CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Vu lan ngày ấy

Mùa Vu Lan ngày ấy đọng lại trong tâm trí tôi một dấu ấn sâu đậm, mà dù có phủ thêm bao nhiêu lớp bụi thời gian, dấu ấn ấy cũng không thể nào phai nhòa. Tôi xuất gia vào năm 19 tuổi, cuộc đời hoa mộng bỏ lại sau lưng, sự nghiệp mới chỉ vỏn vẹn trong niềm tin và ý chí.

Thế rồi, tôi trở thành người “phiêu bạc” nay đây mai đó, lặn lội trong gió bụi thời gian đem ánh sáng tình thương dâng tặng cuộc đời. Tôi và những người đàn anh, đàn em của tôi , tất cả đều lần theo dấu chân của người Cha kính thương, Người mà trong cõi tinh thần của cả đời tôi, là hình ảnh thiêng liêng bất diệt.

Những tưởng gót chân người “lữ hành” sẽ mãi mãi hòa điệu theo gót chân Thầy trên dặm dài du hóa. Nào ngờ đâu, đá mòn sông cạn, mây tán tuyết tan! Thầy tôi đã ra đi, một cuộc ra đi mà anh em chúng tôi không bao giờ còn cơ hội gặp lại. Ôi! Không có sự mất mát và đau đớn nào hơn, khi Thầy vội vã ra đi, bỏ lại cho tôi và tất cả anh em nỗi nhớ thương ngập tràn cùng bao niềm xót xa tê tái.

Tôi còn nhớ, khi mới nhập Đạo, Thầy hỏi tôi:

- Ông tu được không?

Tôi trả lời:

- Mô Phật, bạch Thầy được!

Thầy hỏi tiếp:

- Tu suốt đời nghen?

Tôi cuối đầu:

- Mô Phật!

Thế rồi Thầy thọ ký cho tôi pháp danh là “ Huệ Học”.

Tôi vốn kém văn hóa, có lẽ Thầy hiểu nên ngụ ý nhắn nhủ “muốn có Trí Tuệ là phải học, hãy lấy Trí Tuệ làm sự nghiệp tu hành” để răn tôi hằng ý thức để nỗ lực rèn luyện pháp học, dồi trau tri kiến nên mới ban pháp danh như vậy chăng?

Quả thật vậy, từ ngày được Thầy thọ ký pháp danh, tôi luôn luôn chú tâm nghiên tầm kinh điển, hăng say tìm học giáo lý và cho đến ngày thọ đại giới Cụ túc thì được Đức Thầy ban pháp hiệu là “Giác Tần”. Có lẽ Thầy lại ngụ ý nhắn nhủ tôi, có gắng tu học để thành tựu giác ngộ từng phần tuần tự. Từ khi được dự vào hàng xuất gia thiệt thọ, lòng tôi hân hoan niềm vui sướng với lý tưởng giải thoát, và ngày qua ngày theo gót chân Thầy lập hạnh khất sĩ cứu khổ độ sanh.

Thế rồi, mùa Vu Lan năm Tân Hợi (1971) được tổ chức tại Tịnh Xá Ngọc Cát, tọa lạc trên ngọn đồi cát Phan Thiết; Chư Tăng thập phương và đồng bào Phật tử đồng hội về đông đủ, ai nấy đều dâng lên ngôi Tam Bảo với trọn tâm thành hiếu đạo, kính mừng ngày Đại lễ Vu Lan, Báo đền Tứ Ân sâu nặng. Nhưng niềm vui chưa trọn thì đức Thầy “cỡi hạc mây ngàn”.

Tôi nhớ rất rõ, cái đêm Rằm tháng Bảy ấy, sư Giác Châu từ trong cốc Thầy bước ra bảo:

“ Thầy đã mất”.

Tôi nghe như tiếng sấm nổ, đầu óc quay cuồng, cảm thấy ngọn đồi Phan Thiết rung lắc như muốn nghiêng đổ, trời đất như tối hẳn lại rồi chìm ngập trong bóng đêm vô tận. Tôi thầm kêu lên:

- Thầy hỡi! Thầy ơi! Đời con sao thiểu phước kém duyên! Mặt trời soi sáng niềm tin  con chừ lặn tắt, cội tùng tỏa mát lý tưởng con đã không còn, và đời con từ đây lạc lõng bơ vơ trên vạn nẻo đường!

Thế rồi thời gian lặng lẽ trôi qua, bao nhiêu năm tháng là bấy nhiêu thương nhớ. Dẫu rằng vạn vật đổi dời, bao lần đổi trắng thay đen, tôi nay đã là người Khất Sĩ bước lữ hành vững chãi, dõng mãnh tiến về phía trước với tròn đầy hạnh nguyện độ tha. Nhưng mỗi lần nhớ về Thầy về ân giáo dưỡng buổi đầu nhập đạo, lòng tôi mãi mãi u hoài một niềm kính tiếc, một khoảng trống trong tâm khảm không thể lấp đầy.

Hôm nay mùa Vu Lan lại trở về, nhìn Tăng Tín đồ thập phương vân tập mà lòng tôi lại bùi ngùi nhớ lại “ Vu Lan ngày ấy”. Cái ngày mà đã lưu lại trong Tôi một niềm kính tiếc muôn đời.

Mây Tầng - 1988

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết: