CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Lược sử Phật giáo Nhật Bản - Chương 2

   

 

LƯỢC SỬ PHẬT GIÁO NHẬT BẢN

GS. Shinsho Hanayama

Tiến sĩ Thích Minh Thành dịch

            Nhà xuất bản TP.HCM - 2001  

Lời nói đầu

Lời người dịch

Chương 1: Phật Giáo Nhật-bản thời du nhập

Chương 2: Hoàng tử Shotoku (Xứng-đức)

Chương 3: Cuộc cải cách Taika

Chương 4: Phật Giáo thời Nại-lương

Chương 5: Phật Giáo Thời Bình An

Chương 6: Phật Giáo triều đại Liêm Thương

Chương 7: Thời cận đại và hiện tại

Chương 2: HOÀNG TỬ SHOTOKU (Xứng-đức)

Vào năm 587, Hoàng Đế Yomei (Dụng-minh) băng hà và dòng họ Soga (Tô-ngã) đưa Hoàng Đế Sushun (Sùng-tuấn) lên ngôi. Nhưng 5 năm sau đó Sushun[1] (Sùng-tuấn) bị đại thần Soga-no-Umako (Tô-ngã-mã-tử) ám sát. Để đối phó với tình trạng khẩn cấp này phu nhân của Hoàng Đế Bidatsu (Mẫn-đạt) lên ngôi lấy hiệu là Suiko (Suy-cổ). Bà là vị nữ thiên hoàng đầu tiên và là vị thiên hoàng thứ 33 của Nhật-bản. Ngay khi lên ngôi nữ thiên hoàng đã phong danh hiệu thánh đức thái tử cho Hoàng Tử Shotoku (Xứng-đức), con trai đầu lòng của Hoàng Đế Yomei (Dụng-minh) rồi trao quyền nhiếp chính cho thánh đức thái tử lúc đó mới 19 tuổi. Trong thời gian 30 năm chấp chính thánh đức thái tử đã xây dựng vững chắc nền tảng của vương quyền và nổ lực nâng cao nền văn hóa Nhật-bản. thánh đức thái tử xem Phật Giáo là suối nguồn tư tưởng và tiến hành công cuộc cải cách rộng khắp. Ngài mở mang trường học và ban hành một hiến pháp, cử sứ thần và đưa sinh viên sang Trung Hoa để thu thập kiến thức mang về. Ngài kích khởi nền công nghiệp và không quên để tâm đến việc săn sóc nuôi dưỡng những người bịnh hoạn, trẻ mồ côi và người già yếu. Ngài đưa ra những phương sách để cải thiện hệ thống giao thông liên lạc và không quên hướng dẫn dân chúng biết bảo dưỡng súc vật. Dưới sự chỉ đạo của thánh đức thái tử quyển lịch sử nước Nhật được biên soạn. Những thành tựu to lớn trong thời thánh đức thái tử chấp chính quả thật đã đánh dấu một thời đại huy hoàng trong lịch sử của nước Nhật-bản.

Đầu tháng 2 năm 594, ‘vương lịnh tôn vinh ba ngôi báu’ được ban hành. ba ngôi báu là: 1) Đức Phật, 2) Chánh Pháp (Luật Tắc hay Chân Lý), và 3) Tăng già (Giáo Đoàn Tỷ-kheo). Nhưng theo thánh đức thái tử tất cả ba ngôi báu đều đồng nhất với Phật Pháp. Điều này có nghĩa là ba ngôi báu không hề biệt lập với nhau mà đúng ra là đồng nhất với nhau, như vậy ngôi báu nào cũng hàm tàng hai ngôi báu kia. Và chúng ta có thể nói rằng niên đại mà thánh đức thái tử ban hành vương lệnh này chính là niên đại mà Phật Pháp bắt đầu có vị thế vững chắc ở nước Nhật và cũng là niên đại chấm dứt những cuộc xung đột dữ dội giữa hai dòng họ đối nghịch nhau là Soga (Tô-ngã) Mononobe (Vật-bộ) kéo dài trên nữa thế kỷ từ khi Phật Giáo du nhập vào nước Nhật-bản. Cũng chính trong thời đại nầy người dân Nhật-bản đoàn kết thống nhất một lòng một dạ với nhau vì đều là những người theo Giáo Pháp Phật-đà.

Theo tác phẩm Nihonshoki (Nhật-bản-thư-kỷ) hết thảy văn quan võ tướng đều thi nhau xây dựng chùa chiền[2]. Những ngôi chùa này được xây dựng trước hết là để tỏ lòng nhớ ơn các vị thiên hoàng và ông bà tổ phụ[3]. Ngoài ra còn có những tinh xá chuyên tu[4] dành riêng cho Phật tử tu tập theo Chánh Đạo.

Ngày 3 tháng 4 năm 604 thánh đức thái tử ban hành hiến pháp 17 điều[5]. Điều Một trình bày nguyên tắc căn bản của một xã hội nhân ái, tuyên bố rằng “Hòa hợp là điều tối trọng”. Điều Hai trình bày cách thức để chúng ta thực hiện nguyên tắc trên. Đó là kính ngưỡng ba ngôi báu, Điều Hai còn giải thích rằng việc phụng hành giáo luật Phật Giáo làm cho chúng ta điều chỉnh được các hành động sai trái trong đời sống hằng ngày. Điều Hai cũng tuyên bố rằng rằng Giáo Luật Phật giáo đã được tất cả dân tộc trong tất cả thời đại trân trọng kính ngưỡng. Hành trì viên mãn Giáo Pháp chính là phật; thực hiện viên mãn sự hòa hợp chính là tăng. Thắng Man Kinh Nghĩa Sớ[6] do thánh đức thái tử biên soạn có giải thích rằng ba ngôi báu là một nhất thể bất khả phân lập, bất kỳ ngôi báu nào cũng hàm tàng phẩm chất của hai ngôi báu kia. Điều Ba qui định mối liên hệ giữa thiên hoàng và dân chúng. Điều Bốn cung cấp một danh sách chi tiết về những điều mà một quan chức phải nằm lòng khi thi hành nhiệm vụ. Điều Mười Bảy chỉ thị cho các quan chức không được chuyên quyền trong khi thi hành những nhiệm vụ quan trọng của chính phủ, điều khoản nầy ra lệnh quan chức phải tham khảo ý kiến của quần chúng khi quyết định những việc nghiêm trọng.

Vào năm 606 thánh đức thái tử thuyết giảng Kinh Thắng-man với sự chứng dự của Nữ Hoàng, thánh đức thái tử cũng đã giảng kinh Pháp Hoa trong cùng một năm. Đây là khởi thuỷ của việc thuyết giảng Kinh Điển Phật Giáo ở Nhật-bản. Và cũng vào thời điểm này Thái Tử quyết định biên soạn những bài thuyết giảng. Năm 607, Ono-no-Imoko (Tiểu-dã-muội-tử) cùng với một vài học giả khác được phái đi sứ sang triều đình nhà Tùy (Sui) ở Trung Hoa để giao lưu văn hóa. thánh đức thái tử đã thu thập được nhiều loại kinh điển Phật Giáo qua con đường giao lưu văn hóa nầy. Vào năm 608, một mình Imoko (Muội-tử) hồi hương cùng với sứ bộ của Trung Quốc được phái đến triều đình Nhật-bản. Cũng vào năm đó Imoko (Muội-tử) lại đi sang Trung Quốc một lần nữa cùng với đoàn sứ thần Trung Quốc trên đường hồi hương. Imoko (Muội-tử) về Nhật-bản vào tháng 9 năm 609. Rõ ràng là mục đích chính của sứ bộ Imoko (Muội-tử) là thâu thập những bản kinh Phật Giáo quan trọng trực tiếp từ Trung Quốc vì con đường chuyển tiếp ngang qua Đại-hàn tốn nhiều thời gian hơn. Chúng ta có thể tin tưởng rằng thánh đức thái tử bắt đầu biên soạn ‘Sangyogisho’ (Tam Kinh Nghĩa Sớ)[7] sau khi đã thu thập được những tư liệu có giá trị từ Trung Quốc.

Sangyogisho’ (Tam Kinh Nghĩa Sớ) đã trở thành một tên gọi phổ biến chỉ cho ba bộ sớ giải, Shomangyogisho (Thắng-man Kinh Nghĩa Sớ), Yuimagyogisho (Duy-ma Kinh Nghĩa Sớ), và Hokekyogisho (Pháp Hoa Kinh Nghĩa Sớ). Ba bộ sớ giải gồm 8 quyển nầy là những tập sách đầu tiên được viết bằng tiếng nhật và những chữ được xử dụng là những chữ cổ xưa nhất mà ngày nay còn được người ta biết đến. Trong ba bộ đó thì bản sớ Giải Kinh Pháp Hoa nguyên gốc do chính thánh đức thái tử thủ bút vẫn còn được gìn giữ cho đến ngày nay.[8]

Trong những bộ Kinh Đại Thừa thì Kinh Hoa Nghiêm,[9] Kinh Niết-bàn,[10] Kinh Bát-nhã[11] là tương đối rất dài và phân thành nhiều quyển trong khi Kinh Pháp Hoa,[12] Kinh Duy-ma[13] và Kinh Thắng-man[14] là những kinh ngắn hơn. Mặc dầu những bộ kinh nầy khác nhau về độ dài và hình thức nhưng đều chứa đựng những giáo lý cao siêu. Đặc biệt Kinh Pháp Hoa, Kinh Duy-ma và Kinh Thắng-man được xem là những bộ kinh trọng yếu.[15]

Trong 3 bộ Kinh trên thì Kinh Duy-ma đề cao Phật Giáo Đại Thừa xem nhẹ Phật Giáo Tiểu Thừa; Kinh Pháp Hoa và Kinh Thắng Man truyền giảng giáo lý Nhất Thừa nghĩa là ‘Một Cổ Xe’. Sự hòa hợp nầy khi đạt được thì vượt khỏi cả Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa. Giáo lý Đại Thừa chỉ dạy rằng mọi người đều có khả năng đạt đạo và mọi người đều đang trên con đường đi đến mục đích nầy. Giáo lý Nhất Thừa là một pháp môn mà mọi loài chúng sanh, bất kể là một hay là nhiều, đều có thể tu theo đó mà đạt được đạo quả. Giáo lý Nhất Thừa dạy rằng sự đạt đạo là bình đẳng và bao trùm cả vũ trụ; mọi thiện hạnh đều có công đức như nhau và cuối cùng ai cũng đạt được quả vị Chánh Đẳng Giác tuyệt đối. Như vậy mục đích của Nhất Thừa là quả vị Phật tức là một trạng thái của trí tuệ và sự sống vĩnh hằng. Trạng thái này chính là Pháp Thân Phật.[16] Đức Phật Pháp Thân thì vượt khỏi ý niệm về thời gian và không gian; Ngài chính là pháp hay là nguyên lý vĩnh hằng thoát khỏi mọi biến chuyển, thoát khỏi sanh và tử, là mục tiêu tối hậu của mọi hành giả trên con đường tìm cầu chơn lý. Đức Phật mà thánh đức thái tử thờ phụng là đức Phật Pháp Thân; Giáo Lý mà Thái Tử đặt trọn niềm tin là Giáo Lý Nhất Thừa, tức là Một Cổ Xe Duy Nhất. Trong đạo lý Nhứt Thừa thì không có sự phân biệt giữa cư sĩ và tu sĩ. thánh đức thái tử chủ trương rằng đạo lý nhứt thừa phải là đạo lý của cuộc sống hằng ngày và người ta không cần phải từ bỏ người vợ và những đứa con thân yêu của mình, không cần phải đi vào rừng sâu núi thẳm để đắm mình trong thiền định. Quan điểm tu tập như vậy đã xây dựng lên một pháp môn mang sắc thái đặc biệt Nhật-bản. Sắc thái này ngày càng phát triển theo sự phát triển của lịch sử Phật Giáo Nhật Bản. Thái Tử đã biên soạn những bản chú giải dựa trên niềm tin riêng của mình đối với Giáo Pháp. Nhằm đạt được mục đích này Thái Tử có ý muốn thâu thập tư liệu về kinh điển Đại Thừa do những triết gia Phật Giáo Trung Quốc đương thời biên soạn. Ngài đã lý giải Kinh điển theo những tư tưởng uyên áo sâu kín bên trong chớ không quan tâm đến cái vỏ ngôn ngữ hay văn chương bên ngoài. Qua những tập sớ giải thánh đức thái tử đã vạch ra những sai lầm mà những soạn giả và dịch giả trước Ngài đã mắc phải và trình bày những kiến giải của riêng Ngài.

thánh đức thái tử qua đời năm 622. Theo những bản tường thuật còn lưu giữ cho đến ngày nay thì cái chết của thánh đức thái tử là một nỗi buồn khổ vô cùng cho Nữ Hoàng Suiko (Suy-cổ) và toàn thể thần dân Nhật-bản. “Nỗi đau khổ của thần dân Nhật-bản thật là sâu đậm: như một người già nua tuổi tác chỉ có một đứa con duy nhất mà lại bị người ta bắt đi mất và như một đứa bé thơ mất đi sự bảo bọc và trìu mến của song thân. Càn khôn vở vụn tối sầm, mặt trời và vầng trăng không còn ánh sáng”. Để nhớ mãi vị thái tử thân yêu nầy, Công nương vợ Ngài và các con cũng như các vị đại thần trong triều đã cho tôn tạo một pho tượng Thích-ca Mâu-ni do nhà điêu khắc Tori (Chỉ-lợi) thực hiện và phụng thờ ở điện Kondo (Kim Đường), chánh điện của Chùa Horyuji (Chùa Pháp Long). Hoàn tất vào năm 623 đúng một năm sau khi Ngài mất, người ta nói rằng pho tượng có kích thước giống y như kích thước của Thái Tử lúc sinh thời.

Trong những ngôi chùa do thánh đức thái tử xây dựng thì Chùa Shitennoji (Tứ Thiên Vương) ở Osaka (Đại Bản) là công trình nổi tiếng nhất mà Thái Tử để lại cho hậu thế.


[1] Sushun (Sùng-tuấn) trị vì từ năm 587 đến năm 592. (chú thích của ND. dựa theo “Phật Giáo ở Nhật-bản” của E. Dale Saunders.

[2]Tera’ trong tiếng Nhật-bản chỉ cho ‘ngôi chùa’ tương đương chữ ‘Thera’ trong tiếng Pàli chỉ cho ‘vị trưởng lão’. Có lẽ ‘Tera’ nghĩa là ‘nơi các vị trưởng lão cư trú’

[3] Những ngôi chùa khác biệt nhau thuộc về những tông phái khác nhau ở Nhật-bản đều là những trung tâm nghiên cứu, tu tập và truyền bá Giáo Pháp. Mặt khác, hầu hết những ngôi chùa đều thực hiện lễ tang, lễ giổ và giữ gìn những phần mộ trong nghĩa trang gia đình ngay trong đất chùa dành cho những thành viên của giáo hội; đây được xem là việc đương nhiên. Hệ thống gia tộc và mối liên hệ giữa người dân với hoàng tộc giờ đây đã biến chuyển và hình thành nên hệ thống Phật Giáo Nhật-bản.

[4]Shoja’ trong tiếng Nhật tương đương với từ ‘Vihara’ (Tịnh Xá) theo tiếng Bắc Phạn.

[5] Tiếng Nhật là ‘Jushichijo-no-Kempo’(Thập Thất Điều Đích Hiến Pháp).

[6] Một tác phẩm luận giải về Kinh Thắng-man.

[7] Ba bộ kinh đó là Hokke (Pháp Hoa), Shoman (Thắng-man), và Yuima (Duy-ma).

[8] Những tập sách nầy được gìn giữ tại chùa Horyuji (Chùa Pháp Long), Nara (Nại-lương), nhưng vào năm thứ 10 của Hoàng Đế Meiji (Minh Trị: 1877) chúng lại được tặng cho hoàng triều và ngày nay được chính Hoàng Đế bảo tồn.

[9] Avatansaka Sutra (Kinh Hoa Nghiêm). TD No. 278 (dịch sang tiếng Hoa năm 418 – 420, 60 quyển) và No. 279 (dịch sang tiếng Hoa năm 695 – 699. 80 quyển).

[10] Mahaparinirvana Sutra (Kinh Đại-bát Niết-bàn). TD No. 374 (dịch sang tiếng Hoa năm 416 – 423. 40 quyển).

[11] Prajnaparamita Sutra (Kinh Bát-nhã Ba-la-mật). TD No. 223 (dịch sang tiếng Hoa năm 403 – 404. 27 quyển) và No. 227 (dịch sang tiếng Hoa năm 408. 10 quyển).

[12] Saddharmapundarika Sutra (Kinh Diệu Pháp Liên Hoa). TD No. 262 (dịch sang tiếng Hoa năm 406. 7 quyển).

[13] Vimalakirtinirdesha Sutra (Kinh Duy-ma-cật Sở Thuyết). TD No. 475 (dịch sang tiếng Hoa năm 406. 3 quyển).

[14] Aryashrimaladevisinha vadanama mahayana Sutra (Kinh Đại Thừa Thắng Man Phu Nhân). TD No. 353 (dịch sang tiếng Hoa năm 436. 1 quyển).

[15] Khó mà hình dung được rằng những bộ kinh đồ sộ nầy đã xuất hiện ở Nhật-bản trong thời thánh đức thái tử nếu chúng ta nghĩ đến những khó khăn trong việc giao thông ở thời xa xưa nầy và việc sao chép khổ nhọc và chậm chạp mà người thời đó phải làm bằng tay với bút lông Trung Quốc và một loại mực cổ truyền của Ấn-độ. Có lẽ những bộ kinh nhỏ đã được chuyển vào Nhật-bản trước tiên và thánh đức thái tử đã nghiên cứu và viết sớ giải.

[16] Về phương diện bản nguyên thì Đức Phật Thích-ca Mâu-ni chỉ là một vị Phật lịch sử hóa hiện ra ở Ấn-độ mà thôi và đã trở lại hợp nhất với Đức Phật Pháp Thân.

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết: