CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Du-già và Mật pháp: Công cụ để chứng đạt Chánh giác

Ánh Sáng Mật Tông

►Lời đầu sách

►Chương 1: Ba bánh xe pháp

►Chương 2: PG hướng sang Tây Tạng

►Chương 3: Bốn bộ phái Tây Tạng

Chương 4: Tiếng nói thời hiện đại

►Chương 5: Công cụ để chứng Chánh giác

►Chương 6: Âm thanh của Chánh giác

►Chương 7: Tâm thức ở tầng cao

      với pháp quán ảnh tượng

►Chương 8: Trí tuệ từ mặt nữ tính của chúng ta

►Chương 9: Sinh, Tử, và Cảnh trung ấm

►Chương 10: Suối Nguồn của Từ Bi và Trí Tuệ

Chương 5: Du-già và Mật Pháp: Công Cụ Để Chứng Đạt Chánh Giác

 Bất luận bạn tu tập tinh chuyên hay nhất thời, điều cần nhất là nên có chuyển hóa, chuyển hóa theo hướng tươi sáng hơn của nội tâm.

--Đức Đạt-lai Lạt-ma

Phật giáo Tây Tạng kết hợp Phật giáo Đại thừa với hai pháp môn cổ truyền là du-già (yoga) và mật pháp (tantra)[i]. Du-già và mật pháp thường được tu tập riêng lẽ nhưng Phật giáo Tây Tạng hòa nhập, đan kết chúng lại với nhau thành những pháp môn diệu dụng.

Du-già

Với nếp nghĩ thông thường, người ta cho rằng thiền quán là pháp tu đặc nét Ấn Độ, nhưng thực ra, ở Trung Hoa, Nhật Bản và những nền văn hóa khác đều có thiền quán theo những thể thức khác nhau. Người xưa cho rằng thiền quán là phương tiện để hợp nhất thân tâm với một điểm tập trung. Có mục đích và ý hướng rõ rệt, du-già là một trong những bài luyện tập sơ khởi của việc tu thiền; tất cả những hệ thống thiền sau này đều có yếu tố du-già.

Du-già được miêu tả trong trường thiên Chí Tôn Ca. Trong đó kể lại mẫu đối thoại lừng danh giữa thần Krishna và thái tử Arjuna, thần Krishna đã liệt kê hàng loạt những phương pháp để rèn luyện thân tâm và cảm xúc hướng về một nhiệm vụ. Đứng trước một trận chiến mà Arjuna phải chọn cho mình một chiến tuyến mặc dù trong hàng ngũ của cả hai bên đều có người thân của mình; một tình thế không dễ chịu chút nào. Sau khi hội kiến với thần Krishna, cuộc chiến trước mặt Ajuna đã khoác lên một ý nghĩa khác: một hành động đạo đức, kỷ cương và trách nhiệm. Bản trường ca chỉ bày phương pháp tập trung tâm ý để có thể ứng xử với cuộc sống một cách tốt đẹp nhất trong những phút giây khó khăn nhất.

Về sau, những bài kinh du-già do Patanjali (150 trước dương lịch) biên soạn đã hệ thống hóa pháp du-già qua một chuỗi những đoản ngôn của bậc thánh trí. Trong đó, về mặt tư liệu, Patanjali tuyên bố là đã thu thập tất cả những bài luyện tập cổ xưa trước thời có chữ viết. Bộ sưu tập những đoản ngôn này miêu tả những bài tập du-già chính yếu của pháp chỉ quán và phương pháp tu tập. Đồng thời, ông trình bày những năng lực tâm linh vĩ đại mà hành giả du-già có thể đạt được.

Ý Nghĩa Của Du-già

Theo tự điển Webster thì du-già có nghĩa là “phương pháp để đóng yên cương cho (con ngựa) thân thể để kết nối vào (chiếc xe) linh thức cá nhân; rồi, đóng yên cương cho (con ngựa) linh thức cá nhân để kết nối vào (cổ xe) Linh thức vũ trụ.” Du-già chú trọng việc tập trung tâm ý, dẫn đến trạng thái nhập thần và xóa đi những giới hạn của thân phận con người với mục đích siêu vượt khỏi linh thức cá nhân (hay tiểu ngã) để nhận ra được cái linh thức lớn hơn (hay đại ngã). Theo định nghĩa thứ hai ít được biết đến thì du-già đơn thuần là thiền quán (Evans-Wentz, 1958). Bao quát cả hai định nghĩa này chúng ta sẽ thấy được một ý nghĩa trọn vẹn và công năng của du-già.

Với nội tâm đã được tập trung, hành giả nối liền tâm thức của mình với bất cứ đối tượng thiền quán nào. Hành giả dùng sức tập trung của một nội tâm đã được điều phục để đóng yên cương cho (con ngựa) linh thức cá nhân để kết nối vào (cổ xe) tổng linh thức vũ trụ hay chân tâm. Những pháp môn riêng biệt hành giả nghĩ là sẽ đưa đến những kết quả riêng biệt; nhưng thực ra đều dẫn đến những chuyển hóa giống nhau. Trong những pháp môn du-già thì pháp môn du-già dùng thiền định rèn luyện tâm thức, làm cho hành giả điều phục được tâm ý là dạng Du-già được Phật giáo Tây Tạng tiếp nhận và xem đó là một phương pháp rèn luyện sức tỉnh giác để đạt đến trạng thái giác ngộ của đạo Phật.

Pháp Môn Du-già Trong Phật Giáo Tây Tạng

Phật giáo Tây Tạng sử dụng tâm thức kết hợp với cơ sở lý luận để tập trung tâm ý. Theo Phật giáo Tây Tạng, maya hay vô minh là do những nhận thức sai lầm. Để có nhận thức sáng suốt, người Tây Tạng sử dụng tâm tỉnh giác chuyên nhất; pháp môn du-già chính là một dạng ‘yên cương’ được dùng để chế ngự và làm cho tâm trở nên chuyên nhất. Phương pháp thiền định này khiến cho hành giả có khả năng hiệp thông với nhất thể chân tâm (Evans-Wentz, 1958).

Du-già Phật giáo khác với du-già Ấn Độ giáo về một số thuật ngữ và các pháp thức tu tập nhưng có những yếu tính giống nhau. Mục đích của du-già Ấn Độ giáo là đem mảnh linh thể đơn lẽ hòa nhập với tổng linh thể vũ trụ, cá thể sinh linh hòa nhập với toàn thể vũ trụ. Trong Phật giáo, việc tổng hòa tâm thức cá nhân với biển cả Phật pháp tức là thể nhập Niết-bàn, tức là nhận ra được ánh sáng và hướng theo ánh sáng.

Phật giáo Tây Tạng sử dụng những phán định triết học của Du-già tông và Trung quán tông của đạo sư Long Thọ làm nền tảng cho việc hành trì du-già. Pháp môn tịnh chỉ được thực hành trước làm cho tâm thức được gột sạch những ý niệm u mê chuẩn bị cho yếu tính như thật hiển lộ. Yếu tính như thật trông giống như một mặt gương soi nằm sau tất cả các pháp; mỗi sự vật hiện hữu bởi chính nó và là một thành phần của pháp thân viên mãn như thật. Sau đó, qua pháp thiền định du-già hành giả Tây Tạng có thể chứng nghiệm yếu tính này, nhờ đó đồng nhất với Niết-bàn.

Tantra (Mật Pháp)

Cho đến bây giờ, chưa ai biết rõ cội nguồn chính xác của tantra. Những pháp thức của tantra xuất hiện rất sớm và một vài dạng pháp thức có mặt trong nhiều nền văn hóa xa xưa mà hiện nay người ta mới phát hiện ra. Trong tiếng Sanskrit, từ tantra chỉ cho sự liên tục, sự đan kết; Tuy nhiên, vẫn chưa có một định nghĩa đơn nhất nào thật sự được xác lập. Tantra bao gồm nhiều bộ pháp thức, thường hướng về hành động, làm cho thân tâm đan kết với nhau.

Tất cả những pháp thức tu tập phát triển ở Ấn Độ đều được Bà-la-môn giáo sử dụng. Cho đến khoảng thế kỷ thứ bảy, những pháp thức Tantra đã bắt đầu được kết nối với Phật giáo, một tôn giáo phát triển ở Ấn Độ trên một ngàn năm với những hệ thống tu viện to lớn và những pho tượng kỳ vĩ. Thời gian này, một số người tu theo Phật giáo cảm thấy rằng có những hành giả đã đi quá xa, không còn thấy được ánh sáng tâm linh thuần phác thời nguyên thuỷ mà Đức Phật chủ trương.

Những pháp môn tantra được khai thị, xem là một cuộc vận động chấn hưng với mục đích đưa Phật giáo quay trở về nguồn cội. Những người bình thường cũng có thể thực hiện những nghi lễ tantra, xem chúng là một phần của cuộc sống hằng ngày, cuộc sống hướng về những phẩm tính tâm linh sâu thẳm có sẵn trong tâm hồn. Cái duy nhất mà mỗi người cần là chân thành tu tập, không phải là tài sản, học lực, hay thế lực. Theo cách này, tantra góp phần phục hưng Phật giáo và đưa nếp sống Phật giáo vào đời sống bình nhật.

Những pháp môn tantra cũng nêu lên pháp tu để thành tựu chánh giác ngay trong một kiếp sống. Những dạng Phật giáo Ấn Độ trước đó tin rằng phải trải qua thời gian lâu xa vô lượng, vô số kiếp, người ta mới có thể chứng đạt chánh giác. Nhưng theo Phật giáo Đại thừa, người ta có thể đạt được chánh giác ngay trong kiếp sống này, thân thể này. Tantra thận trọng nêu lên một phương pháp để định hướng cho hành vi của con người xuôi về chánh giác. Hành giả có thể gột rữa ngã tính và mở rộng tâm thức đón nhận thực tại. Trong pháp môn tantra, hành giả thường tìm cầu vị đạo sư dẫn dắt trên con đường hành trì, giúp hành giả tránh được những chướng ngại và hướng thẳng về chánh giác.

Tả Tantra và Hữu Tantra[1]

Có hai dạng tantra, tả và hữu. Tả tantra trong Phật giáo Tây Tạng có nhiều tên gọi khác nhau như Kiên cố thừa, Thiết chùy thừa. Tuy vậy, tất cả thừa tantra đều được gọi chung một tên là Kim Cương thừa. Giống như chiếc xe hay đoàn tàu hỏa chuyên chở chúng ta đến nơi đã định; tương tự, pháp môn Tantra nhanh chóng đưa hành giả lên con đường đạt đến chánh giác.

Kim cương là chất liệu cứng nhất đã được biết với tính chất: thanh khiết, trong suốt, vững chắc và không bị vỡ. Kim cương thừa hàm chứa những phẩm tính của kim cương, kết hợp pháp tu và quán trí vào một đơn thể viên mãn và bất hoại. Thân thể và tâm thức của những hành giả tu tập theo những pháp này đều được thăng hoa. Những hành giả tu tập thành công sẽ trở thành một kim cang giả.

Hữu tantra, Mật tông hay Mật phái đã được Amoghavana (705 - 774) hành trì ở Trung Quốc, và cuối cùng được truyền vào Nhật Bản với tên gọi là Phật giáo Chân Ngôn tông, một kết hợp giữa những pháp môn tantra biểu tướng với nền Phật giáo Nhật Bản. Dạng Hữu tantra sử dụng Linh đồ Mạn-đà-la và những biểu đồ luân xa làm biểu tượng giống như Phật giáo Tây Tạng.

Đạo sư Long Thọ thứ hai (600 - 650) là vị tổ sáng lập Tả tantra, sinh sống và truyền giảng những pháp môn tantra ở Bắc Ấn Độ. Với sự ủng hộ của nhà vua, Phật giáo Mật tông có điều kiện phát triển. Trong triều đại Pala (dương lịch: 750 - 1150), những pháp môn tantra được nối kết với bộ kinh Đại thừa Bát nhã Ba-la-mật.

Những người tu theo Phật giáo Tây Tạng sử dụng những hình tượng mạnh mẽ như kim cương và lưỡi búa của thần sấm sét không phải theo ý hướng vật chất mà theo ý hướng tâm linh, làm cho hành giả phấn chấn qua những câu chuyện với những pháp môn được miêu tả. Mỗi sự vật đều là cơ hội, là biểu tướng để chuyển hóa.

Kim cương thừa dành cho những người có lòng bi mẫn và ý chí mạnh mẽ, những người muốn cứu độ tha nhân và quyết tâm đạt được chánh giác một cách nhanh chóng. Cần phải có những nỗ lực bất thối chuyển để phát triển năng lực tâm linh, chịu gian khó theo đuổi con đường tantra.

Dung hợp pháp du-già (yoga) với mật pháp (tantra) trong Phật giáo Tây Tạng

Du-già (yoga) kết hợp với mật pháp (tantra) để làm hiển lộ kho tàng chánh giác. Những mật pháp (tantra) giống như những bản đồ dẫn dắt thân tâm của hành giả xuôi về hướng Niết-bàn. Sức tập trung trong du-già là dạng ánh sáng hội tụ làm cho tấm bản đồ được sáng tỏ. Với sức tịnh chỉ của du-già đã rèn luyện thuần thục, hành giả thực hiện pháp thức tantra, những pháp thức làm cho những trải nghiệm của thân thể vật lý trở thành những trải nghiệm mang màu sắc chánh giác. Khi sử dụng năng lực của ý chí và của sức tập trung kết hợp với những mật pháp thì những hành giả thuần thục được xem là đã làm chủ được sự sống và cái chết của bản thân.

Phật giáo Tây Tạng cũng chấp nhận pháp Du-già Hành động, khuyến khích hành giả sử dụng tất cả những cảm nghiệm để đánh thức những sắc thái giác ngộ khác nhau nơi tự tâm. Những hành giả biết cách sử dụng các quan năng và cảm xúc của mình, biến chúng thành những khung cửa sổ mở ra một bầu trời tâm thức cao hơn. Trong khi đó, những biểu tướng lại kích khởi nhận thức trực quan giúp hành giả thể nghiệm Niết-bàn.

Tâm thức này, thân thể này, thế giới này, đều là đạo lộ đưa đến Niết-bàn; ngoài ra không có gì khác nữa. Bản phối âm siêu tuyệt của giáo pháp chính là sống và làm việc kiếm sống, song song với việc tiếp tục hướng về chánh giác. Hành giả nào làm việc kiếm sống một cách chân thành và duy trì được thái độ chính chắn thì đời sống tâm linh của vị ấy sẽ thông suốt. Tất cả những cái đối nghịch nếu có đều sẽ hòa tan vào một hợp thể cá nhân và vũ trụ. Trong cuộc mưu sinh vất vả hằng ngày -- dù công việc làm của chúng ta có nhiều ý nghĩa hay chỉ đơn thuần là một phương tiện để kiếm sống, tất cả những mồ hôi và nước mắt của chúng ta trong cuộc sống và trong công ăn việc làm, đều chuyển thành sự nghiệp tâm linh -- tất cả đều là chất liệu mà chúng ta có thể sử dụng để nuôi dưỡng sự tỉnh thức. Những hành động có ý hướng của chúng ta đan dệt thành những thăng tiến tâm linh. Tâm nguyện và sự dốc lòng hướng về chánh giác của chúng ta sẽ làm cho những điều bình thường long lanh những sắc thái siêu phóng. Cuộc sống trở nên đa sắc thái và hòa quyện; cảnh Niết-bàn mở ngõ.

Những mật pháp tantra không hề đối nghịch với việc sử dụng những phương pháp phân tích, lý luận để học hỏi và thể nghiệm. Ngang qua sức định tâm đạt đến cao độ nhờ tu theo con đường tantra, hành giả cắt vụn thế giới, nhận ra rằng thế giới chỉ là sự thi thiết của những ý niệm. Vì vậy, những hành giả đã đạt đến trình độ cao có thể giải thoát tâm thức khỏi vòng kềm tỏa của những ý niệm; thành tựu vô biên lợi lạc.

Mục đích cuối cùng của tantra là thể nhập được chánh giác bằng cách sống trọn vẹn với những năng lực vật lý, tình cảm và tâm linh mà chúng ta có được. Bắt đầu từ năng lực chú tâm định tỉnh ở những tầng thô nặng của tâm thức tiến đến năng lực định tỉnh vững chắc tự nhiên ở những tầng vi tế của tâm thức. Năng lực của hành giả phát triển từng bước một song hành với độ tinh tế của tâm thức. Cuối cùng, hành giả thi triển những thần lực, vượt qua được những hạn chế của thời gian và không gian, thắng được lực trọng trường và chế ngự được cái chết.

Ngôn Ngữ Trong Mật Pháp (tantra)

Phật giáo Tây Tạng sử dụng ngôn ngữ biểu trưng để chỉ cho những sự thật ở tầng cao hơn. Đó là một loại ngôn ngữ có định hướng nên không xem trọng ngữ nghĩa chính xác hay ngữ nghĩa thông tục. Mục đích của dạng ngôn ngữ có định hướng này là gợi lên những sự thật ở tầng cao hơn. Vị đạo sư thường đặt ý nghĩa muốn biểu đạt nằm chìm đằng sau những con chữ huyền ảo để dẫn dắt người đệ tử đi đúng hướng. Dạng ngôn ngữ huyền ảo này còn có tác dụng bảo vệ những mật pháp của tông phái, không để những người chưa thọ pháp quán đảnh lén nghe, lén học.

Không cùng phương thức với luân lý Aristotle, luận lý học Mật tông không định nghĩa một sự vật theo khía cạnh tồn tại hay không tồn tại. Vì vậy mà ngôn ngữ được sử dụng để miêu tả sự vật, trong khi không vạch ra những quy phạm, những đường biên phân biệt. Thay vào đó, qua những biểu tướng, vị đạo sư sử dụng một từ vựng cụ thể để hướng tâm thức của đệ tử về cái chưa biết. Một từ vựng chuyển tải ý nghĩa cần được chuyển tải. Chúng ta cần nhớ rằng tất cả ý nghĩa đều không cố định. Vị đạo sư thường che đi ý nghĩa thông tục của từ ngữ đó để hiển lộ sự thật cao sâu hơn mà từ ngữ đó có thể gợi ra. Những biểu tướng tính giao, những vị thần bình thản và phẩn nộ, và nhiều biểu tướng mạnh mẽ khác được sử dụng để nói về cái tâm thức ẩn tàng tinh tế và rất nhạy cảm. tâm thức nhạy cảm này có thể phản hồi, phát hiện ra một cảnh giới giao hòa vĩ đại.

Những Mật Pháp (tantra)

Những hành giả mật pháp (tantra) tiếp nhận một chuỗi những lễ nghi, pháp thức, được quán đảnh và thâm nhập vào những mật pháp của tông môn. Trước hết hành giả phải chân thành bày tỏ lời thệ nguyện sống một đời sống trong sạch và giàu lòng bi mẫn. Kế tiếp, hành giả khởi tụng mật chú (âm thanh) và quán chiếu những linh đồ Mạn-đà-la (hình ảnh) để đánh thức tâm chuyên nhất. Một chuỗi âm thanh cụ thể như câu: “Sắc tức thị không, không tức thị sắc,” tuyên ngôn cốt lõi của Tâm Kinh, được dùng làm điểm chú tâm trong thiền định. Câu kinh được tụng đọc liên tục để tẩy sạch tâm thức và dẫn dắt tâm thức hướng về con đường chánh giác. Năng lực chuyên nhất bấy giờ có thể làm cho tâm thức của hành giả thể nghiệm được sự thật ở tầng cao hơn. Vì từ ngữ và âm thanh của nó là MỘT với cái cần được chuyển tải. Rõ ràng, du-già mật ngữ thật ra chỉ là sự phát triển tự nhiên của hệ tư tưởng Phật giáo. Ngay cả những âm tiết đơn giản cũng có thể được sử dụng làm câu mật chú trong thiền định, đối tượng để chú tâm. “Om Mani Padme Hum” là một câu mật chú vô cùng lợi lạc trong nhiều phương diện khác nhau. [xem thêm chương 6: Mantra và chương 7: Mạn-đà-la].

Những thánh tướng được sử dụng làm điểm tập trung tâm thức, đánh thức những ý niệm tương ứng và những phẩm tính, biểu tướng sẵn có trong tâm của hành giả. Những nghi lễ tantra và du-già tạo nên cơ hội mở rộng bầu trời của tâm thức. Đó là lúc mà hành giả lần đầu tiên quán chiếu thấy mình đang ngồi đối diện với vị đạo sư, vị này đang truyền giảng một nguồn tuệ giác rất lớn.

Mật pháp tantra cho phép hành giả sử dụng nhiều sự vật mang tính biểu tướng để làm công cụ tiện ích trên con đường tu tập. Mục tiêu của Phật giáo là chuyển hóa những cảm thọ căn bản của đời sống; sử dụng ngôn ngữ, ý niệm, tư tưởng, cảm xúc, và hành động làm biểu tướng để dẫn dắt hành giả hướng về Ánh sáng thuần khiết của Biểu tướng vĩ đại (Mahamudra). Một nguồn ánh sáng thuần khiết xóa sạch tất cả thiên sai vạn biệt của sơn hà đại địa.


[1] Từ tantra cũng chỉ cho kinh sách chỉ dạy pháp môn tantra mà một trong những tác phẩm đầu tiên của Kim cang thừa là Guhyasamaja Tantra xuất hiện khoảng năm 300 dương lịch; nhưng mãi cho cho đến năm 600 mới được hệ thống hóa thành một cơ cấu hoàn chỉnh.


[i] Tantra không có từ tương đương, rất khó dịch. Các ngôn ngữ khác thường giữ nguyên. Ở đây tạm dịch là mật pháp.

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết: