CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Lược sử Phật giáo Nhật Bản - Chương 3

     

 

LƯỢC SỬ PHẬT GIÁO NHẬT BẢN

GS. Shinsho Hanayama

Tiến sĩ Thích Minh Thành dịch

            Nhà xuất bản TP.HCM - 2001  

Lời nói đầu

Lời người dịch

Chương 1: Phật Giáo Nhật-bản thời du nhập

Chương 2: Hoàng tử Shotoku (Xứng-đức)

Chương 3: Cuộc cải cách Taika

Chương 4: Phật Giáo thời Nại-lương

Chương 5: Phật Giáo Thời Bình An

Chương 6: Phật Giáo triều đại Liêm Thương

Chương 7: Thời cận đại và hiện tại

Chương 3: CUỘC CẢI CÁCH TAIKA

Sau khi thánh đức thái tử qua đời quyền lực độc đoán của dòng họ Soga (Tô-ngã) càng ngày càng tăng cuối cùng vào năm 643 đại thần Soga-no-Iruka (Tô-ngã Nhập-lộc) ở Ikaruga-no-Miya (Ban-cưu-cung), cung điện của thánh đức thái tử, tấn công và phá hủy tất cả những gì liên can với thánh đức thái tử. Những người thân thuộc của Thái Tử đủ sức mạnh để đánh bại dòng họ Soga (Tô-ngã) chỉ cần những người nầy có ý định chiến đấu và khởi binh. Nhưng đối với họ điều này chỉ đem đến tử vong và tang tóc cho nhiều người, đau khổ chất chồng lên đau khổ. Thay vì tạo nên thống khổ cho người khác họ đã nhìn thẳng vào bạo lực và chọn cái chết cao thượng. Đối với một số người thì hành động như vậy dường như quá đổi tiêu cực. Nhưng nếu phát động chiến tranh và ra tay sát hại thì đi ngược lại những điều mà Đức Phật đã dạy. Đối với họ phát động nội chiến quá lắm chỉ đưa đến một cuộc chiến thắng mà chiến thắng như vậy chỉ có tính chất tạm bợ. Thân bằng quyến thuộc của thánh đức thái tử đã thấm nhuần niềm tin đối với Chánh Pháp của Ngài như thế đó.

Chưa đầy 2 năm sau, Soga-no-Iruka (Tô-ngã Nhập-lộc) đã bị Noka-no-Oe-no-Oji (Trung-đại-huynh-hoàng-tử) và Nakatomi-no-Kamako (Trung-thần-khiêm-tử) giết chết ngay ngày mà đoàn sứ thần Đại Hàn yết kiến triều đình để dâng cống phẩm lên ngai vàng, cùng ngày đó Soga-no-Emishi (Tô-ngã-hà-di), cha của Iruka (Nhập-lộc) đã tự tử sau khi phóng hỏa thiêu đốt ngôi nhà của chính mình. Sau biến cố này quyền lực cai trị quốc gia của thiên hoàng được phục hồi trở lại. Và cuộc cải cách chính quyền trong năm 645 nầy được gọi là ‘Cuộc Cải Cách Taika’.[1]

Mới vừa 19 tuổi, Noka-no-Oe-no-Oji (Trung-đại-huynh-hoàng-tử) được phong tước Thái Tử và suốt 16 năm sau đó Ngài làm Nhiếp Chính Thái Tử cho Hoàng Đế Kotoku (Hiếu-đức) vị thiên hoàng thứ 36, và cho Nữ Hoàng Saimei (Tề-minh), mẹ của Ngài, vị thiên hoàng thứ 37. Vào năm 661 Noka-no-Oe-no-Oji (Trung-đại-huynh-hoàng-tử) đăng quang, lấy hiệu là Hoàng Đế Tenchi (Thiên-trí) và trị vì thêm 10 năm nữa.

Trong cuộc cải cách Taika, có nhiều đổi mới trong hệ thống chính quyền. Nhưng niềm tin đối với Phật Giáo vẫn là niềm tin không thay đổi. Từ triều đại của Hoàng Đế Kimmei (Khâm-minh) trở về sau các thiên hoàng và hoàng thân quốc thích càng lúc càng tăng trưởng niềm tin đối với Phật Pháp.

Do số lượng tu sĩ càng ngày càng nhiều nên vào năm thứ nhất[2] của cuộc cải cách Taika 10 vị Quốc Sư Phật Giáo đã được chính phủ tấn phong để phụ trách việc hướng dẫn các hàng tăng sĩ trên con đường nghiên cứu và tu tập Chánh Pháp. Những ngôi chùa và những công trình kiến trúc mà các vị thiên hoàng, hoàng tộc... trước đây hoạch định nhưng còn dỡ dang thì nay lại được xúc tiến thi công trở lại cho đến khi hoàn mãn.

Suốt triều đại của Hoàng Đế Saimei (Tề-minh)[3], cứ vào ngày rằm tháng 7 thì tất cả quan chức triều đình và thần dân đều được lệnh vân tập đến những ngôi chùa ở thủ đô để tụng kinh ‘Urabonkyo’ (Vu-lan-bồn) nhằm tưởng niệm thâm ân của cha mẹ và tổ tiên 7 đời. Lễ tưởng niệm này đã phát triển thành Lễ Hội ‘Urabon’e’[4], tức là Lễ Hội Vu-lan-bồn, một lễ hội mang tính chất quần chúng cả nước của Phật Giáo Nhật-bản.

Có một sự kiện đầy ý nghĩa xảy ra là trong lúc còn sinh tiền Nakatomi-no-Kamako (Trung-thần-khiêm-tử) bị bệnh trầm trọng. Ông là tổ phụ của dòng họ Fujiwara (Đằng-nguyên) về sau được gọi bằng tên Fujiwara-no-Kamatari (Đằng-nguyên-khiêm-túc). Ông qua đời năm 669. Lúc ông còn sống, Nữ Hoàng Saimei (Tề-minh) rất quan tâm đến bệnh tình của ông và hết lòng an ủi ông, Nữ Hoàng thỉnh rước cao tăng giảng Kinh Duy-ma để ông nghe. Chuyện thuật lại rằng nhờ vào sự an ủi tinh thần nầy mà vào năm 656 ông vượt qua được bệnh tật. Năm sau Ông xây dựng một ngôi chùa rồi hằng năm đọc tụng và nghiên cứu kinh Duy-ma. Việc nầy dần dần phát triển thành ‘Yuimae’ (Hội Duy-ma). Đây là một trong những hoạt động hằng năm của Phật Giáo có tính phổ biến nhất và quan trọng nhất được duy trì suốt thời đại Nara (Nại-lương) (710-783) và vẫn tiếp tục trong thời đại Heian (Bình-an) (784-1184) khi mà dòng họ Fujiwara (Đằng-nguyên) còn giữ những vị trí cao nhất trong việc điều hành đất nước.

Cũng trong triều đại Nữ Hoàng Saimei (Tề-minh), Ninnoe (Nhân-vương Hội) cũng bắt đầu hoạt động, chủ yếu là nghiên cứu và tụng đọc Ninnohannyakyo (Nhân-vương Bát-nhã Kinh). Hội nầy tin rằng qua việc hành trì đúng đắn Chánh Pháp người dân Nhật-bản sẽ tránh được những thiên tai và có được cuộc sống thanh bình. Từ đó dần dần người dân hướng về Phật Giáo và suốt thời Nara (Nại-lương) Kinh Nhân-vương Bát-nhã càng lúc càng được nghiên cứu và đọc tụng rộng khắp trên đất nước Nhật-bản. Đến thời đại Heian (Bình-an) thì việc tổ chức một ‘Nhân-vương Đại Hội’ đã trở thành một mỹ tục của quốc gia mà mỗi vị thiên hoàng phải làm ít nhất là một lần trong thời gian tại vị của mình.

Hoàng Đế Temmu (Thiên-vũ)[5] và Nữ Hoàng Jito (Trì-thống)[6] đã rất nhiệt tâm trong việc hoằng truyền Phật Pháp. Trong hai triều đại này Tam Tạng Kinh được sao chép và nghiên cứu, mỗi trung tâm hành chánh của địa phương đều có một ngôi chùa được xây dựng và Lễ ‘Hojo’ (Lễ Phóng Sinh) được tổ chức để trả lại trời mây non nước, trả lại tự do cho những con chim lồng cá chậu. Hành động nầy thể hiện hạnh nguyện từ bi của Đạo Phật. Ngày mà vị thiên hoàng nầy băng hà đã trở thành ngày quốc tang và mỗi năm đều có tổ chức lễ tưởng niệm; mỗi tháng người dân Nhật-bản dành ra 6 ngày để tu tập và thanh lọc thân tâm. Càng ngày những nhà sư được mời vào cung đình để cử hành các khóa lễ càng nhiều hơn, mặt khác Phật Giáo cũng đã lan tỏa đến cả những châu quận xa xôi hẻo lánh của nước Nhật-bản. Hoàng Đế Mommu (Văn-vũ) cháu nội của Hoàng Đế Temmu (Thiên-vũ) và Nữ Hoàng Jito (Trì-thống) đã công bố một chiếu chỉ về vấn đề tăng ni và tấn phong những vị Kokushis (Quốc Sư) để hướng dẫn cho dân Nhật-bản trên con đường tìm cầu tu học Giáo Pháp Phật-đà.


[1] nghĩa là cuộc ‘Đại Cải Cách’.

[2] năm 645.

[3] 655 – 661.

[4]Múa Vu-lan là một điệu múa xuất phát từ câu chuyện về Ngài Maudgalyana (Mục-kiền-liên) (Pali: Moggaliputtatissa), một đại đệ tử của Phật, trong ngày cuối của mùa ‘Ango’ (An Cư) đã cúng dường phẩm vật cho đại chúng Tăng-già. Câu chuyện kể rằng do công đức của hành động thiện lành nầy mà người mẹ của Ngài vốn là một tội nhân trong địa ngục quỷ đói được giải thoát và sinh vào cõi thiên giới. Khi mắt thấy được cảnh đó Ngài vô cùng sung sướng. Múa Vu-lan thường được người dân ở địa phương tổ chức trong khuôn viên của nhà chùa. Điệu múa nầy khêu gợi lòng biết ơn đối với những ông bà, cha mẹ, và thân bằng quyến thuộc. Tiếng Bắc Phạn ‘ullambana’ (có nghĩa là ‘treo ngược’) người Nhật-bản gọi là ‘Urabon’ hay ‘Bon’.

[5] là vị thiên hoàng thứ 40 và là người em trai của Hoàng Đế Tenchi (Thiên-trí).

[6] là vị thiên hoàng thứ 41 và là con gái của Hoàng Đế Tenchi (Thiên-trí).

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết: