Đạo Phật Khất Sĩ
CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Việt Nam Phật giáo sử ca

MỤC LỤC

Lời tác giả

01. Khơi dòng                                       (Câu 01 - 42)

02. Cái nôi Phật giáo Luy Lâu                 (Câu 43 - 130)

03. PGVN Thế kỷ thứ 3 - 5                     (Câu 131 - 174)

04. PGVN thiền phái thứ nhất                 (Câu 175 - 242)

05. Tăng đoàn Việt Nam xuất du            (Câu 243 - 358)

06. Đem chuông đi đánh xứ người         Câu 359 - 446)

07. PGVN thiền phái thứ hai                  (Câu 447 - 502)

08. Đất nước độc lập thái bình              (Câu 503 - 542)

09. Dân tộc và Phật giáo                       (Câu 543 - 578)

10. PGVN triều đại nhà Đinh                   (Câu 579 - 614)

11. PGVN triều đại nhà Tiền Lê               (Câu 615 - 654)

12. PGVN triều đại Lý - Trần                   (Câu 655 - 694)

13. PGVN thiền phái thứ ba                   (Câu 695 - 726)

14. Thiền phái Trúc Lâm của PGVN         (Câu 727 - 778)

15. PGVN 14 thuộc Minh                        (Câu 779 - 806)

16. PGVN triều đại Hậu Lê                     (Câu 807 - 874)

17. PGVN phái Tào Động                       (Câu 875 - 890)

18. PGVN phái Liên Tôn                        (Câu 891 - 922)

19. PGVN phái Nguyên Thiều                 (Câu 923 - 966)

20. PGVN phái Minh Hải                        (Câu 967 - 998)

21. PGVN phái Liễu Quán                      Câu 999 - 1042)

22. PGVN đất Phương Nam                   (Câu 1043 - 1078)

23. PGVN triều đại nhà Nguyễn              (Câu 1079 - 1146)

24. Thế kỷ 20 đến cận hiện đại:

* Hậu họa khôn lường                           (Câu 1147 - 1178)

* 50 năm chấn hưng PG                        (Câu 1179 - 1222)

* Tổng hội Phật giáo Việt Nam               (Câu 1223 - 1286)

* Phật giáo Nguyên thủy                        (Câu 1287 - 1322)

* Phật giáo Khất sĩ                                (Câu 1323 - 1342)

* Pháp nạn Phật giáo 1963                     (Câu 1343 - 1434)

* Giáo hội PGVN thống nhất                  (Câu 1435 - 1490)

* Cận tới hiện đại                                  (Câu 1491 - 1530)

LỜI TÁC GIẢ

Vào năm 2003 khi thảo Vạn hữu trường ca được nửa chừng, bèn nghĩ có lẽ dừng lại để sau này sẽ tiếp để đi vào Việt Nam thi sử hùng ca trước, và mọi thể dạng mang sắc thái tình tự, dân tộc, quê hương, nhân sinh, mọi ngõ ngách cuộc đời và nhân thế, các sự kiện diễn ra, nghe tiếng kêu đồng loại,... đã hơn 34 năm qua, dĩ nhiên là văn vần, còn văn xuôi thì ít bởi ít khả năng vốn liếng thiên tư. Đến nay đã gần 1,700 bài khác nhau (một ngàn bảy trăm). Hai tuần trước chợt nhớ Vạn hữu trường ca còn dang dở, dành vài ngày đi nốt và hoàn tất.

Tựa đề "Việt Nam Phật giáo sử ca" đã xuất hiện trong đầu cùng lúc khi vào chuyện "Vạn hữu" và "Thi sử" nói trên, thời gian thấm thoát thoi đưa mới đó mà đằng đẵng đã hơn 13 năm rồi, vẫn chỉ là cái tựa đề đeo đẳng, nhiều lần chợt thoáng đè nặng tâm tư, chìm sâu thao thức, chứ nhân và duyên chưa có cơ hội tụ để bắt tay.

Gần đây do bị bịnh cảm, nhẹ thôi, không đáng gì, tuy nhiên làm cho uể oải dễ mệt nên giảm các sinh hoạt hay lao tác khác, ở trong liêu nhiều hơn. Tự ngẫm đây có lẽ là thời điểm thích hợp nhất. Thế là một nửa còn lại "Vạn hữu" vài ngày đã xong như nói trên, và đi tiếp vào chuyện Phật giáo sử ca.

Gần 50 năm trước đã đọc Việt Nam Phật giáo sử lược của ngài Mật Thể. Hơn 15 năm trước xem tiếp Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang (ngài Nhất Hạnh). 10 năm đổ lại có xem Đạo Phật và dòng sử Việt của ngài Đức Nhuận. Hơn 5 năm gần đây đọc tiếp Lịch sử Phật giáo Việt Nam của Viện Triết học. Còn các tác phẩm: 50 năm chấn hưng Phật giáo của ngài Thiện Hoa; Tăng già Việt Nam của ngài Trí Quang; Phật giáo tranh đấu của Đuốc Tuệ đã đọc 40 năm trước, và đọc lại cùng với quyển Hai ngàn năm Việt Nam và Phật giáo của TS. Lý Khôi Việt những hơn 30 năm rồi, trong đó có Thiền sư Việt Nam của ngài Thanh Từ nữa, hơi sau.

Đã lục tìm Phật giáo sử ca qua văn vần để xem, học hỏi nhưng chừng như chưa có thì phải. Tựa đề ấy đã đeo dính liền suốt mười mấy năm, đôi khi trở thành thao thức và đè nặng trong lòng. Nên không ngần ngại tài hèn đức mọn sở học ít ỏi, cũng không e leo núi băng rừng, đâm vào đá tảng hòn chồng hay thung lũng hầm hố chông gai 2,000 năm theo bóng thời gian.

Vốn như tựa đề là Sử ca, tức một bài ca dài về Phật giáo sử Việt, đương nhiên tự nó theo cung bậc âm điệu giới hạn của một bài ca, dù cao thấp thăng trầm hay đa âm đơn điệu. Khen chê, cảm nghĩ, đánh giá, không đáng hay đón nhận, đều xin cảm ơn. Nếu ngại hay e các yếu tố này, thì nó đã không có mặt.

Đi vào chuyện với các tác phẩm nêu trên ở trên bàn cùng với Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim; Việt Sử toàn thư của Phạm Văn Sơn; Địa lý Việt Nam của Nguyễn Khắc Ngữ & Phạm Đình Tiếu. Sau 8 ngày cuối tháng 8 đầu tháng 9, được 1,530 câu, xong và kết thúc.

Nếu được và đón nhận, xem như một cống hiến chân thành cho đạo pháp và văn hóa Phật giáo sử Việt. Nếu chê và không đáng, cũng xem như một cống hiến nhưng bất toại cùng tự thân về với cát bụi theo bóng vô thường.

Ngày 06-9-2016
TNT Mặc Giang

KHƠI DÒNG

Việt Nam Phật giáo sử ca

02. Hai ngàn năm trên nước nhà Việt Nam

Hai ngàn năm huy hoàng tuyệt mỹ

Hai ngàn năm tuyệt ý tinh kỳ

Truyền thừa đạo lý từ bi

06. Thượng hoằng hạ hóa, độ vì chúng sanh

Chư Tổ sư xuất trần chấn tích

Chư Thánh đức tục diệm ấn tâm

Xây nền Phật pháp uyên thâm

10. Dựng tảng chân lý cao ngần Thế Tôn

Chuyển huệ mạng trường tồn bất diệt

Truyền pháp đăng bất tuyệt không thời

Ngàn năm phổ chiếu nơi nơi

14. Muôn năm tỏa rạng cứu đời phù sinh

Chư Tôn sư hiến mình đạo pháp

Chư Cổ đức uyên áo phụng vì

Hàng hàng hậu duệ lượng suy

18. Lớp lớp hậu học thuận tùy xiển dương

Phật pháp đấng Pháp Vương vi diệu

Ba tàng kinh luật luận thượng thừa

Ba ngàn thế giới tôn thờ

22. Chúng sinh vạn loại đều nhờ đức ân

Ân Phật, Tổ bi lân tế độ

Ân Thánh, Hiền gia hộ từ nghiêm

Để cho chánh pháp hoằng truyền

26. Để cho chánh đạo vững thuyền chuyển lưu

Đạo giải thoát thời thời thường trụ

Đạo từ bi thế thế trường tồn

Dung thông quốc độ biên cương

30. Phổ chiếu muôn hướng ngàn phương an lành

Chân thành vén bức rèm quá khứ

Xin lần mò tìm dấu vết xưa

Ngàn năm sử tích đã thừa

34. Chấp tay trân trọng tôn thờ khắc ghi

Ngưỡng nguyện đức từ bi gia hộ

Ngưỡng nguyện chư Tôn đức thùy từ

Mở trang lịch sử thắm tô

38. Việt Nam Phật giáo cơ đồ vĩnh nhiên

Thắp tâm hương kiền thiền đảnh lễ

Đức Bổn sư Từ Phụ chứng minh

Việt Nam Phật giáo rạng danh

42. Hai ngàn năm sử đan thanh nối truyền.

CÁI NÔI PHẬT GIÁO LUY LÂU

Thế kỷ thứ 1,2,3

Việt Nam ta có miền đất Phật

Đã hình thành sớm nhất từ đầu

Cái nôi Phật giáo Luy Lâu

46. Trung tâm địa chính Giao Châu bấy giờ

Vào thế kỷ ban sơ Tây lịch

Đạo Phật truyền chấn tích tại đây

Ngay từ cái thuở nguyên khai

50. Luy Lâu Phật giáo kết đài diệu liên

Đạo vàng tỏa khắp miền khắp chốn

Tiếng chuông ngân sáng sớm chiều hôm

Thị thành cho đến nông thôn

54. Người người quy hướng ngưỡng tôn tri hành

Ngài Mâu Tử chí thành học Phật

Khương Tăng Hội thế phát xuất gia

Ma Ha Kỳ Vực kết hoa

58. Chi Cương Lương thắp tòa nhà Như Lai

Tức thứ nhất thứ hai thế kỷ

Hay thứ ba cho chí về sau

Khởi từ Phật giáo Luy Lâu

62. Việt Nam ta tức Giao Châu một thời

Đọc sử sách cúi đầu ngưỡng vọng

Và kính thương hình bóng tiền nhân

Một vùng Đất Bắc cơ cần

66. Cái nôi dân tộc Rồng Tiên - Lạc Hồng

Xin đảnh lễ liệt Tông liệt Tổ

Xin khấu đầu Quốc Tổ Hùng Vương

Dựng xây tổ quốc giang sơn

70. Cấu thành đất nước quê hương năm ngàn

Năm ngàn năm muôn ngàn tình tự

Năm ngàn năm tích tụ hùng thiêng

Việt Nam gấm vóc ba miền

74. Bắc Nam Trung quyện hồn thiêng muôn đời

Vốn Phật giáo không rời dân tộc

Dù đi sau cột mốc ba ngàn

Nhưng hai là một tương lân

78. Xưa nay bất biến, cổ kim không màng

Không luận suy không phân không tích

Cứ nhìn đi từng tấc từng ly

Dân tộc - Phật giáo tuyệt kỳ

82. Không hai không một đồng thì có nhau

Nhờ Phật giáo nhuận màu dân tộc

Nhờ dân tộc nhuận sắc quê hương

Như hoa tự có mùi hương

86. Như đồng ruộng lúa như nương nắng chiều

Xin tạm gác cầu kiều bắc nhịp

Qua cầu tre chuyển tiếp Luy Lâu

Luy Lâu nằm ở nơi đâu

90. Nay là Hà Bắc trung châu Sông Hồng

Vùng châu thổ ba bông hoa nở

Như một cây mà trổ ba hoa

Bên này đích thị Cổ Loa

94. Long Biên bên đó chan hòa Luy Lâu

Sông Đuống, sông Lục Đầu nước chảy

Sông Thái Bình cùng vẫy sóng reo

Sông Hồng mái đẩy đưa chèo

98. Cái nôi dân tộc đẳng đeo "Đồng bào"

Sau sau nữa Thăng Long - Hà Nội

Sau sau nữa mới Huế - Sài Gòn

Sau sau nữa mới ba miền

102. Bắc Nam Trung chung con thuyền Việt Nam

Khởi đi từ Luy Lâu đất Phật

Có chùa chiền bảo tháp tôn nghiêm

Dịch Kinh tới bộ mười lăm

106. Tăng già Tăng lữ năm trăm hơn rồi

Nên mặc nhiên là nơi gốc cội

Phật giáo đã tắm gội Luy Lâu

Ngay từ thế kỷ ban đầu

110. Thứ hai nhuận sắc thứ ba nhuận màu

Xin bái vọng Luy Lâu Phật giáo

Và nhớ thương hình bóng Giao Châu

Hai ngàn năm đã quá lâu

114. Người xưa biệt bóng người sau chạnh lòng

Dẫu cho rằng khơi dòng du nhập

Đừng cho rằng trầm tích kiếm chương

Bốn ngài: Mâu Bác, Cương Lương

118. Kỳ Vực, Tăng Hội hỗ tương khơi nguồn

Kể từ đó tiếng chuông Phật giáo

Và từ đó Phật giáo Việt Nam

Tính ra đã hai ngàn năm

122. Việt Nam - Phật giáo như trăng óng vàng

Cùng hòa nhịp mở đường khai lối

Cùng hỗ tương sớm tối chiều hôm

Sắt kia thấm nhuận cùng son

126. Son kia nhuận sắt tâm hồn Việt Nam

Chân thành thắp nén hương bái thỉnh

Xin dâng lên cổ kính cội nguồn

Tôn thờ liệt Tổ liệt Tông

130. Gia gia hộ hộ giống dòng Việt Nam.

PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Hậu thế kỷ 3 đến cuối thế kỷ 5

Cả hơn hai trăm năm một thoáng

Bóng thời gian và bóng không gian

Khắc ghi đôi nét sử vàng

134. Thắm tô Phật giáo Việt Nam thuở này

Như sắc thái Luy Lâu đề cập

Phật giáo ta hưng phát lắm rồi

Ngài Kỳ Vực quy xứ thôi

138. Ngài Tăng Hội ra nước ngoài hóa du

Được triều đại Đông Ngô mời thỉnh

Vua Tôn Quyền thành kính quy y

Mở ra dấu ngoặc kinh kỳ

142. Việt Nam lưu xuất bước đi diễm hằng

Chi Cương Lương song hành đồng điệu

Cả hai Ngài viết sách dịch Kinh

Hiện còn một số nguyên trinh

146. Nếu ai muốn biết tự mình sưu tra

Giờ xin được lược qua thứ bốn

Cho đến hết thế kỷ thứ năm

Tòa nhà Phật giáo Việt Nam

150. Có gì nổi bật nạm vàng điểm son

Có có chứ nét son tuyệt mỹ

Và có chứ kỳ vĩ tuyệt vời

Nhìn vào gương cũ điểm soi

154. Để cho con chữ dâng lời tán dương

Dạ xin vâng vô vàn trân trọng

Xin lưu danh hình bóng quý Ngài

Đạt Ma Đề Bà là ai

158. Là người Ấn Độ du hài An Nam

Trước Bồ Đề Đạt Ma - Đông Độ

Trổ bông hoa thiền học Trung Hoa

Thì Việt Nam cũng Đạt Ma

162. Khoảng nửa thế kỷ trổ hoa trước rồi

Ngài Huệ Thắng cùng thời có mặt

Ngài Đạo Thiền đều nước Nam ta

Danh Tăng kiệt xuất tài hoa

166. Cùng nhiều vị khác ươm tòa hương sen

Ai muốn biết vào "Cao Tăng truyện"

Còn riêng tôi một chuyến du hành

Du hành lược nét sử xanh

170. Tô son điểm phấn thắp vành trăng soi

Chuyến du hành xa xôi lắm lắm

Còn dặm ngàn thăm thẳm nhiêu khê

Hai ngàn năm sử chói lòa

174. Chỉ xin đan kết nụ hoa phương đài.

Thiền phái thứ nhất tại VN

Sơ Tổ TỲ NI ĐA LƯU CHI

Thế kỷ thứ 6 và về sau

Ngài Tỳ Ni Lưu Chi sơ Tổ

Mở dòng thiền thứ nhất Việt Nam

Ngài trụ tại chùa Pháp Vân

178. Tọa lạc tại tỉnh Hà Đông - Bắc Hà

Nơi xuất thân chính là Ấn Độ

Sang Trung Hoa du hóa một phen

Tam Tổ Tăng Xán khơi đèn

182. Truyền tâm ấn tín lên thuyền xuôi Nam

Ngài Pháp Hiền - Pháp Vân tọa chủ

Cung thỉnh Ngài thạch trụ thiền gia

Phật giáo Việt Nam mở ra

186. Tông môn pháp phái chính là từ đây

Hai thầy trò như cây thêm cội

Hai thầy trò ươm gốc nẩy chồi

Trổ bông kết trái xanh tươi

190. Thơm hương tỏa nhụy đất trời Việt Nam

Hành trạng mãn an nhiên thị tịch

Công hạnh viên quảy dép Tây quy

Bên ngôi tháp cổ phụng vì

194. Ngàn năm hình bóng Lưu Chi nghiêng mình

Đệ nhị Tổ Pháp Hiền ưu việt

Sinh quận Chu Diên tỉnh Sơn Tây

Tư chất đã vốn hiển bày

198. Tu tập đã ngộ mặt mày bổn lai

Pháp sư Đàm Thiên đà tán thán

Một Bồ-tát sống nước An Nam

Tỳ Ni Tổ thấy rõ ràng

202. Truyền tâm ấn tín nhẹ nhàng tự nhiên

Khi Tổ tịch tinh chuyên độ nhiếp

Kế thế truyền thừa tiếp hậu lai

Mười chín đời kiệt xuất thay

206. Và sau đó nữa đến nay vẫn còn

Mở dấu ngoặc vòng tròn nho nhỏ

Thắp đèn khuya khi tỏ khi mờ

Ngân sương ngưng đọng tinh mơ

210. Long lanh ươm giọt ơ hờ điểm soi

Bóng không gian nay bồi mai lở

Bóng thời gian lúc mở lúc cài

"Trường không nhạn quá" chim bay

216. "Ảnh trầm hàn thủy" ô hay, thế à

Sáu trăm năm đã qua dài ngắn

Sáu thế kỷ là ngắn hay dài

Đếm một ắt phải đếm hai

218. Còn không không cả một hai chi hè

Chừng như vọng tiếng nghe đâu đó

Sử vô thinh ai gõ mà nghe

Ve kêu to nhỏ mỗi hè

222. Có nghe không có nào "ve" cố tình

Chừng như muốn tơ tình gì thế

Nỗi niềm chi nói khẽ, nhỏ thôi

Xa xa bóng núi nghiêng đồi

226. Bềnh bồng mây trắng nổi trôi lưng trời

Tùy nghi vậy không mời không gọi

Có nói như không nói thế thôi

Con chữ nó chạy ghi lời

230. Vô ngôn bặt ý sử thời khắc lưu

Sáu trăm năm trước thời là trước

Sáu thế kỷ sau tức thị sau

Rõ không cần phải tô màu

234. Không cần thêm bớt con tàu thời gian

Ngài Tăng Hội, Cương Lương, Mâu Bác

Ngài Ma Ha Kỳ Vực khởi đầu

Và bao nhiêu vị nối nhau

238. Sao không là vị Tổ sư ban đầu

Ngài Tỳ Ni đời sau quá cách

Sáu năm năm chuyển mạch ít sao

Thôi xin không dám đâu nào

242. Chỉ xin đánh động khỏ vào sử xanh.

TĂNG ĐOÀN VIỆT NAM XUẤT DU

Ai cũng biết chuyện Đường Tam Tạng

Ngài Huyền Trang nhận chiếu xuất du

Đường xa vạn lý mịt mù

246. Tây Thiên nhả khói sương mờ giăng giăng

Thân độc lữ băng rừng vượt núi

Vượt dốc đèo hố thẳm nguy nan

Khí thiêng thú dữ ngập tràn

250. Hiến thân vì đạo lên đàng thỉnh kinh

Hơn mười năm trầm mình Tây Trúc

Học, lục, tìm thư tịch mù sương

Ba tàng giáo điển Pháp vương

254. Thỉnh bao của báu quy hương làm giàu

Đường Huyền Trang về sau "đốt cháy"

Cháy sách vở phim ảnh Đông Tây

"Tây Du Ký" cỡi trời mây

258. Trẻ già lớn bé chuyện này thao thao

Việt Nam ta cất cao tiếng nói

Một Tăng đoàn sáu vị xuất chiêu

Tự thân, không chiếu, không điều

262. Vì đạo tận hiến, không yêu không cầu

Cả sáu vị tuổi đời rất trẻ

Và khi tịch chưa quá sáu mươi

Chắp tay trao đóa sen tươi

268. Việt Nam Phật giáo tuyệt vời, thua ai

Vẫn dõng dạc ngẩng đầu đi tới

Vẫn mang hia giẫm đạp góc gai

Trong khi cam phận ách tai

270. Cái đô cái hộ dài dài Bắc phương

Vậy mà vẫn đường đường Tăng tướng

Vậy mà vẫn khí tượng trượng phu

Sống trên biển đục ao tù

274. Giẫm tan sỏi đá mịt mù trầm kha

Đây là khí con nhà Hồng Lạc

Đây là chất đĩnh đạc Rồng Tiên

Là Tăng lữ cũng là dân

278. Của dân tộc Việt cháu con Vua Hùng

Phải hãnh diện vui mừng là phải

Phải tự hào thỏa chí dân Nam

Xứng danh dân tộc Việt Nam

282. Xứng xanh đất nước Việt Nam tuyệt vời

Nhân nơi đây ngỏ lời tha thiết

Hỡi người người của Việt Nam ta

Kính mong nam nữ trẻ già

286. Chư Tôn, huynh đệ đồng là thế thôi

Tổ Tiên ta tuyệt vời siêu xuất

Ông Cha ta lẫm liệt oai phong

Truyền trao huyết thống Lạc Hồng

290. Tinh hoa tiết liệt giống dòng Rồng Tiên

"Con nhà Tông, không lông cũng cánh"

"Cháu Lạc Hồng, không Rồng cũng Tiên"

Quẳng đi ném quách cái khiên

294. Cái mâu, cái thuẩn, cái kiềng, cái gông

Không cần biết dù Đông hay Bắc

Không cần biết dù "Bạch" hay Tây

Việt Nam định sẵn xưa nay

298. Hễ ai đụng tới biết tay Lạc Hồng

Xin quay lại không rong đi nữa

Kẻo thời gian lần lữa con thoi

Trên giàn bầu gọi bí ơi

302. Dưới giàn bồ ngót mồng tơi đâm chồi

Xin viết tiếp vươn ngoài vạn dặm

Cuộc Tăng đoàn xuất hóa Việt Nam

Tuổi non như mạ xanh lam

306. Vậy mà lúa chín trên đàng chuyển lưu

Ngài Vân Kỳ thường đi thuyết hóa

Quê Giao Châu xưa cũ của mình

Tinh thông chữ Phạn đàm kinh

310. Đã đến "Thất Lợi" giải, trình, luận, phân

Và thị tịch cơ phần đành đoạn

Tuổi ba mươi một thoáng phù sinh

Nguyện Ngài hiển giác tánh linh

314. Hồi đầu tiếp tục hành trình dở dang

Ngài Mộc Xoa lại càng xa xót

Tuổi hăm lăm quay gót về Tây

Người Giao Châu đi đó đây

318. Đi tới đất Phật chắp tay cúng dường

Bồ Đề Đạo Tràng vương Thánh tích

Ngài bỏ thân cát bụi bay bay

Xin Ngài nhớ nguyện quý này

322. Biết đâu Ngài đã từng quay trở về

Ngài Khuy Xung thì sao xin lược

Cũng Giao Châu và thật biệt tài

Tinh thông ngoại ngữ hơn ai

326. Tích Lan, Ấn Độ lối cài dặm băng

Cội Bồ Đề viếng thăm đảnh lễ

Vườn Trúc Lâm, Tinh xá Phật lưu

Nơi đây Ngài tịch xứ người

330. Tuổi còn rất trẻ ba mươi hết rồi

Ngài Huệ Diệm cũng Giao Châu nữa

Cũng xuất du hành đạo Tích Lan

Đệ tử của Ngài Vô Hành

334. Chắc chắn rất trẻ quá xanh mái đầu

Rồi quy tịch nơi đâu ở đó

Tuổi bao nhiêu không rõ không ràng

Tấm thân giả tạm không màng

338. Xin Ngài quay lại trên đàng độ sinh

Ngài Trí Hành, hành tung có khác

Quê Ái Châu - Thanh Hóa ngày nay

Trung Ấn hoằng hóa đêm ngày

342. Bắc Kinh lại đến ở đây cuối đời

Chùa Tín Già là nơi an trụ

Khi tịch biên thờ tự cũng đây

Quê mình còn lắm niềm tây

346. Quê người ngọn gió heo may lạnh lùng

Đại Thặng Đăng thiền sư lưu tích

Quê Ái Châu xuất cách siêu phương

Trung Hoa một thoáng còn vương

350. Ngài được thọ giới với Đường Huyền Trang

Vốn đã tinh những Tàng kinh các

Lại còn thông Phạn, Hán như in

Tích Lan, Thiên Trúc đăng đàn

354. Quy tịch Chùa Bát Niết Bàn, sáu mươi

Như thế ấy không vui sao được

Một Tăng đoàn tự xuất du phương

Hành tung ấn tích phi thường

358. Dấu xưa chói lọi tấm gương đạo đời.

ĐEM CHUÔNG ĐI ĐÁNH XỨ NGƯỜI

Lại chuyện lạ tuyệt vời siêu liệt

Của An Nam nước Việt dấu yêu

Xem xong không trải chiếu điều

362. Tôi xin ném quách tiêu điều bút nghiên

Chuyện gì vậy coi chừng đó nhé

Uổng công lao cha mẹ sinh thành

Tốn gạo cơm, phí học hành

366. Ân Thầy ân bạn, xấu quàng cho ai

Không, nếu thế, tự tôi riêng gánh

Còn nếu thơm xin hiến xin dâng

Dâng vào nét đẹp sử vàng

370. Hiến vào gấm vóc giang san nước mình

Con chim Lạc xinh xinh ca hát

Con chim Hồng đồng hót vang vang

Không cần gãy khúc cung đàn

374. Tự cao cao vút, tự trầm trầm ca

Rồng vui vui chan hòa tình tự

Tiên mừng mừng tình tứ hân hoan

Hễ sắt thì phải có son

378. Hễ sáng đích thực là gương soi cùng

Vào chuyện nhé nhìn chung đánh giá

Thật khách quan đừng có riêng tư

Đã là chơn thật bất hư

382. Ném qua cửa sổ nào dư với thừa

Chuyện chí dị dù xưa vẫn mới

Chuyện cao kỳ nào đợi dệt thêu

Dẫu cho trải chiếu vải điều

386. Cũng chưa đủ thấm những siêu tuyệt này

Thời nhà Đường là thời cực thịnh

Phật giáo Tàu chắp cánh bay xa

Cao Tăng Tàu rất tinh hoa

390. Dân tộc cả nước Trung Hoa thái bình

Việt Nam ta oằn mình thống khổ

Cái ách tai đô hộ lần ba

Cả nước thở khói không ra

394. Đè đầu chận cổ can qua não lòng

Ách nạn một ngàn năm Bắc thuộc

Bao lầm than dân tộc điêu linh

Việt Nam không ánh bình minh

398. Tối tăm đen nghịt nhục hình thảm thương

Vậy mà chuyện phi thường xuất hiện

Việt Nam ta quả thật phi thường

Lò cừ nung nấu sắt son

402. Ách tai tôi luyện tinh tường tâm can

Vàng tinh anh đâu màng lửa đốt

Ngọc minh châu đâu ngại lao linh

Càng giũa càng đốt càng minh

406. Càng tinh nét ngọc càng xinh sắc vàng

Quế Đường - Lê Quý Đôn có trích

Trong sách "Kiến Văn Lục" chuyện này

Sách Hoa - Anh ngữ cũng bày

410. Việt Nam văn học bồi tài hay chưa

Ngài Nhật Nam Tăng ưa ẩn dật

Trụ chùa hang trong núi Trung Hoa

Người quê ở Nhật Nam ta

414. Đạo đức lừng lẫy chói lòa Bắc phương

Thi hào Trương Tịch đề thơ kính

Rằng: "Sơn Trung tặng Nhật Nam Tăng"

Ngợi ca vầng nguyệt lung linh

418. Vầng trăng e thẹn bóng hình dân Nam

Ngài Vô Ngại thượng nhơn, ta nữa

Chùa Sơn Tĩnh, Thanh Hóa, Cửu Châu

Trầm Thuyên Kỳ kính viếng hầu

422. Cũng đề thơ "Yết Cửu Châu..." vang lừng:

"Đại sĩ" thượng nhân "sanh Thiên Trúc"

Đại hạnh "Phân thân hóa Nhật Nam"

"Thiên nhiên sẵn thú tuyền lâm

426. "Rừng phơi áo giặt suối dầm nước hương"

Ngài Phụng Đình Pháp sư được thỉnh

Vào Triều Đường trực kiến giảng kinh

Diễn thuyết lão luyện cao minh

430. Bá quan văn võ nghiêng mình phục ba

Thi hào Dương Cự Nguyên đề tặng:

"Tống Phụng Đình Pháp sư quy Nam"

Về, "Quấn quít lòng Trường An"

434. "Cửa trời, vắng kinh kệ", ngàn xa khơi

Ngài Duy Giám Pháp sư cũng vậy

Cung vua Đường giảng dạy nhiều năm

Đến khi tuổi hạc cao niên

438. Vọng về cố quận cố hương quay về

Thi hào Cổ Đảo dâng thơ tặng:

"Tống An Nam Duy Giám Pháp sư"

Ngài về, sao nỡ, thật ư

442. Tình quê cố quận Ngài ơi thì về

Chỉ chừng đó nghiêng thành đổ nước

Chỉ ngần đó nghiêng nước đổ thành

Về sau bao bậc tinh anh

446. Thêm trang kiệt xuất sử xanh vang lừng.

Thiền phái thứ hai tại VN

Sơ Tổ VÔ NGÔN THÔNG

Thế kỷ thứ 9 và về sau

Rừng Tam Tạng chập chùng thăm thẳm

Núi Tôn Sư thâm thậm từ ân

Pháp mầu pháp vũ pháp vân

450. Rừng sâu sâu thẳm núi ngàn ngàn cao

Việt Nam Phật giáo vào trang sử

Phật giáo Việt Nam kết đan thanh

Hàng hàng Pháp lữ đệ huynh

454. Lớp lớp Tứ chúng chân thành xiển dương

Tổ sư Vô Ngôn Thông tiếp mạch

Hệ phái thiền xuất cách thứ hai

Việt Nam trân trọng kính Ngài

458. Tài bồi nội lực kết đài Tào Khê

Ngài ngộ nhập Tổ sư Bách Trượng

Sang truyền trao chủ xướng nước ta

An trụ tại Chùa Kiến Sơ

462. Thuộc làng Phù Đổng tỉnh nhà Bắc Ninh

Chừng như vương bóng hình Đạt Mạ

Tức na ná Đạt Mạ Bồ Đề

Cửu niên diện bích nín khe

466. Ngài thì nhìn vách im re tháng ngày

Đã mấy năm trường Ngài vẫn thế

Chùa Kiến Sơ vẫn bặt âm thinh

Duy nhất chỉ ngài Cảm Thành

470. Nhận biết yếu chỉ ân cần phụng tri

Trải sáu năm đến thì quy nhất

Ngài truyền trao miên mật Cảm Thành

Đó là cũng chính Pháp danh

474. Gánh vác Nhị tổ Cảm Thành - Vô Ngôn

Vô Ngôn Thông là tôn là chỉ

Âm hưởng từ Bách Trượng Thanh Quy

Thâm sâu quy củ vô nghì

478. Thiền môn thanh tịnh tu trì nghiêm trang

Đó mới là đạo vàng siêu tuyệt

Là lời vàng ưu việt vô song

Mạng mạch mới chảy tuôn dòng

482. Tào Khê mới vững sạch trong thời thời

Từ Lục Tổ kết hồi Y Bát

Dụng tâm tâm ấn ấn truyền truyền

Tào Khê lan khắp mọi miền

486. Đông Tây Nam Bắc kiền thiền tín tri

Ngài Cảm Thành chờ Ngài lâu lắm

Quê Tiên Du thuộc tỉnh Bắc Ninh

Không ai biết họ biết tên

490. Xuất gia từ thuở đầu xanh, đợi Ngài

Nhiệm mầu thay vô tâm huệ chiếu

Cao quý thay vô ngã thường chơn

Huý Ngài vốn đã Vô Ngôn

494. Nên thông thông tuệ, nên chơn chơn thường

Ngài Thiện Hội vương vương chi lạ

Thờ Cảm Thành hơn cả mười năm

Một lòng một dạ nhất tâm

498. Không tăng không giảm không thêm không mòn

Thành Tam Tổ Vô Ngôn thiền phái

Và đơm hoa kết trái về sau

Mười lăm đời tiếp nối nhau

502. Ngàn năm in bóng con tàu Vô Ngôn.

ĐẤT NƯỚC ĐỘC LẬP THÁI BÌNH

Kết thúc 1,000 năm Bắc thuộc

Nhớ ơn Tổ quốc - khấu tạ tiền nhân

Đất nước reo giang sơn độc lập

Dân tộc thoát ngoại thuộc Bắc phương

Con tàu thống nhất quê hương

506. Kéo chung cả nước vui mừng hoan ca

Trận Bạch Đằng cừu thù quét sạch

Một ngàn năm Bắc thuộc tiêu ma

Ngô Quyền dựng lại triều ca

510. Dân tộc tái thiết nước nhà Việt Nam

Một ngàn năm vô vàn thống khổ

Một ngàn năm chồng chất đọa đày

Vậy mà sống được là may

514. Vậy mà thoát được, ơn dày hồn thiêng

Một ngàn năm tiền nhân nằm xuống

Mười thế kỷ xương máu chất chồng

Lựa là núi núi sông sông

518. Lựa là dòng giống Lạc Hồng ta ơi

May không bị đổi dời đồng hóa

May không bị biến thái tiêu vong

Hồn thiêng quyền quyện Tiên Rồng

522. Linh linh hiển hiển non sông nước này

Từ đó đến ngàn sau mãi gọi

Tiếng Việt Nam tiếng nói muôn đời

Dân Việt Nam sống thiên thu

526. Nước Việt Nam như thái hư vĩnh hằng

Thắp tâm hương dâng hồn sông núi

Xin chắp tay khấu tạ tiền nhân

Đội ân cao cả vô ngần

530. Nhờ ân liệt Tổ liệt Tông mới còn

Đất nước còn là còn tất cả

Đất nước mất tất cả tiêu ma

À ơi quốc quốc gia gia

534. À ơi non nước cửa nhà Việt Nam

Không được quên ngàn năm Bắc thuộc

Không được quên Pháp thuộc trăm năm

Hăm mốt năm lắm đoạn trường

538. Đừng gieo rắc nữa quê hương của mình

Cùng tất cả cháu con Hồng Lạc

Cùng tất cả con cháu Rồng Tiên

Đất nước trên hết đừng quên

542. Dân tộc trên hết đáp đền dựng xây

Dân tộc và Phật giáo

Phật giáo và Dân tộc

"Mình với ta tuy hai mà một

Ta với mình tuy một mà hai"

Năm ngàn năm không đổi thay

546. Hai ngàn năm cả đêm ngày có nhau

Mỗi khổ đau khổ đau chung một

Mỗi hạnh phúc hạnh phúc không rời

Dân tộc vui, Phật giáo vui

550. Phật giáo khổ, dân tộc vui bao giờ

Gắn liền nhau như tơ kết sợi

Luôn có nhau như sợi kết tơ

Kể từ mở nước dựng cờ

554. Trải dài lịch sử như tờ giấy in

Hiện hữu nhau như hình với bóng

Có mặt nhau như bóng với hình

Dân tộc vinh, Phật giáo vinh

558. Phật giáo nhục, dân tộc vinh đâu nào

Lìa Phật giáo, thảo nào dân tộc

Lìa Dân tộc, Phật giáo sao cam

Mới gọi Phật giáo Việt Nam

562. Sống cùng Dân tộc Việt Nam của mình

Hiện hữu nhau thiên hình vạn trạng

Quyền quyện nhau muôn vẻ muôn màu

Nhắm mắt đã biết thương nhau

566. Mở mắt thương nữa nói sao bây giờ

Vốn đã vậy kể từ nguồn cội

Từ ngàn xưa cho tới ngàn sau

Chung nhau trên một con tàu

570. Như hương nếp một như cau đầu mùa

Thực thể ấy không mua không bán

Hiện hữu ấy không bán không mua

Thời gian tự có bốn mùa

574. Không gian một thể thiếu thừa gì đâu

Ca hát mãi bài ca Dân tộc

Và hát cùng Phật giáo Việt Nam

Vọng vang khắp Bắc Trung Nam

578. Không gian bất biến thời gian vô cùng.

PHẬT GIÁO VIỆT NAM

TRIỀU ĐẠI NHÀ ĐINH

12 năm thế kỷ 10 (968-980)

Kính nhớ triều Ngô Quyền tưởng nguyện

Trông đổ nát ngàn năm xéo giày

Nhìn trông tay trắng bàn tay

582. Người dân tay trắng trắng tay thôi mà

Nên lặng nhìn triều ca trống rỗng

Và lặng nhìn cả nước trống trơn

Ôm nhau mà nói mất còn

586. Thương nhau mà sống thiệt hơn bằng thừa

Ngô Quyền mất con chưa kịp lớn

Hai anh em mái tóc còn xanh

"Vua, tôi", hai tiếng mới toanh

590. Hoàng tuyền xuống sớm đoạn đành biết sao

Nhưng vận nước nhờ Ngô Vương vậy

Mới thoát được ách nạn ngàn năm

Nếu không mưa vũ mây vần

594. Biết đâu vận nước nổi chìm vận non

Ba cha con nằm yên ngơi nghỉ

Bao dân quân chín suối nghỉ ngơi

Nước non trao tặng nụ cười

598. Giang sơn trao lại cho người đi sau.

Trẻ chăn trâu cờ lau tập trận

Đã đứng lên dẹp loạn Sứ Quân

Mở ra triều đại nhà Đinh

602. Nước Đại Cồ Việt vua Đinh Tiên Hoàng

Lại tái thiết kiện toàn triều chính

Kinh đô Hoa Lư tỉnh Ninh Bình

Phật giáo chấn chỉnh quang minh

606. Đơm hoa kết trái vươn mình khắp nơi

Vua phong chức Thái sư Khuông Việt

Ngài Ma Ni, Tăng Lục được ban

Tăng già phẩm vị rõ ràng

610. Từ đây Phật giáo mở trang định bày

Đinh Tiên Hoàng về Tây khá sớm

Đinh Phế Đế sáu tuổi làm gì

Nhà Đinh cuốn chiếu ra đi

614. Cờ lau - Bộ Lĩnh ru hời cờ lau.

PHẬT GIÁO VIỆT NAM

TRIỀU ĐẠI TIỀN LÊ

29 năm thế kỷ 10 & 11 (980-1009)

Tướng Lê Hoàn thôi thời phải thế

Thay nhà Đinh chuyển thể nhà Lê

Giữ nguyên định chế đề huề

618. Cho non với nước vẹn thề nước non

Ngài Khuông Việt vẫn ngôi Tăng Thống

Để giữ yên thế đạo nhân tâm

Lê Đại Hành lại sớm băng

622. Các con giành giựt, ngậm tăm suối vàng

Ba ngày Vua Trung Tôn ngắn ngủi

Lê Long Đĩnh biến thái Ngọa Triều

Ngọa Triều nên quá trớ trêu

626. Mực đen ghi đậm rong rêu khó mờ

Đời Nhà Ngô lướt qua quá ngắn

Đời Nhà Đinh cũng ngắn không dài

Nhà Tiền Lê sớm một mai

630. Bảy mươi năm bóng tuyền đài phất phơ

Phật giáo vẫn trơ trơ tuế nguyệt

Dân tộc vẫn tuế nguyệt trơ trơ

Chính là khế lý khế cơ

634. Băng qua thời thế vượt bờ lợi danh

Danh với lợi đeo cành rơi rụng

Địa với vị treo mủng tròng trành

Lên thì tột đỉnh trời xanh

638. Xuống thì xơ xác tơ mành vậy thôi

Muôn năm, núi vọng đồi là thế

Vạn năm, đồi vọng núi lung linh

Thành kia nhìn quách vặn mình

642. Kinh qua triều đại về thành cổ xưa

Làm dân hết thì đâu có được

Làm vua hết thì vua với ai

Đã an đã định đã bài

646. Phần ai phận nấy đổ ai chi nào

Ngàn năm vẫn là sao chi chít

Muôn năm vẫn trăng tít lưng trời

Trăng sao dù có chơi vơi

650. Không ai thay thế đổi dời trăng sao

Thời xưa khác thời nay không nhỉ

Hai chữ xưa nay đã khác rồi

Không nên hỏi đáp xa xôi

654. Mỗi thời mỗi khắc khác rồi, thế a.

PHẬT GIÁO VIỆT NAM

TRIỀU ĐẠI LÝ - TRẦN

390 năm thế kỷ 11,12,13&14 (1010-1400)

Đây là thời nước nhà thịnh trị

Đây là thời tổ quốc khinh an

Cái thời đẹp nhất Việt Nam

658. Toàn dân cả nước hân hoan thái hòa

Bốn trăm năm sơn hà vĩnh chấn

Bốn thế kỷ nguy biến thành an

Cơ chừng hội tụ vẹn toàn

662. Hơn châu nạm ngọc hơn son thếp vàng

Bậc kiệt thế hàng hàng xuất hiện

Bậc tuyệt kỳ không hẹn đồng sanh

Vua, quan, tướng, sĩ tới dân

666. Tài, đức, văn, võ lượng phần hiển sinh

Ngoài, dẹp yên chiến chinh xâm lược

Lại mở mang rộng nước thêm nhà

Trong, hòa tiếng hát câu ca

670. Quê hương đẹp quá một nhà Việt Nam

Phật giáo cũng nạm vàng trang sử

Bao nhiêu bậc thượng trí thượng thừa

Vinh danh cũng chẳng ăn thua

674. Tán thán chẳng khác người mù rờ voi

Xin mạn phép gương soi nho nhỏ

Xin được trông cho thỏa chút nào

Ngước nhìn vời vợi trăng sao

678. Đã mòn mỏi cổ đếm sao sao trời

Chữ nghĩa đâu đủ lời diễn đạt

Bút mực đâu đủ sức nhả châu

Xin moi cùng tận cái đầu

682. May lòi vài chữ đôi câu chí thành

Một Vạn Hạnh nêu danh đã khiếp

Một Pháp Thuận xưng hiệu đã rêm

Con đom đóm nhỏ làm đèn

686. Trong khung cửa hẹp vén rèm không trung

Chư vị Tổ thiền phái đồng hiện

Chư Thượng sĩ thạc đức hiển danh

Tỳ Ni - Vô Ngôn song hành

690. Trượng phu Long, Tượng "Trường Thành Thánh Nhan"

Sử đẹp quá không cần vàng chạm

Châu đẹp quá óng ánh rạng ngời

Bốn thế kỷ thật tuyệt vời

694. Bốn trăm năm không còn lời diễn ca.

Thiền phái thứ ba tại VN

Sơ Tổ THẢO ĐƯỜNG

Thế kỷ thứ 11 tiếp nối về sau

Lội thời gian ngược về quá khứ

Nhớ chuyện ngài Thần Tú xa xưa

Một bậc thượng túc đâu vừa

698. Bài kệ bị sửa rụng rời tay chân

Chư Tổ sư thứ năm thứ sáu

Ngũ với lục xin gác đi qua

Giờ quay trở lại trong nhà

702. Nhìn xem chuyện của nước ta thử nào

Hình như cũng hao hao thế ấy

Vị Tăng Lục đi vắng đâu về

Bản "Ngữ lục" sửa bét be

706. Thất kinh run sợ rụt rè tâu Vua

Trong tù binh vừa thua trận ấy

Từ Chiêm Thành mới bắt về đây

Chính tù binh đó chứ ai

710. Liền truyền đưa tới bệ đài triều ca

Mọi ứng đối tuyệt cao tuyệt xảo

Mọi hỏi đáp tuyệt áo tuyệt uyên

Vua - tôi vội bước xuống liền

714. Tôn vinh phủ phục đại danh Thảo Đường

Đất Kinh đô Thăng Long Hà Nội

Lý Thánh Tôn phong sắc Quốc Sư

Chùa Khai Quốc, thỉnh ngự tòa

718. Việt Nam Phật giáo trượng thừa Thánh nhân

Phái Thảo Đường khai ân tế độ

Vua Thánh Tôn thọ giáo đầu tiên

Quan dân văn võ nối liền

722. Tam môn khai thị dòng thiền thứ ba

Phật giáo ta ba cây hoa nở

Đạo từ bi giải thoát tỏa hương

Thôn quê thành thị phố phường

726. Lan đi thơm ngát nẻo đường Việt Nam.

Thiền phái của Phật giáo Việt Nam

Đại Thánh Trần triều Đầu đà Nhân Tông

Sơ Tổ Trúc Lâm Giác Hoàng Điều Ngự

Vua, ngự tọa cửu trùng tột đỉnh

Vua, tột cùng quyền bính ngai vàng

Cái ngôi Thiên tử trần gian

730. Thượng lên ngất ngưởng băng hàn không buông

Vua, địa vị nhất trên dương thế

Vua, trên đầu thiên hạ thần dân

Bức tranh kim cổ phù vân

734. Thành nghiêng quách đổ bệ vàng xưa nay

Vua, đã lọt vào tay thì nắm

Vua, khi chết nhắm mắt chưa yên

Tiếc ngôi bệ ngọc kim tiền

738. Cung phi mỹ nữ vương quyền cân đai

Lịch sử khắp Đông Tây Nam Bắc

Đủ màu da đen trắng đỏ vàng

Tranh giành sống chết đeo mang

742. Chưa ai bước xuống dở dang nửa chừng

Vậy mà Trần Nhân Tông Đại Việt

Đã làm chuyện có một không hai

Mấy lần không muốn lên ngai

746. Mấy lần trao lại an bài cho con

Ngài chỉ muốn nằm non gối tuyết

Ngài chỉ muốn phớt núi phất trời

Học đạo giải thoát cứu đời

750. Đạt chơn ngộ tánh xa rời trầm luân

Lại được gặp Tuệ Trung Thượng Sĩ

Riêng trong Ngài vốn đã thiên tư

Chơn thân tự tại Tổ sư

754. Chơn thể Hiền Thánh hữu dư thượng thừa

Ngồi đâu cũng là vua thiên hạ

Sống đâu cũng có Phật trong tâm

Hiển nhiên sơ Tổ Trúc Lâm

758. Tại núi Yên Tử xanh lam bốn mùa

Tự bổn tâm đạt chơn dứt vọng

Tự bổn tánh thực chứng Bồ đề

Như như, như thể Tào Khê

762. Hiển nhiên như thể Phụ Từ Thích Ca

Hương Vân Đại Đầu Đà Yên Tử

Phật Hoàng Điều Ngự Trần Nhân Tông

Trúc Lâm thiền phái Việt Nam

766. Thiền phái nguyên vẹn Việt Nam của mình

Kính vọng bái Trúc Lâm sơ Sổ

Kính đảnh lễ Nhị Tổ Pháp Loa

Tam Tổ Huyền Quang tôn thờ

770. Việt Nam Phật giáo sáng lòa đạo thiêng

Liệt liệt Tổ ban ân thí đức

Liệt liệt Tôn phổ chiếu từ quang

Việt Nam thấm nhuận đạo vàng

774. Tăng Ni hậu bối đăng đàn truyền lưu

Bát Niết bàn Vô dư thường trụ

Bát Niết bàn hằng hiện Hữu dư

Ta bà hồi nhập độ sinh

778. Chúng sanh cửu hữu hàm linh độ đời.

PHẬT GIÁO và DÂN TỘC

14 năm đại nạn thuộc Minh

Hỡi cừu thù Trung Hoa phương Bắc

Việt Nam ta không thuở nào yên

Một ngàn năm sạch oan khiên

782. Lại nuôi cái mộng bá quyền xâm lăng

Hết nhà Tống, nhà Nguyên bạo ngược

Thì nhà Minh xâm lược dã man

Mười bốn năm luống bẽ bàng

786. Quơ sạch của báu hốt mang tha về

Còn sử sách ê chề biết mấy

Hốt, quét, thui, đốt cháy bụi tro

Đại Hán, đại tráo, đại trơ

790. Thời xưa hung bạo, hiện giờ bạo hung

Luôn khuấy động từng vùng chiếm hữu

Luôn bạo xưng tiếm thế tiếm danh

Không trung, biển cả, đất liền

794. Nơi nơi chốn chốn không yên chỗ nào

Liên Hiệp Quốc ngươi gào ngươi thét

Án Quốc Tế ngươi chống ngươi chèo

Thời nay còn kỳ còn kèo

798. Thời xưa mặc thị Tàu phù Tàu điêu

Thời thuộc Minh quẹo xiêu bao ải

May anh hùng Áo vải Lam Sơn

May nhờ Nguyễn Trãi tiên sinh

802. Bình Ngô Đại Cáo, thuộc Minh tiêu tùng

Dân tộc ta sống còn đứng dậy

Phật giáo ta đỡ gậy nương lên

Nếu không chìm ngập đảo điên

806. Sức cùng lực kiệt khơi đèn trắng đêm.

PHẬT GIÁO VIỆT NAM

100 năm nhà Hậu Lê (1428-1527)

Qua rồi thời Lý - Trần hoàng đạo

Qua rồi thời uyên áo thượng thừa

Hậu Trần níu kéo dây dưa

810. Hậu Lê tàn hại mứa bừa thêm thôi

Núi còn lở nay loang mai lổ

Sông còn vùi bãi đục phù sa

Tự nhiên như thế vậy mà

814. Biết thì tự tại, ta bà phiêu du

Nếu không hiểu ao tù đày đọa

Nếu không tường vò võ vô minh

Tứ Thánh - lục phàm chúng sinh

818. Nghìn trùng xa cách thinh thinh điểm này

Một trăm năm nào ai với oán

Một thế kỷ nào chứng nào minh

Không cần tra cứu nghiên tầm

822. Không cần chìm nổi phù vân cuối chiều

Bóng hoàng hôn tịch liêu gác núi

Cánh nhạn bay gần khuất xa mờ

Đừng nằm đắp mộng ru mơ

826. Vò đầu bóp trán vật vờ hồn mê

Phật giáo cuối Triều Trần xuống dốc

Qua Triều Lê bệ rạc bê tha

Cao Tăng ít xuất hiện ra

830. Thạc đức dần vắng nên phà vướng "Truông"

Trong thiền môn tiếng chuông vang nhỏ

Tiếng kệ kinh tiếng mõ dần thưa

Chuyến xe chuyên chở Ba Thừa

834. Giảm đi sức cuốn thượng thừa vô song

Ngoài dân gian bị dòng nước đục

Bị nhiễm lây tả đạo phường tà

Phiếm phù trào lộng quỷ ma

838. Dị đoan mê tín đẫy đà bung xung

Cuốn lôi những trăm năm có lẽ

Cũng đúng thôi đã có câu rằng:

"Phật cao một thước" nhớ chăng

842. "Ma cao một trượng" chớ thường dễ duôi

Tự nhiên thôi tùy thời tùy lúc

Tổ Đạt Ma diện bích cửu niên

Đức Lục Tổ bỏ đi liền

846. Nhận chân mới thấu cửa thiền Phật gia

Nhân nơi đây trích ra câu kệ

Vào đời Lý - Vạn Hạnh thiền sư

Không thêm một chữ bị dư

850. Không thiếu một chữ bị hư diệu kỳ

"Thân như điện ảnh hữu hoàn vô

Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô

Nhậm vận thạnh suy vô bố úy

Thạnh suy như lộ thảo đầu phô".

"Thân như bóng chớp chiều tà

Cỏ cây xuân thắm thu qua rụng rời

Sá chi suy thạnh việc đời

Thạnh suy như hạt sương rơi đầu cành".

Đạo Phật vốn thinh thinh tuyệt tuyệt

Phật lý vốn diệu diệu minh minh

Nói như không nói: Vô thinh

854. Sắc không không sắc: Bặt hình thường chơn

Thiền sư Mãn Giác lưu kệ, rằng:

"Xuân khứ bách hoa lạc

Xuân đáo bách hoa khai

Sự trục nhãn tiền quá

Lão tùng đầu thượng lai

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận

Đình tiền tạc dạ nhất chi mai".

"Xuân đi trăm cánh hoa rơi

Xuân về hoa lại gặp thời nở hoa

Sự đời thấm thoát trôi qua

Sờ trên mái tóc sương pha kết đầu

Xuân tàn hoa rụng nơi đâu

Cành mai trước ngõ vẫn còn trổ bông".

Nhân nơi đây cũng xin nhắc câu

Ngài Thiện Hoa thế kỷ hai mươi

Viện trưởng Hóa đạo một thời

858. Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất

"Ba rừng giáo lý còn lưu lại

Cho đến bây giờ vẫn trắng tay

Trăng khuyết vì mây chưa vén trọn

Hay trăng còn đợi bóng đêm dài".

Tự nhận chân Phật đà huyền diệu

Tự nhận chân Phật lý uyên thâm

Y kinh giải nghĩa Phật oan

862. Lìa kinh một chữ chính toàn là ma

Trăng thì có trăng tà trăng khuyết

Nhật thì có nắng sớm hoàng hôn

Đạo Phật mà hỏi: mất, còn

866. Vô chung vô thỉ rợn hồn: Vô minh

Hoằng Phật đạo khi vinh khi nhục

Chuyển pháp luân khi thịnh khi suy

Khen chê đào xới: Cười khì

870. Dèm pha biếm nhẽ: Bách, Tùng xanh xanh

Xin khép lại trăm năm một thoáng

Sương tinh mơ bóng chớp chiều tà

Chi mai hằng hữu trổ hoa

874. Như ngài Ca Diếp nhìn hoa mỉm cười.

PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Thời đại Nam - Bắc triều;

Trịnh - Nguyễn phân tranh

Thế kỷ 16 đến thế kỷ 19 (1528-1802)

PHÁI TÀO ĐỘNG

Sơ Tổ Tri Giác Nhất Cú

Thiền sư Nhất Cú người phương Bắc

Hội tụ nhân duyên đến nước ta

Pháp phái Tào Động mở ra

878. Thế kỷ mười sáu trổ hoa quê mình

Đại thánh giác từ ngài Đạt Mạ

Sơ Tổ Bồ Đề thuở nhà Lương

Ngàn rưỡi năm tỏa muôn phương

882. Nay trải hương sắc nẻo đường quê ta

Ngài truyền lại cho ngài Thủy Nguyệt

Ngài Tôn Diễn thừa tiếp nối nhau

Chùa Hòa Giai đượm sắc màu

886. Hàm Long, Trấn Quốc hương cau thơm lành

Đến hôm nay vương cành tỏa bóng

Phật giáo mình đồng thoảng lan đi

Góp phần chuyển đạo từ bi

890. Xiển dương chấn tích cũng vì độ sanh.

PHÁI LIÊN TÔN (gốc LÂM TẾ)

Tổ Lân Giác & Tổ Nguyệt Quang

Thế kỷ mười bảy bông hoa đẹp

Phái Liên Tôn hòa nhịp tươi cành

Hai thiền sư của Việt Nam

894. Cùng là huynh đệ hiệp thành dựng xây

Thăng Long Hà Hội, ngài Lân Giác

Lập tại chùa Liên Phái, Bạch Mai

Truyền lưu từ đó đến nay

898. Hương thơm lan tỏa đêm ngày thành đô

Ngài Nguyệt Quang lập chùa Nguyệt Quang

Tọa lạc tại Kiến An hiện thời

Cùng một chi phái tuyệt vời

902. Tháng năm hiện hữu đâm chồi tốt tươi

Còn Sư ông vốn người phương Bắc

Phái Lâm Giác - Lâm Tế, Bạch Mai

Từ Ngài tỏa bóng lan dài

906. Ngày xưa gieo hạt ngày mai vun trồng

Và sau đó Thiền sư Hương Hải

Đang trụ núi Quy Cảnh, Đàn Trong

Đạo pháp tùy thuận nhân duyên

910. Nên Ngài giã biệt kết tương Đàn Ngoài

Ngài lưu lại pháp âm bất tuyệt

Là bốn câu lưu xuất muôn đời

Xin ghi nguyên vẹn từng từ

914. Vốn trong sử sách đã lưu quá nhiều:

"Nhạn quá trường không

Ảnh trầm hàn thủy

Nhạn vô di tích chi ý

Thủy vô lưu ảnh chi tâm"

"Trường không nhạn thoáng bay qua

Bóng in dưới nước la đà bèo mây

Chim đâu có ý niệm này

918. Nước lung linh nước nào hay bóng hình". (MG dịch)

Hết duyên, Ngài rời Nam ra Bắc

Một khi đi biền biệt tăm ngàn

Vô lưu vô tích chi tâm

922. Nhưng nay đâu cũng nhớ ân của Ngài.

PHÁI NGUYÊN THIỀU

Sơ Tổ Nguyên Thiều

Ngài sinh tại Triều Châu, họ Tạ

Tỉnh Quảng Đông gốc cũ Việt Nam

Mười chín tuổi cắt tóc xanh

926. Trên đường Tổ nghiệp xây thành Thiền gia

Ngài thuộc đời ba ba Lâm Tế

Đến nước ta sơ Tổ Trung - Nam

Xây chùa Thập Tháp đầu tiên

930. Tỉnh Bình Định quận An Nhơn bấy giờ

Rồi ra Huế dựng nền Phật giáo

Như cái nôi Phật giáo Kinh đô

Liền lập ngôi chùa Quốc Ân

934. Chùa Hà Trung, vững cơ đồ từ đây

Tháp Phổ Đồng, tháng năm nghiêm phụng

Nằm sát chân núi Bân địa linh

Cơ chừng vùng đất Thần Kinh

938. Vấn vương cổ kính tự tình Cố Đô

Hạnh nguyện lớn ra vô xuôi ngược

Đại tâm nguyền rượt đuổi thời gian

Khi thì kiến lập Giới đàn

942. Khi thì chấn tích quang lâm xa gần

Bước chân Ngài vào Nam sớm nhất?

Tận Biên Hòa vùng đất Đồng Nai?

Quốc An Kim Cang sơn khai?

946. Nơi đây Ngài trụ đến ngày Tây quy?

Tám mốt năm đó là thế thọ

Sáu hai năm tuổi Đạo một đời

Sinh, thời gá tạm xứ người

950. Tịch, thời tứ đại gởi người Việt Nam

Suốt cuộc đời phụng vì Đạo pháp

Suốt cuộc đời vị Pháp dấn thân

Bình Định, Thuận Hóa, Miền Nam

954. Ba dòng Pháp phái hàm ân khôn lường

Lạy sơ Tổ nghiêm đường mẫn cố

Tháp phụng thờ hương khói bay bay

Kim Cang tháp Tổ, Đồng Nai?

958. Hóa Môn tháp Tổ, Linh Đài cố Đô

Cả hai nơi đều ghi Ngài hóa

Cả hai nơi thiết lễ Hậu phần

Trà tỳ, linh cốt, kim quan

962. Nhập tháp, tế tự, pháp đàn tôn nghiêm

Trước khi đi Ngài dạy:

"Tịch tịch kỉnh vô ảnh

Minh minh châu bất dung

Đường đường vật phi vật

Liêu liêu không vật không"

"Lặng lẽ gương không chiếu bóng

Sáng trưng ngọc chẳng thâu hình

Rõ ràng vật không phải vật

Mênh mông không chẳng là không". (Ngài Nhất Hạnh dịch)

Hai tháp Tổ đồng phụng đồng kính

Linh cốt hai nơi không chẳng không

Ô hay cát bụi mờ sương

966. Vật không không vật, gương gương chi nào!

PHÁI MINH HẢI PHÁP BẢO

Sơ Tổ Minh Hải

Ngài thế danh là Lương Thế Ân

Sinh tỉnh Phúc Kiến làng Thiệu An

Mới vừa tròn chín tuổi xanh

970. Xuất gia tu học tựu thành Tổ sư

Thuộc đời thứ ba tư Lâm Tế

Kết nhân duyên Phật giáo Miền Trung

Tại Đại giới đàn Thiền Lâm

974. Tam sư Thất chứng đạo tràng tôn nghiêm

Ngài là một chư Tôn túc đó

Khi hoàn mãn trở gót quy hương

Cù lao Chàm phủ mù sương

978. Sóng to gió lớn cản đường về quê

Ngài quay lại Hội An dừng nghỉ

Chính mật cơ ý chỉ vô nghì

Nhiệm mầu Phật pháp huyền vi

982. Như như thị thị vô suy luận bàn

Hễ có nhân thì duyên tích tụ

Hễ có căn thì gốc sẵn rồi

Nhân duyên kết nụ đâm chồi

986. Gốc sâu trụ vững thời thời vĩnh nhiên

Chùa Chúc Thánh khai sơn chấn tích

Một dòng thiền thừa tiếp đến nay

Minh Hải - Chúc Thánh là đây

990. Hội An phố cổ đẹp thay đạo vàng

Năm mươi năm công thành quả mãn

Năm mươi năm hành trạng châu viên

Dặn dò phú chúc di ngôn

994. An nhiên thị tịch, Tử Tôn truyền thừa

Mỗi hàng năm giỗ Tổ Chúc Thánh

Muôn cánh chim vỗ cánh bay về

Linh sơn Pháp lữ đề huề

998. Tâm tâm niệm niệm phụng thờ ngưỡng tôn.

PHÁI LIỄU QUÁN

Sơ Tổ Liễu Quán

Ngài họ Lê huý là Thiệt Diệu

Sông Cầu, làng Đạo Mã, Phú Yên

Sáu tuổi khuất bóng mẹ hiền

1002. Vào chùa Hòa thượng Tế Viên tu hành

Bảy năm sau Bổn sư viên tịch

Ngài cầu đạo Lão Tổ Giác Phong

Chùa Báo Quốc, đất Thần kinh

1006. Năm sau cha yếu quy trình dưỡng nuôi

Ngày ngày kiếm củi đong cơm cháo

Đêm đêm hầu hạ cha ốm đau

Bốn năm Phụ tử ru châu

1010. Đói no ấm lạnh báo hầu Từ thân

Cha lại lìa hồng trần theo mẹ

Sau cư tang ra Huế tu trì

Lại được thọ giới Sa-di

1014. Thạch Liêm đại thụ danh Sư bấy giờ

Ngài Từ Lâm cho thụ Đại giới

Ngài Tử Dung dưỡng giáo thâm uyên

Rũ tâm tắm gội cửa Thiền

1018. Ngược dòng lặn hụp suối nguồn Tào Khê

Tám chín năm gần kề trước cửa

Cứ vào ra ngờ ngợ, biết đâu

Long Sơn cách trở nhịp cầu

1022. Nào dám tự tín, chờ hầu Tôn sư

Một ngày kia thầy trò hội ngộ

Phải bước ra bờ vỡ, buông tay

Ngất đi sống lại, ơ, này

1026. Miệng cười ha hả, chưa hay, chưa nhầm

Chuyện hôm qua chưa xong, nói lại

Đèn là lửa, cơm chín lâu rồi

Cùng nhìn, im lặng, thôi thôi

1030. Thiệt Diệu Liễu Quán lìa khơi tới bờ

Ngài Phật Hoàng Nhân Tông, thứ nhất

Ngài Liễu Quán cung bậc thứ hai

Tổ sư Phật giáo Việt Nam

1034. Hai dòng Thiền người Việt Nam vận hành

Cùng bao dòng tông môn pháp phái

Cùng bao bậc phát túc siêu phương

Việt Nam Phật giáo lên đường

1038. Thừa đương trên khắp quê hương của mình

Trang trải từ đầu non góc biển

Thấm nhuận đến thành thị thôn quê

Vùng gần vùng sâu vùng xa

1042. Vùng cao vùng thấp mọi nhà Việt Nam.

Nền tảng PHẬT GIÁO

Trên đất Phương Nam

Đi vào đất Phương Nam tổ quốc

Với lịch sử những bốn trăm năm

Thuở xưa mở nước khơi dòng

1046. Từ vùng châu thổ sông Hồng lan đi

Ngoài, các tỉnh địa đầu biên giới

Nam, Ái Châu cùng với Hoan Châu

Xứ Thanh - Nghệ - Tĩnh bây giờ

1050. Hai Châu Ô - Lý mở bờ xuôi Nam

Lần tới Gia Định Thành thẳng tắp

Đất Nam Kỳ - Lục Tỉnh đẹp xinh

Cà Mau, Rạch Giá, Hà Tiên

1054. Vịnh Thái Lan tiếp giáp liền nước ta

"Đây Sài Gòn đây Thủ Đô Nước Việt

Trái tim chung của Dân tộc anh hùng

Đời đang lên bao hứa hẹn trẻ trung

Bốn trăm tuổi bước đi vào lịch sử"

Phật giáo đã đi cùng dân tộc

Để vun bồi tắm gội thanh lương

Cùng đi xây đắp quê hương

1058. Cùng đi cho hết nẻo đường Việt Nam

Dấu chân chư Tôn sư đã đến

Chấn tích đã đặt tảng làm nền

Ươm mầm kết giống lớn lên

1062. Cây cao nhánh lớn vươn cành tốt tươi

Từ các dòng thiền chư sơ Tổ

Ngài Nguyên Thiều, Minh Hải ấn tâm

Cùng ngài Liễu Quán hàm ân

1066. Và một số nữa Phương Nam rạng ngời

Những chùa cổ chùa xưa lưu tích

Những danh lam thắng cảnh khắc ghi

Trông qua biết mấy tư nghì

1070. Phát huy tô thắm bảo trì ân xưa

Ngắm bao cổ Tự dầm mưa nắng

Nhìn bao cổ Tháp dãi gió sương

Xa xa vang vọng chuông ngân

1074. Gần gần tiếng mõ câu kinh thăng trầm

Sinh hoạt chốn thiền môn là vậy

Sức sống Tăng tín đồ thế thôi

Thời gian gõ nhịp con thoi

1078. Không gian rộng hẹp hôm mai tháng ngày.

PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Triều đại nhà Nguyễn (1802-1945)

Kết thúc Vua Chúa cuối cùng ở nước ta

Ba trăm năm dập vùi gió bụi

Ba trăm năm khói lửa điêu linh

Thời Lê Chiêu Thống, thất kinh

1082. Nước ta, Chiêu Thống rước voi về dày

May nhờ có Tây Sơn tam kiệt

Nhạc - Huệ - Lữ xuất hiện kịp thời

Bình Bắc, quét sạch Lê rồi

1086. Chinh Nam thống lãnh yên bờ phía Nam

Con voi đó - Mãn Thanh mượn cớ

Kéo đại binh ập phủ nước ta

Nguyễn Huệ tức khắc xưng Vua

1090. Để cứu đất nước thoát ra họa này

Tài thao lược xưa nay hiếm có

Sức binh nhung thật quá phi thường

Bảy ngày yên ngựa mạnh cương

1094. Đống Đa một trận tiêu tùng giặc Thanh

Tiếc Triều Nguyễn Tây Sơn quá ngắn

Vua Quang Trung đã sớm băng hà

Hơn ba trăm năm can qua

1098. Bốn năm chưa nóng Triều ca ca gì

Quân Nguyễn Ánh tức thì nổi dậy

Mười hai năm tiêu diệt Tây Sơn

Mở ra Triều Nguyễn Gia Long

1102. Một thế kỷ rưỡi long đong nước nhà

Và thiết lập Kinh đô tại Huế

Được cái công thống nhất giang san

Đặt tên nước là Việt Nam

1106. Nhưng dây với nhợ đại lầm đại nguy

Đại lầm đó, trăm năm Pháp thuộc

Đại nguy đó, trăm năm Thực dân

Phong đâu mà nói chi trần

1110. Còn chi mà nói hết lầm với than

Cho đến khi Thực dân biến mất

Nhưng đại nạn hậu hoạn nặng nề

Đó là cái nạn "Ba Kỳ"

1114. Dân tộc hễ nhắc chữ "Kỳ" tét "Ba"

Phật giáo, thoáng nhìn qua yên vậy

Nhưng thật ra chẳng ổn yên gì

Đã bị ảnh hưởng suy vi

1118. Trăm năm lệ thuộc vết tì ngấm sâu

Nạn thống trị ngập đầu cả nước

Nạn "Ba Kỳ" vi trùng lân la

Một nước mà ba quốc gia

1122. Cùng một dân tộc biến ra "Ba Kỳ"

"Gót danh lợi bùn pha sắc xám

Mặt phong trần nắng nám mùi dâu"

Cái nạn Pháp thuộc quá đau

1126. Cái nạn ăn bám ê đầu nhức xương

Chùa chiền bị bứng ngang đổi chủ

Chuông ngân lại đổ tiếng khác rung

Dân gian tin Cốt tin Đồng

1130. Thần linh, bùa ngải, mã vàng lên hương

Sự mê tín bương bương trào lộng

Sự dị đoan khuấy động ngập tràn

Tường thành yếm thế bi quan

1134. Cấu thành thụ động kéo màn yên thân

Trùm mền, miễn có ăn có mặc

Đắp chiếu, miễn vinh thân phì gia

Chính là căn bịnh trầm kha

1138. Ngoài đời trong đạo chìm phà đớn đau

Bóng thời gian ngày lên đêm xuống

Bóng không gian lồng lộng thênh thang

Tiếng chuông không muốn ngân vang

1142. Tiếng mõ cũng chỉ khàn khàn khua khua

Đó là nguyên, tại sao hưng chấn

Đó là lý, tại sao chấn hưng

Đến đây xin được tạm ngưng

1146. Muốn nhìn dấu sử thì lần trang sau.

PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Thế kỷ 20 đến cận đại

Hậu họa khôn lường

Trải dài một ngàn năm Bắc thuộc

Ba trăm năm nội chiến tương tàn

Trăm năm Pháp thuộc tan hoang

1150. "Ba Kỳ" cái nạn gánh quàng phân ly

Hậu họa ấy cực kỳ tác hại

Hại triền miên dai dẳng khôn lường

Nhân tâm ngán ngẫm chán chường

1154. Thế sự giành giựt nhiễu nhương rã rời

Đời đã thế Đạo thời cũng thế

Ảnh hưởng lây phân liệt cũng lây

Lại còn mê tín lên mây

1158. Dị đoan xuống hố đu dây kết bè

Qua lịch sử biết bao bài học

Bài học nào cũng máu cũng xương

Anh em giày xéo nát tương

1162. Nồi da xáo thịt tang thương vô vàn

Gà một mẹ bao lần bôi mặt

Đấm đá nhau chết chóc tơi bời

Hơn thua từng tiếng từng lời

1166. Tranh nhau chỗ đứng chỗ ngồi miếng ăn

Loạn "Mười hai Sứ quân" chưa đủ

Nam - Bắc Triều là cái chi chi

Trịnh - Nguyễn là cái gì gì

1170. Ngoại thuộc biến mất "Ba Kỳ" còn nguyên

"Đóng cửa dạy nhau" ông cha dạy

Đàn con cháu khuyên bảo thế nào

Ngẫm đi thương giọt máu đào

1174. Nhớ đi mà gọi bầu ơi bí cùng

Cùng một bọc "đồng bào" đẹp quá

Chỉ Việt Nam xuất cách tuyệt siêu

Rồng Tiên con cháu yêu kiều

1178. Lạc Hồng ơi hỡi nhiễu điều giá gương.

Năm mươi năm

Chấn hưng Phật giáo

Năm mươi năm chấn hưng Phật giáo

Năm mươi năm Phật giáo chấn hưng

Chấn hưng khắp Bắc Nam Trung

1182. Khắp Trung Nam Bắc cùng chung một lòng

Năm mươi năm chấn hưng Phật giáo

Năm mươi năm Phật giáo chấn hưng

Chấn hưng quy củ thiền môn

1186. Chấn hưng pháp phái tông môn đẹp lòng

Chư Thạch Trụ lê chân mỏi gối

Chư Long Tượng kết nối tâm đan

Tôn dung Thượng sĩ xuất trần

1190. Đức hạnh Thích tử siêu phàm tinh anh

Bắc, quý cụ Thanh Hanh, Bằng Sở,...

Trung, quý Ôn Phước Huệ, Giác Tiên,...

Nam, ngài Khánh Hòa, Khánh Anh,...

1194. Và bao nhiêu bậc tuyệt luân thượng thừa

Hãy hòa hợp tương dung tương kính

Hãy hiệp lực dìu dắt bắt tay

Chấn hưng cải biến đắp xây

1198. Dụng toàn tâm lực miệt mài mới xong

Đồng thỏa thuận tán thành đã khó

Đồng dấn thân phụng sự khó hơn

Phải keo đem kết với sơn

1202. Chung tay chung sức chung lòng dễ đâu

Cái gì chấn một lòng phải chấn

Cái gì hưng một dạ phải hưng

Dẫu cho lên núi bắt còng

1206. Xuống sông tát biển bảo toàn nguyên siêu

Chấn, lọc lựa cho tiêu sạn đá

Hưng, kiên trì bảo vệ tinh hoa

Đâu là bông đâu là hoa

1210. Cùng nhau xây dựng tòa nhà Như Lai

Đạo vì đời hy sinh phụng hiến

Đời vì đạo hỗ trợ phát huy

Chữ từ xung lực chữ bi

1214. Bạt khổ vi lạc tư nghì kiên trung

Ba tổ chức Tăng già hợp lực

Ba cơ cấu tín đồ đồng hành

Bắc Nam Trung cùng đăng trình

1218. Trung Nam Bắc cùng nhiệt tình kết tương

Năm mươi năm chấn hưng Phật giáo

Năm mươi năm Phật giáo chấn hưng

Núi kia mới tụ cùng rừng

1222. Nước kia mới chảy về sông một nhà.

TỔNG HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Đại hội thành lập: 6,7,8,9-5-1951 tại chùa Từ Đàm

Năm mươi năm chấn hưng Phật giáo

Năm mươi năm Phật giáo chấn hưng

Bất phân tỉnh thị miền vùng

1226. Đưa Phật giáo Bắc Nam Trung một nhà

"Lời Hiệu Triệu" ban ra như sấm

Khắp ba miền chấn động pháp âm

Thượng tuân hạ phục nhất tâm

1230. Bốn phương tám hướng đăng lâm tựu về

Ba tập thể Tăng già chấn tích

Ba tập thể cư sĩ lên đường

Từ Đàm kính kính thương thương

1234. Đồng nhau câu hội nghiêm tường quang minh

Đại hội thống nhất nghiêm nghiêm phục

Phật giáo Thống nhất nghiêm nghiêm tuân

Thống nhất Phật giáo Việt Nam

1238. Kế thừa lịch sử hai ngàn năm qua

Phật giáo sử mở ra kỳ tích

Phật giáo ta thống nhất một nhà

Đó là sự nghiệp Tăng già

1242. Tín đồ hỗ trợ kết đà dựng xây

Nhà Phật giáo Việt Nam như nhất

Nền Phật giáo Việt Nam nhất như

Trên đền ơn nặng Bổn sư

1246. Dưới cứu cửu hữu hàm dư tam đồ

Chùa Từ Đàm là hoa là lá

Thống nhất Phật giáo trổ lá hoa

Phật giáo Việt Nam chan hòa

1250. Bắc Nam Trung trỗi bài ca Phật kỳ

Cờ Phật giáo năm màu ngũ sắc

Chào Phật kỳ Phật giáo Việt Nam

Tung bay phất phới Bắc Nam

1254. Khắp Trung Nam Bắc ca vang dưới cờ

Xin phép nhìn qua Ban Chiêu Tập

Ngài Tịnh Khiết, Mật Ứng, Đạt Thanh

Ban vận động, quý tôn danh:

1258. Quý ngài Mật Nguyện, Tố Liên, Đạt Từ

Tiếp theo Ban Dự Thảo Điều Lệ

Chính hai ngài Tố Liên, Trí Quang

Phật giáo kết ngọc chạm vàng

1262. Ngôi nhà Phật giáo vững vàng sắt son

Đại diện của từng miền kính liễu

Bắc: Mật Ứng, Thanh Đoan, Tâm Châu,...

Trung: Ôn Tịnh Khiết, Trí Quang,...

1266. Nam: Ngài Đạt Thanh, Nhật Liên, Thiện Hòa,...

Tương ưng tương hợp còn chi thống

Tương hợp tương ưng, nhất, thế à

Thỉnh Ôn Tịnh Khiết ngự tòa

1270. Hội chủ Phật giáo nước nhà Việt Nam

Cùng phụng sự ngôi nhà Phật giáo

Cùng dấn thân Phật giáo Việt Nam

Khắp Trung Nam Bắc một lòng

1274. Tăng Ni Phật tử xa gần đắp xây

Đội công đức chư vị tiền bối

Truy tán ân thạch trụ thiền gia

Tựu thành Phật giáo một nhà

1278. Kết trang sử ngọc con nhà Như Lai

Nhà Phật giáo sắt son từ đó

Sức Phật giáo từ đó tinh anh

Trên thời đền đáp Tứ Ân

1282. Dưới thời cứu khổ hàm ân tam đồ

Đạo Phật là đạo mầu giải thoát

Đạo Phật là đạo lý từ bi

Cơ cơ cảm cảm tư nghì

1286. Chơn chơn diệu hữu cũng vì độ sanh.

PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Nguyên thủy - Nam tông

Thành lập hậu bán thế kỷ 20

Khi Đức Phật đang còn tại thế

Ngài cùng với tập thể Tăng đoàn

Quanh năm suốt tháng keo sơn

1290. Luôn luôn bên cạnh bước chân không rời

Khi Phật nhập Niết bàn tịch tịnh

Đạo Phật truyền hai hướng hai phương

Hướng Nam thì gọi Nam phương

1294. Hướng Bắc thì gọi Bắc phương vậy mà

Nước Việt Nam nhập theo hai hướng

Nhưng phong hóa phong tục nước ta

Bắc tông duyên thuận đơm hoa

1298. Nam tông duyên chậm kết hoa sau này

Trên vùng đất cuối Nam, Sa Đéc

Ngài Thiện Luật, là vị đầu tiên

Thứ hai là ngài Huệ Nghiêm

1302. Ngài Bửu Chơn cũng theo chân bước vào

Ngài Hộ Tông, Phnom-Penh tiếp nối

Đó chính là bốn vị tiên phuông

Về sau sau nữa tùy duyên

1306. Phật giáo Nguyên thủy đương nhiên tựu thành

Nếu tính ra trăm năm đổ lại

Nước ta thêm hệ phái ra đời

Góp cùng Phật giáo nơi nơi

1310. Chung nhau tu tập độ đời bớt đau

Bởi phù sinh ngập đầu thống khổ

Nhiều bàn tay cùng vỗ tiếng kêu

Tiếng thương hòa lẫn tiếng yêu

1314. Cho đời bớt khổ lêu bêu giữa dòng

Tám vạn bốn pháp môn Phật dạy

Chứ đâu phải chỉ một hai ba

Việt Nam chưa quá mười mà

1318. Và bao nhiêu nữa miễn nhà Như Lai

Nhà Như Lai không hai không một

Nhưng một ly một tất rõ ràng

Đạo Phật không có lan man

1322. Đạo Phật không có nhập nhằng vậy thôi.

PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Hệ phái Khất sĩ

Thành lập hậu bán thế kỷ 20

Từ Miền Nam, thêm hệ phái nữa

Cùng nhìn xem xuất phát thế nào

Vĩnh Long sông nước rì rào

1326. Người sinh từ đó đi vào Phật gia

Mới một tuổi mẹ đà mất sớm

Mười lăm tuổi học đạo ở Miên

Sau về tu ẩn Thất Sơn

1330. Tự thân đạt ngộ tánh chơn của mình

Ngài tiếp tục tham cầu học đạo

Gặp Hòa thượng Huệ Nhựt - Thiên Thai

Một phái Thiền Lâm hiện nay

1334. Và sau đó nữa tự Ngài hóa sinh

Phái Khất sĩ thành hình từ đó

Ngài vắng bóng tuổi ba mươi hai

Đệ tử hai giới theo Ngài

1338. Ngày càng lan rộng đến nay khá nhiều

Đệ tử nhớ Ân Sư kính ngưỡng

Tôn hiệu Tổ sư Minh Đăng Quang

Phật giáo Khất sĩ Việt Nam

1342. Cùng với đạo Phật đồng hành nước ta.

PHÁP NẠN PHẬT GIÁO 1963

Cờ Phật giáo là cờ quốc tế

Cũng là cờ Phật giáo Việt Nam

Đại hội tại nước Tích Lan

1346. Mọi nước Phật giáo đứng chung dưới cờ

Cờ Phật giáo lá cờ ngũ sắc

Của đạo Phật phất phới tung bay

Bất luận Nam Bắc Đông Tây

1350. Da vàng da trắng da đen da màu

Không phân chia quốc gia chủng tộc

Không phân biệt lãnh thổ biên cương

Đứng chung không đứng chuyện thường

1354. Nhưng mà triệt hạ chữ nhưng dị thường

Hễ dị thường, một đường phải chọn

Một là một, không có nói hai

Một hai hai một nói dài

1358. Thì hai với một ách tai tức thì

Một là một hơn đinh đóng cột

Cột ở đây là cột kim cương

Chứ không phải chuối ương ương

1362. Vốn mềm như bún nghê thường dễ duôi

Lại thời điểm đang mùa Phật đản

Mùa Đức Phật thị hiện giáng trần

Chư Thiên hớn hở vui mừng

1366. Nhân loại khấp khởi tưng bừng hòa vang

Phật giáo Việt Nam mừng Phật đản

Thượng cờ lên thiết lễ cúng dường

Hạ cờ, đại họa tai ương

1370. Cương quyết triệt hạ tư lường hồn ai

Chưa quốc gia nào triệt cờ xuống

Chưa chế độ nào kéo kẽm gai

Dùi cui súng đạn khói cay

1374. Bao quanh chận bắt ở ngay trước chùa

Xuất phát từ âm mưu kỳ thị

Đã kéo dài những chín năm trường

Tín đồ đẩy đi dinh điền

1378. Tăng Ni "bỏ bố" ném sông biển hồ

Xuất phát từ âm mưu tôn giáo

Biến Việt Nam mang đạo mới thôi

Nếu thuận sẽ được đổi đời

1382. Nếu không sẽ bị tơi bời thẳng tay

Thật trớ trêu ngay mùa Phật đản

Lệnh ban ra phải triệt hạ cờ

Chết liền bảy trẻ em thơ

1386. Xương rơi máu đổ mịt mờ khói cay

Ngay tại cố đô mùa Phật đản

Trở thành mùa Pháp nạn sáu ba (1963)

Tin từ xứ Huế loan ra

1390. Làm cho cả nước xót xa kinh hoàng

Cớ sự ấy tưởng chừng dập tắt

Phải cho biết thỏa đáng do ai

Nhưng chỉ có kẽm với gai

1394. Chỉ súng với đạn hết ngày tới đêm

Áp dụng khắp tỉnh thành cả nước

Triệt để nhất tại Huế, Sài Gòn

Biến thành cả nước xuống đường

1398. Ngọn lửa bùng phát máu xương loang đầy

Lại bắt bớ tù đày tra khảo

Hầu hết chùa chằng chịt kẽm gai

Tử vì đạo, chứ biết sao

1402. Chết vì đạo, chứ biết sao bây giờ

Kính lạy Đấng Từ Bi gia hộ

Nguyện mười phương Tam Bảo gia trì

Pháp nạn mau chóng qua đi

1406. Nhưng bóng đêm phủ đen sì điêu linh

Đành chấp nhận hiến thân vì đạo

Nguyện một lòng vì đạo hy sinh

Tăng Ni, Phật tử kiên trinh

1410. Xả thân cứu đạo riêng mình sá chi

Lửa từ bi Bồ Tát Quảng Đức

Lửa từ bi tiếp lửa bùng lên

Bảo vệ Đạo Pháp đáp đền

1414. Bao Thánh Tử Đạo thiêu thân cúng dường

Lửa không đủ làm mềm chế độ

Quyết triệt tiêu, lệnh tổng tấn công

Chùa Xá Lợi giữa đêm không

1418. Nhào vô bắt hết cùm gông trong tù

Ở ngoài kia quân dân cán chính

Tự đứng lên chấm dứt Nhà Ngô

Kết thúc chế độ chín năm

1422. Anh em Tổng Thống đi thăm hoàng tuyền

Mùa Pháp Nạn tự nhiên tan biến

Tăng tín đồ trở lại chùa xưa

Ngày đêm vẫn tiếng chuông chùa

1426. Cuộc đời vẫn chỉ cơm dưa thanh bần

Không còn cảnh nực nồng Pháp Nạn

Bao quanh chùa không kẽm với gai

Phật giáo nào tạo với gây

1430. Ngày xưa cũng thế ngày mai cũng là

Phật giáo sống hòa bình thiện mỹ

Phật Giáo sống đạm bạc thanh lương

Chỉ hướng thuyền đời vươn lên

1434. Và đem trang trải tình thương cho đời.

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT

Đại hội thành lập tại chùa Xá Lợi - Sài Gòn (01-1964)

Pháp Nạn Phật giáo Sáu Ba đó

Nhờ chư Phật phổ chiếu nghiêm minh

Chư Thánh Tử Đạo thiêu thân

1438. Tăng Ni, Phật tử hy sinh mới còn

Cờ Phật giáo tung bay ngũ sắc

Phật giáo còn có mặt đến nay

Nếu không đã cuốn theo mây

1442. Đã tan theo bụi đã giày ra tro

Chứ còn đâu Tăng Ni pháp lữ

Còn gì nữa mà nói chùa chiền

Còn đâu vọng tiếng chuông thiêng

1446. Kệ kinh trầm bổng cửa thiền Phật gia

Một Đại hội tại chùa Xá Lợi

Giữa thủ đô thành phố Sài Gòn

Như trước gồm sáu tập đoàn

1450. Thêm năm giáo phái họp hành tôn nghiêm

Một Hiến chương đường đường công bố

Danh hiệu Giáo hội tái tuyên xưng

Thống Nhất Phật giáo Việt Nam

1454. Gánh vác sứ mệnh hai ngàn năm qua

Cương vị cao nhất, ngôi Tăng Thống

Đức Tăng Thống Tịnh Khiết, suy tôn

Chánh Thư ký, ngài Trí Quang

1458. Giữ gìn cương kỷ đạo phong nghiêm từ

Lãnh đạo Giáo hội, Viện Hóa đạo

Viện trưởng, ngài Tâm Châu, Thiện Hoa

Tổng Thư ký, ngài Huyền Quang

1462. Điều hợp Phật giáo trên toàn nước ta

Tiếp tục truyền thừa mọi thời thế

Tiếp tục chuyển hóa mọi không - thời

Dù cho vật đổi sao dời

1466. Phật giáo vĩnh trụ một lời không hai

Khắc nơi đây dấu son Phật giáo

Chạm nơi đây dấu ấn nạm vàng

Chỉ có Phật giáo Việt Nam

1470. Cùng chung thống nhất cùng mang hạnh nguyền

Không nước Phật giáo nào làm được

Mọi giáo phái cùng hỗ cùng tương

Bên nhau sát cánh nghiêm tường

1474. Cùng sống cùng chết cùng thương hết lòng

Băng không gian thăng trầm vinh nhục

Vượt thời gian biến đổi bốn mùa

Phật giáo chuyên chở Ba Thừa

1478. Chuyển xe chánh pháp chưa vừa bổn nguyên

Vững tay lái con thuyền Giáo hội

Vững tay chèo bốn biển năm châu

Phật giáo Việt Nam rợp màu

1482. Tăng Ni, Phật tử cơ cầu bi lân

Hãy mạnh bước lên đường Tứ Thánh

Tự độ độ tha hạnh vô biên

Đi trong khắp chốn mọi miền

1486. Cùng nhau chuyên chở con thuyền thanh lương

Đạo vì đời dấn thân phụng hiến

Đời vì đạo hỗ trợ tương lân

Không ai đánh đổi phong trần

1490. Dù cho suy thạnh bao lần sá chi.

PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Cận hiện đại

Thế kỷ hai mươi qua hăm mốt

Bóng thời gian dịu dặt mai sau

Đây là thời đại tiến mau

1494. Kéo liền bốn biển năm châu rất gần

Mọi phương tiện thông thương khá dễ

Lại còn thêm hệ mạng toàn cầu

Văn minh tiến bộ nhờ nhau

1498. Tình người nhân loại giúp nhau đỡ đần

Mỗi quốc gia kết giao tôn trọng

Mỗi chủng tộc giữ bản sắc riêng

Chữ "đồng" hơi dễ nối liền

1502. Chữ "dị" cũng giảm oan khiên rã rời

Phật giáo mình cũng thời cũng thế

Cũng đến đi hiện hữu khắp nơi

Á, Úc, Âu, Mỹ có rồi

1506. Phi châu nghèo khổ cũng rồi có luôn

Lập cơ sở xây chùa thỉnh tượng

Khí Phật cụ tôn trí trang nghiêm

Kệ kinh trầm bổng cửa thiền

1510. Người người lui tới học hành tường tri

Trong ngoài nước vận hành như thế

Người xuất gia đâu cũng thế thôi

Chiếc áo hoại sắc khoác rồi

1514. Trên thời đền đáp dưới thời hàm linh

Đời Tăng sĩ rày đây mai đó

Tương chao dưa muối đãi bốn mùa

Chẳng cần câu nệ hơn thua

1518. Sớm hôm gióng tiếng chuông chùa ngân vang

Cầu nguyện cho pháp luân thường chuyển

Phổ nguyện cho Phật pháp trường tồn

Nghiêm tịnh khắp chốn thiền môn

1522. An hòa hải chúng phụng tôn Phật đà

Dung hợp mọi tông môn pháp phái

Hòa hợp tình Pháp lữ keo sơn

Lịch sử gắn thêm điểm son

1526. Chấm đen trả lại bên cồn bờ lau

Hai ngàn năm sử vàng chói lọi

Hai ngàn năm lịch sử huy hoàng

Mai sau theo bóng thời gian

1530. Mong sao đẹp nét son vàng Sử ca.

Bắt đầu cuối tháng 8
Viết xong ngày 04-9-2016
TNT Mặc Giang

    Chia sẻ với thân hữu: