gốc ấy, Thượng tọa khẳng định: "Đạo Phật Khất sĩ không bị giới hạn trong phạm vi của một học thuyết hay một hệ thống giáo lý đơn thuần, mà là con đường thực hành sống động nhằm noi theo hạnh nguyện của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni. Đó là tư tưởng mang đậm bản sắc Phật giáo Việt Nam, dung hợp tinh hoa Nam truyền và Bắc truyền, đồng thời được biểu hiện bằng nếp sống trì bình khất thực, trì giới, thiểu dục tri túc và thích ứng hài hòa với bối cảnh văn hóa, xã hội Việt Nam".
Tiếp tục phân tích tiến trình phát triển của Đạo Phật Khất sĩ từ một cá nhân giác ngộ đến sự hình thành một đoàn thể tu học có tổ chức, Thượng tọa cho biết, theo định nghĩa của Tổ sư trong Luật nghi Khất sĩ, một "tiểu giáo hội" đúng nghĩa phải hội đủ 20 vị Tăng. Vì vậy, vào năm 1944, tuy Tổ sư đã khai sáng Đạo Phật Khất sĩ Việt Nam trên phương diện tư tưởng và sự chứng ngộ tâm linh, nhưng Ngài vẫn hành đạo độc hành, chưa thể xem là đã hình thành một Tăng đoàn hay Giáo hội xét trên phương diện tổ chức. Dựa trên các thủ bút, chứng điệp và nhiều tư liệu lịch sử còn lưu giữ, Thượng tọa chỉ rõ, mốc thời gian hình thành Tăng đoàn Khất sĩ gắn liền với năm 1947. Khoảng tháng 02 Â.L năm ấy, Tổ sư chính thức tiếp Tăng độ chúng, thâu nhận những vị đệ tử đầu tiên. Theo sử liệu, ba vị xuất gia đầu tiên mang pháp danh Nhật Quang, Nguyệt Minh và Huệ Ngạn, tượng trưng cho ánh sáng của nhật, nguyệt và tinh tú (Nhựt Nguyệt Tinh quang); kế tiếp là Đức Thầy Từ Huệ. Khi hội chúng gồm năm vị, tức Tổ sư và bốn vị Tăng đệ tử, Tổ sư mới chính thức tiếp nhận Ni trưởng Huỳnh Liên cùng với 3 vị Ni, theo tư liệu thì Ni trưởng Huỳnh Liên thọ Sa-di-ni vào ngày Rằm tháng Tư năm 1947 tại Phú Mỹ (Mỹ Tho).
Đặc biệt, Thượng tọa còn giới thiệu những văn bản gốc có giá trị lịch sử quan trọng. Trên các chứng điệp xuất gia cũng như những bản dự thảo Chơn Lý thời kỳ đầu, tiêu ngữ đều được trình bày với hai phần rõ rệt: phía bên trên ở chính gữa là dòng chữ "Nối truyền Thích-ca Chánh pháp - Đạo Phật Khất sĩ Việt Nam", trong khi góc phải phía dưới ghi "Giáo hội Tăng-già - Sư trưởng Minh Đăng Quang". Theo Thượng tọa, đây là minh chứng xác thực cho thấy danh xưng "Giáo hội Tăng-già" đã được Tổ sư sử dụng từ rất sớm, ngay khi Ngài bắt đầu tiếp độ Tăng chúng, thiết lập quyền Sư trưởng và tổ chức đời sống tu học Tăng đoàn. Mặc dù danh xưng này chưa được đăng ký tư cách pháp nhân với chính quyền đương thời, nhưng xét trên phương diện nội bộ tôn giáo, đây chính là tổ chức Tăng đoàn Khất sĩ đầu tiên.
Từ đó, Thượng tọa Giác Nhường tiếp tục phân biệt giữa quá trình hình thành Tăng đoàn nguyên thủy với các cột mốc pháp lý xuất hiện về sau. Theo Thượng tọa, năm 1964, dưới sự chủ trì của Đức Trưởng lão Hòa thượng Pháp sư Giác Nhiên, cùng sự tham gia của Trưởng lão Hòa thượng Giác Nhu, Trưởng lão Hòa thượng Giác Tường, hồ sơ xin thành lập "Giáo hội Tăng-già Khất sĩ Việt Nam" được xúc tiến và đến năm 1966 mới chính thức được công nhận tư cách pháp nhân. Ngoài ra, Hòa thượng Giác Huệ thành lập "Giáo hội Khất sĩ Việt Nam". Theo phân tích của Thượng tọa, sự ra đời của các danh xưng này phản ánh nhu cầu hoàn thiện địa vị pháp lý theo quy định của xã hội đương thời, hoàn toàn khác với danh xưng "Giáo hội Tăng-già" do chính Tổ sư Minh Đăng Quang sử dụng trong giai đoạn đầu để chỉ Tăng đoàn Khất sĩ mà Tổ sư trực tiếp lãnh đạo.
Tiếp nối buổi chuyên đề, TT. Giác Nhường dành thời gian phân tích giá trị và hàm lượng khoa học của các nguồn tư liệu lịch sử hiện còn lưu giữ về PGKS. Trong đó, Thượng tọa đặc biệt đánh giá cao công lao của tác giả Hàn Ôn (tức nhà sư Giác Hoằng) – một trong tám vị đệ tử cùng lâm nạn với Tổ sư Minh Đăng Quang vào năm 1954. Theo Thượng tọa, sau năm 1954, khi Đức Nhị Tổ cùng chư Đức Thầy từng bước củng cố Tăng đoàn, đến năm 1956 khởi hành chuyến du phương hoằng pháp ra miền Trung từ Phan Thiết. Cũng năm này, tác giả Hàn Ôn đã bắt đầu sưu tầm, ghi chép và hệ thống hóa cuộc đời cùng hành trạng của Tổ sư Minh Đăng Quang, đến năm 1960 hoàn thành và chính thức xuất bản năm 1961. Đây được xem là bản tiểu sử sớm nhất, đồng thời có giá trị tham chiếu chân thực nhất, bởi các chi tiết về gia thế, quê quán của Tổ sư đều đã được cụ Nguyễn Tồn Hiếu – thân phụ của Tổ sư – trực tiếp xem xét và hiệu đính.
Bên cạnh đó, Thượng tọa khẳng định, toàn bộ 69 quyển Chơn Lý đều đã được xuất bản trước khi Tổ sư vắng bóng vào đầu năm 1954. Đây là nguồn tư liệu bậc nhất của PGKS, không chỉ hàm chứa hệ thống tư tưởng giáo lý sâu mầu, mà còn lưu giữ nhiều dữ kiện lịch sử quan trọng về quá trình hình thành và phát triển của Đạo Phật Khất sĩ. Trong đó có những tư liệu phản ánh lộ trình hoằng hóa của đoàn du Tăng từ miền Tây lên miền Đông Nam Bộ, quan điểm của Tổ sư về tiểu giáo hội, đại giáo hội, quy chế trú xứ, hành xứ, cùng nhiều vấn đề nền tảng khác của Tăng đoàn Khất sĩ buổi đầu.
Từ dòng chảy lịch sử, Thượng tọa tiếp tục làm rõ quá trình hình thành danh xưng Hệ phái PGKS trong giai đoạn hiện đại. Theo đó, sau cột mốc năm 1981, khi các tổ chức Phật giáo trên cả nước được thống nhất thành GHPGVN, danh xưng "Hệ phái Khất sĩ", "Hệ phái Phật giáo Khất sĩ" mới được sử dụng để xác lập vị trí của PGKS trong ngôi nhà chung của Phật giáo Việt Nam.
Khép lại buổi chuyên đề, TT. Giác Nhường đã dành lời đạo từ khuyến tấn toàn thể hành giả an cư, trong đó nhấn mạnh, việc làm sáng tỏ các danh xưng, các mốc thời gian và những cứ liệu lịch sử không nhằm mục đích tranh luận câu chữ, mà cốt để nâng cao giá trị học thuật và hàm lượng khoa học trong nghiên cứu đạo sử. "Khi hiểu đúng và hiểu sâu về lịch sử tông phong của mình, mỗi người con Khất sĩ sẽ có đủ nền tảng để lý giải một cách mạch lạc, có hệ thống và có căn cứ văn bản rõ ràng trước những diễn đàn học thuật cũng như các vấn đề nghiên cứu lịch sử Phật giáo. Từ nhận thức đúng đắn về tiến trình hình thành và phát triển của Đạo Phật Khất sĩ, sẽ góp phần khơi dậy lòng tri ân sâu sắc đối với Tổ sư Minh Đăng Quang và chư vị Tổ Thầy tiền bối. Đó cũng chính là nguồn động lực để mỗi người con Khất sĩ chúng ta tiếp tục thúc liễm thân tâm, giữ gìn y bát chơn truyền, xứng đáng là những học trò tiếp nối dòng chánh pháp của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni mà Tổ Thầy dày công dẫn dắt".
Một số hình ảnh được ghi nhận: