CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !

Lược sử Phật giáo Nhật Bản - Chương 4

     

 

LƯỢC SỬ PHẬT GIÁO NHẬT BẢN

GS. Shinsho Hanayama

Tiến sĩ Thích Minh Thành dịch

            Nhà xuất bản TP.HCM - 2001  

Lời nói đầu

Lời người dịch

Chương 1: Phật Giáo Nhật-bản thời du nhập

Chương 2: Hoàng tử Shotoku (Xứng-đức)

Chương 3: Cuộc cải cách Taika

Chương 4: Phật Giáo thời Nại-lương

Chương 5: Phật Giáo Thời Bình An

Chương 6: Phật Giáo triều đại Liêm Thương

Chương 7: Thời cận đại và hiện tại

Chương 4: PHẬT GIÁO THỜI NẠI-LƯƠNG

Do chính sách của thánh đức thái tử nên sau khi hai nước thiết lập được mối quan hệ thì Nhật-bản và Trung Hoa đã phái những đoàn sứ thần thăm viếng nhau và các sinh viên được gửi đi du học Phật Pháp và các môn văn hóa khác ở Trung Quốc rồi trở về Nhật-bản càng ngày càng đông. Trong giai đoạn đầu nầy có những sinh viên lưu trú ở Trung Hoa từ 20 năm đến 30 năm để học hỏi và họ đã mang về Nhật-bản những kho tàng tri thức về những giáo lý của các tông phái Phật Giáo hưng thịnh ở Trung Quốc. Tuy có nhiều tông phái khác nhau nhưng chỉ có 6 tông phái được chính thức công nhận trong triều đại của Nữ Hoàng Koken (Hiếu-khiêm)[1], đó là :

1. Saronshu (Tam Luận Tông),

2. Hososhu (Pháp Tướng Tông),

3. Kengonshu (Hoa Nghiêm Tông),

4. Rikushu (Luật Tông),

5. Jojitsushu (Thành Thật Tông), và

6. Kushashu (Câu-xá Tông).

Những tông phái nầy có một tên chung là ‘Nanto[2] Rokushu’ (Nam Đô Lục Tông).

1. Saronshu (Tam Luận Tông):

Giáo thuyết của Saronshu (Tam Luận Tông) dựa trên 3 bộ luận: Churon (Trung Luận)[3], Junimonron (Thập Nhị Môn Luận)[4]Hyakuron (Bách Luận)[5]. Hai bộ luận đầu của Nagarjuna (Long-thọ) và bộ luận thứ ba của Aryadeva (Thánh Thiên), một đệ tử của Nagarjuna (Long-thọ). Ba bộ luận này đã được các triết gia Phật Giáo Trung Hoa nghiên cứu và bình giảng sâu rộng ngay sau khi được thỉnh về Trung Hoa và được Kumarajiva (Cưu-ma-la-thập) phiên dịch vào năm 409. Ba bộ luận này được Kichizo (Cát-tạng) còn có danh hiệu là là Kajo-Daishi (Gia-tường Đại Sư: 549 - 623) hệ thống lại và khai sáng nên một tông phái triết học Phật Giáo.

Theo những tư liệu lưu trữ thì Ekan (Tuệ-quán) ở Hàn Quốc là người đầu tiên đã đưa Saronshu (Tam Luận Tông) vào Nhật-bản năm 625. Lúc đầu Ekan (Tuệ-quán) đã học giáo thuyết của tông phái này trực tiếp từ Kajo-Daishi (Gia-tường Đại Sư) rồi về trú ở chùa Gangoji (chùa Nguyên Hưng)[6] và truyền rộng giáo lý nầy. Sau đó, những học giả như Chizo (Trí-tạng) và Doji (Đạo-từ) xuất dương sang Trung Quốc vào thời nhà Đường. Hai vị nầy trở về Nhật-bản và làm cho Tam Luận Tông phát triển rộng rãi hơn. Nổi bật là vào năm 701, Doji (Đạo-từ) sang Trung Hoa và ở suốt 18 năm để nghiên cứu nhiều giáo lý khác nhau ngoài Tam Luận. Doji (Đạo-từ) trở về Nhật-bản và xây dựng được một hệ thống giáo nghĩa của Tam Luận Tông với một nền tảng triết học uyên thâm và phức tạp hơn so với Tam Luận Tông do Kichizo (Cát-tạng) thành lập ở Trung Hoa. Vì Doji (Đạo-từ) sống ở chùa Daianji (Đại An) nên Tam Luận Tông của phái Doji (Đạo-từ) còn có tên là ‘Phái Daianji’ (Phái Đại An Tự) để phân biệt với ‘Phái Gangoji’ (Phái Nguyên Hưng Tự) do Ekan (Tuệ-quán) thành lập. Sau đó, những phái khác thuộc Tam Luận Tông cũng lần lượt xuất hiện như ‘Phái Saidaiji’ (Phái Tây Đại Tự) và ‘Phái Todaiji’ (Phái Đông Đại Tự).

Ngày nay số sách do những học giả Tam Luận Tông thời Nara (Nại-lương) còn lại rất ít như ‘Jomyogenronryakujutsu’ (Tịnh-danh-huyền-luận-các-thuật), ‘Hannyashingyojutsugi’ (Bát-nhã-tâm-kinh-thuật-nghĩa) của Chiko (Trí Quang: 709 - 780) và một vài tác phẩm nữa mà thôi. Những tác phẩm này chứng tỏ rằng những học giả thuộc Tam Luận Tông thời Nara (Nại-lương) không chỉ giới thiệu hệ thống giáo nghĩa do Kichizo (Cát-tạng) xây dựng mà còn nghiên cứu tường tận giáo lý Trung Quán của Nagarjuna (Long Thọ) và Aryadeva (Thánh Thiên) do Huyền Trang (600 - 664) mang về Trung Quốc, đồng thời cũng học hỏi hệ thống triết học ‘Hosso’ (Pháp Tướng) của ‘Kiki’ (Khuy-cơ: 632 - 682), một người học trò của Huyền Trang.

Mặc khác, những học giả Tam Luận Tông thời Nara (Nại-lương) tin thông hầu hết những kinh luận quan trọng của Phật Giáo Đại Thừa và cả những những bộ chú giải nổi tiếng của Phật Giáo Tiểu Thừa như ‘Kusharon’ (Câu-xá Luận)[7], và ‘Jojitsuron’ (Thành Thật Luận)[8]. Những học giả nầy còn biết đến ký thuật của Huyền Trang về chuyến du hành Ấn-độ của ông ta và cả những bản sớ giải do học trò của Huyền Trang biên soạn. Những bản sớ giải về Kinh Pháp Hoa và Kinh Duy-ma do Thái Tử Shotoku (Xứng-đức) biên soạn được người Nhật-bản lưu hành rộng rãi và tụng niệm thường xuyên. Có thể giả định rằng vì những học giả này đứng trên nguyên lý ‘mushotoku’ (vô sở đắc) hay là ‘non-attachment’ (vô sở trước) nên họ không tự xưng mình thuộc về Tam Luận Tông. Họ thuộc Phật Giáo Đại Thừa nhưng từ Đại Thừa mà họ dùng ở đây không mang nghĩa đối đải với từ Tiểu Thừa. Nó vượt qua khỏi cả hai khái niệm Đại Thừa và Tiểu Thừa. Nó là cái ‘tuyệt đối cao nhất’. Nó là Pháp Tánh hay là Sự Chứng Ngộ mà người ta đạt được qua giáo lý có hình thức phủ định như ‘tánh không’ hay ‘hư vọng’. Vì vậy triết lý về cuộc sống của những học giả Đại Thừa nầy tất nhiên có khuynh hướng thụ động. Trong những bài viết của mình họ thường chỉ trích gay gắt những nhà sư trí thức của Pháp Tướng Tông vì những nhà sư trí thức nầy (năng động và) hay liên can tới chính trị. Mục tiêu của chỉ trích là nguyên tắc mà theo đó Pháp Tướng Tông chia con người thành 5 hạng khác nhau rồi nói về một hạng người không có Phật Tính[9] nghĩa là không có khả năng thành Phật. Những học giả thuộc Tam Luận Tông phản đối giáo lý này của Pháp Tướng Tông, cho nó là ma thuyết và mạnh mẽ bảo vệ nguyên lý: tất cả chúng sanh đều bình đẳng đối với việc chứng đạt quả vị Phật. Đây là nguyên lý chơn chánh trong giáo pháp Phật-đà.

2. Hososhu (Pháp Tướng Tông):

Pháp Tướng Tông (Hossoshu) là một Tông Phái thuộc hệ tư tưởng Đại Thừa của Maitreya (Di-lặc: 270 - 350)[10], Asanga (Vô-trước: 310 - 390)[11], và Vasubandhu (Thế-thân: 320 - 400)[12] của Ấn-độ. Hệ tư tưởng Pháp Tướng Tông được Bodhiruchi (Bồ-đề-lưu-chi: – 535)[13]Paramartha (Chân Đế: – 569)[14]... truyền vào Trung Hoa nhưng mãi tới khi Ngài Huyền Trang từ Ấn Độ trở về thì nhiều bản kinh và sớ giải mới được dịch sang chữ Hán. Dựa trên những bản tân dịch này Kiki (Khuy-cơ), tức Jion-Daishi (Từ Ân Đại Sư) và những vị đồng môn đã phát huy giáo nghĩa và hệ thống chúng lại thành Pháp Tướng Tông, một trong những tông phái triết học Phật Giáo. Người đầu tiên mang giáo lý Pháp Tướng Tông truyền vào Nhật-bản Bản là Dosho (Đạo Chiếu: 629 - 700). Năm 653 Dosho (Đạo Chiếu) đến Trung Hoa vào triều đại nhà Đường. Ông theo học với Huyền Trang và được Huyền Trang trọng thị và thương mến. Nhưng vào thời điểm này ở Trung Hoa giáo nghĩa Pháp Tướng Tông chưa trở thành một hệ thống hoàn bị. Người ta cho rằng chính Dosho (Đạo Chiếu) đã mang về Nhật-bản bản dịch Hoa ngữ của bộ Joyuishikiron (Thành Duy Thức Luận). Sau khi về Nhật-bản Dosho (Đạo Chiếu) đã dấn thân vào việc an sinh xã hội. Dosho (Đạo Chiếu) du hành khắp nước Nhật-bản, đàu giếng dọc theo các nẻo đường cái quan, nâng cấp hệ thống giao thông qua việc xây cầu và sắm sửa thuyền bè. Người ta kể rằng cầu Uji ở xứ Uji (Vũ-trị) ngày xưa là do Ngài xây dựng. Năm 700 Dosho (Đạo Chiếu) mệnh chung thọ 72 tuổi. Vâng theo lời di chúc những đệ tử đã hỏa thiêu nhục thân của Ngài. Đây là lễ hỏa táng nhục thân đầu tiên xảy ra ở Nhật-bản.[15] Như vậy tập tục hỏa táng của Ấn-độ và của Phật Giáo đã được người Nhật-bản chấp nhận và thay thế cho tập tục mai táng của nước nầy. Khi giáo lý Phật Giáo được truyền bá rộng rãi thì tập tục hỏa táng cũng theo đó mà được lan tỏa. Điều đáng ghi nhận là sau lễ tang của Dosho (Đạo Chiếu) thì cựu thiên hoàng Jito (Trì-thống) và hoàng đế Mommu (Văn Vũ)[16] cũng được hỏa táng theo di chúc để lại[17]. Và không ít những trường hợp do tiền lệ thi hài của những Hoàng Đế được trà tỳ và nhờ việc này mà chi phí của táng sự chắc chắn là giảm đi nhiều. Có thể là tập tục hỏa táng nầy đã có ảnh hưởng đến tập tục kính sợ đối với thi hài người chết trong tín ngưỡng nguyên sơ. Chúng ta cũng biết rằng khi Phật Giáo được hoằng truyền sâu rộng thì số tiền tiết kiệm được nhờ việc hỏa táng đã góp phần xây dựng nhiều ngôi chùa to lớn.

Theo gương tiền bối Dosho (Đạo Chiếu), Chitsu (Trí-thông) và Chitatsu (Trí-đạt) vào năm 658 cũng xuất dương đi Trung Quốc và theo học với Huyền Trang. Sau đó Chiho (Trí-phụng), Chiran (Trí-loan), và Chiyu (Trí-hùng) năm 703, rồi đến Gembo (Huyền-phưởng) năm 716 lần lượt sang Trung Quốc để học đạo. Những tăng sinh nầy theo học giáo nghĩa Pháp Tướng Tông lúc bấy giờ đã là một hệ thống giáo lý được xây dựng hoàn chỉnh ở Trung Hoa dưới sự truyền dạy của những học giả như Chishu (Trí-châu) và những vị đạo sư khác rồi trở về Nhật-bản. Trong thời gian thọ học đặt biệt là Gembo (Huyền-phưởng) được hoàng đế Genso (Huyền Tông) của Trung Hoa ban tặng tử y và tôn lên hàng Tam Phẩm. Năm 735 Gembo (Huyền-phưởng) trở về Nhật-bản mang theo 5.000 quyển kinh sách Phật Giáo. Thật ra trước khi Ngài trở về nước thì Tam Tạng kinh điển và sớ giải đã được thỉnh về Nhật-bản rồi và dường như cũng đã được sao chép và ấn tống trong dân gian. Tuy vậy dường như 5.000 quyển kinh sách do Gembo (Huyền-phưởng) thỉnh về rất được trân quý và được xem là những quyển căn bản trong việc sao chép. Việc sao chép kinh điển trong thời Nara (Nại-lương: 710 - 783)[18] là một công trình vĩ đại và hoàn thành viên mãn với công trợ của nhà nước.

Lúc đầu tông Hososhu (Pháp Tướng Tông) được Dosho (Đạo Chiếu) đệ nhất tổ sư của tông phái này xây dựng qua việc giảng thuyết ở chùa Gangoji (Chùa Nguyên Hưng). Vì vậy mà Phái Nguyên Hưng của Pháp Tướng Tông xuất hiện. Vị đạo sư thứ tư Gembo (Huyền-phưởng) lại thành lập một phái nữa ở chùa Kobukuji (Chùa Hưng Phước). Sau đó vô số trung tâm học tập và nghiên cứu Pháp Tướng Tông cũng ra công nghiên cứu xây dựng hệ thống tư tưởng của riêng mình. Đó là phái chùa Todaiji (Chùa Đông Đại), phái chùa Saidaiji (Chùa Tây Đại), phái chùa Yakushiji (Chùa Dược Sư), phái chùa Daianji (Chùa Đại An), và phái chùa Horyuji (Chùa Pháp Hưng). Đặc biệt vì chùa Gangoji (Chùa Nguyên Hưng) và chùa Kobukuji (Chùa Hưng Phước) là những ngôi chùa vĩ đại tọa lạc về hướng nam và hướng bắc của hồ Sarusawa (Viên Xích), nên trong nội bộ Pháp Tướng Tông xuất hiện những dẫn giải như Nanjiden (Nam Tự Truyền), có nghĩa là ‘Giáo nghĩa được truyền thừa trong Chùa Nam’, và Hokujiden (Bắc Tự Truyền), có nghĩa là ‘Giáo nghĩa được truyền thừa trong Chùa Bắc’.

Gyogi (Hành Cơ: 670 - 749), đã thọ học với Dosho (Đạo Chiếu) rồi du hành khắp nơi và xây dựng những cây cầu, bến nước, bến cảng, và những nhà nghỉ miển phí ven đường cho khách lữ hành. Ông ta đưa lý tưởng Bồ-tát vào cuộc đời hiện thực. Ông ta cũng góp sức vào việc xây dựng pho tượng Phật vĩ đại ở Nara (Nại-lương). Lúc ông ta mệnh chung năm 749 hoàng triều phong tặng ông ta tước hiệu ‘Bồ-tát’. Vì vậy mà người Nhật-bản gọi ông ta là ‘Gyogi-Bosatsu’, có nghĩa là ‘Hành Cơ Bồ-tát’. Trong lịch sử Nhật-bản hầu như không có ai được phong tặng danh xưng ‘Bồ-tát’ trừ vài ba người trong thời Kamakura (Liêm Thương: 1185 - 1333).

Theo giáo lý Pháp Tướng Tông thì bản chất thật sự của các pháp vượt ra ngoài phạm vi của kiến thức và lý giải. Giáo lý nầy cho rằng người ta chỉ có thể biết được và lý giải được chừng mực nào đó những biểu hiện bề ngoài của các pháp. Nói như vậy có nghĩa là thế giới của Chân Đế vượt khỏi phạm vi kinh nghiệm của con người. Do vậy nên rất tự nhiên là những tu sĩ tông Hososhu (Pháp Tướng Tông) chú tâm vào những tướng dạng bên ngoài của các pháp, tức là sự sống và thế gian nầy.[19]

Zenju (Thiện Châu: 723 - 797), một đồ đệ của Gembo (Huyền-phưởng), đã biên soạn rất nhiều bản sớ giải trong đó nỗi tiếng nhất là ‘Joshaku’ (một tập) luận giải về ‘Joyuishikironjukki’ (Thành Duy Thức Luận Thuật Ký) của Kiki (Khuy-cơ), và ‘Zomyoki’ (Tăng Minh Ký) (4 tập) luận giải về ‘Joyuishikironryogito’ (Thành Duy Thức Luận Liễu Nghĩa Đăng) của Esho (Nguyệt-chiếu). Zenju (Thiện Châu) cũng là soạn giả của 24 tác phẩm gồm tất cả là 59 quyển trong đó cũng có những tác phẩm chú giải về những bộ kinh Đại Thừa như kinh Mirokukyo (Kinh Di-lặc), kinh Yakushikyo (Kinh Dược Sư), và kinh Bommokyo (Kinh Phạn Võng), tất cả đều còn được bảo tồn. Những bộ kinh nầy thật sự đã được người dân thời Nara (Nại-lương) tụng đọc và nghiên cứu rộng rãi.

Bây giờ, nếu chúng ta đi vào việc nhận định đôi điều trong giáo thuyết của tông Hososhu (Pháp Tướng Tông) thì chúng ta có thể nói rằng mặc dầu tất cả mọi người đều mong được giác ngộ nhưng có những người trong thế gian nầy thật sự vẫn bị lôi cuốn và ràng buộc vào các ác pháp. Như vậy giữa lý tưởng và thực tế vẫn còn một khoảng cách chưa xóa được. Đó chính là cuộc sống. Và khi chúng ta liên hệ đến luật nhân quả thì quả thật những lời dạy trong giáo thuyết của tông Hososhu (Pháp Tướng Tông) là có cơ sở. Tông nầy nói rằng trong cõi người ta có icchantika (những con người không có thiện căn) hay atyantika (những con người không có Phật tánh)[20]. Và vì con người thời Nara (Nại-lương) mang tính chất bảo thủ và có đầu óc tôn ty trật tự, chúng ta có thể nói rằng nguyên tắc phân chia nhân loại thành năm hạng người căn bản của tông Hososhu (Pháp Tướng Tông) đã dễ dàng được người ta đón nhận. Nhưng dĩ nhiên là tư tưởng nầy trong giáo lý Pháp Tướng Tông không thể nào dung thông với tư tưởng phóng khoáng đối với cuộc đời trong Kinh Phạn Võng, kinh nầy đặc biệt chứa đựng ý tưởng phóng khoáng như sau: Chúng sinh trong 6 cõi mê lầm (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, a-tu-la, nhơn và thiên) cuối cùng đều là cha mẹ của ta. Lấy khái niệm hiếu thảo làm ví dụ. Người thế gian nói rằng giết người phải đền mạng. Nhưng đối phó với hận thù bằng hận thù thì giống như ‘chửa lữa bằng cỏ khô’. Giờ đây Phật Giáo dạy rằng hận thù cần phải hóa giải bằng tình thương. Điều nầy có nghĩa là ‘chữa lữa bằng nước’. Zenju (Thiện Châu) đã nói như thế. Hành xữ như thế là vượt lên sự đối kháng và quan hệ đối đãi. Giáo lý nầy đã khai phóng cho quan niệm hẹp hòi về chữ hiếu đã rất là phổ biến lúc bấy giờ là làm con thì phải trả thù cho cha.

3. Kengonshu (Hoa Nghiêm Tông):

Hoa Nghiêm Tông (Kegonshu) dựa trên tông chỉ của kinh Kegongyo (Kinh Hoa Nghiêm), một trong những bộ kinh đại thừa. Hoa Nghiêm Tông (Kegonshu) được Hozo (Pháp Tạng) tức là Genju-Daishi (Hiền Thủ Đại Sư: 643 - 712) của Trung Quốc thành lập. Tông chỉ của Hoa Nghiêm Tông (Kegonshu) là giáo lý Nhất Thừa (một cổ xe) và tín đồ của Tông nầy xem đó là chơn lý tối hậu. Ở Trung Quốc thì Tam Luận Tông (Saronshu) xuất hiện trước tiên rồi đến Thiên Thai Tông (Tendaishu). Đến khi những bộ kinh mới được thỉnh về từ Ấn-độ thì Pháp Tướng Tông (Hososhu) ra đời rồi mới đến Hoa Nghiêm Tông (Kegonshu). Chính vì vậy nên giáo lý của Hoa Nghiêm Tông (Kegonshu) có cơ sở vững chắc hơn. Ở Nhật-bản cũng vậy Saronshu (Tam Luận Tông) và Hososhu (Pháp Tướng Tông) xuất hiện trước rồi mới đến Kengonshu (Hoa Nghiêm Tông). Vào năm 722, bộ Kegongyo (Kinh Hoa Nghiêm) 80 quyển[21] được sao chép để tưởng nhớ đến cố thiên hoàng Gemmyo (Nguyên Minh). Điều nầy nói lên rằng rất có thể bộ Kegongyo (Kinh Hoa Nghiêm) 60 quyển được đưa đến Nhật-bản trước năm 722. Vào năm 740, Shinjo (Thẩm Tường) của Shiragi (Tân-la)[22] đã luận giảng về bộ Kegongyo (Kinh Hoa Nghiêm) 60 quyển dựa trên bộ Kegongyotangenki (Hoa Nghiêm Kinh Thâm Huyền Ký) 20 quyển của Hozo (Pháp Tạng). Như vậy Shinjo (Thẩm Tường) được xem như là vị đạo sư đầu tiên của tông Kengonshu (Hoa Nghiêm Tông) Nhật-bản. Và chúng ta có thể nói rằng những học giả tông Kengonshu (Hoa Nghiêm Tông) ở thời Nara (Nại-lương) chuyên tâm nghiên cứu hệ thống tư tưởng của Hozo (Pháp Tạng). Mặt khác những ghi chép còn lưu lại cho chúng ta biết rằng dân chúng trong thời đại nầy có thể đã có trong tay nhiều bộ chú giải của những học giả khác như Eko (Tuệ Quang: – 550) và Eon (Tuệ Viễn: 523 - 592) trụ trì chùa Joyoji (Tịnh Ảnh Tự), tác giả của Kanjoki (San Định Ký)[23] đều là bậc tiền bối của Hozo (Pháp Tạng). Ngoài ra còn có những học giả khác của tông Kengonshu (Hoa Nghiêm Tông) Hàn Quốc như Gangyo (Nguyên Hiểu: 617 –?) và Gisho (Nghĩa Tương: –702). Như vậy có nghĩa là việc nghiên cứu tông Kengonshu (Hoa Nghiêm Tông) ở Nhật-bản không chỉ dựa trên Hozo (Pháp Tạng) mà thôi. Dù vậy, dường như trong việc nghiên cứu bộ kinh nầy Nhật-bản không có thêm được một phát kiến nào mới cả. Tuy nhiên, chúng ta có thể đề cập đến sự kiện Jurei (Thọ Linh) ở chùa Todaiji (Chùa Đông Đại) đã viết một bản sớ giải tựa là Kengongokyoshoshijiki (Hoa Nghiêm Ngũ Giáo Chương Chỉ Sự Ký) 6 quyển.[24] Đây được xem là quyển sớ giải cổ xưa nhất ở cả Trung Hoa và Nhật-bản về tác phẩm Kengongokyosho (Hoa Nghiêm Ngũ Giáo Chương)[25] của Hozo (Pháp Tạng).

Trong Kengongokyosho (Hoa Nghiêm Ngũ Giáo Chương), Hozo (Pháp Tạng) phân chia toàn bộ hệ thống Phật Giáo thành năm thời: 1) Shojo (Phật Giáo Tiểu Thừa), 2) Daijoshikyo (Giáo lý đầu tiên của Đại Thừa),[26] 3) Daijoshugyo (Giáo lý cuối cùng của Đại Thừa),[27] 4) Tongyo (Giáo lý về sự Đốn Ngộ),[28] và 5) Engyo (Viên Giáo),[29] rồi bình luận về giáo thuyết theo sự phân chia đó. Ngài được xem là người trình bày ra được những chiều sâu của giáo lý. Những học giả tông Kengonshu (Hoa Nghiêm Tông) ở Nhật-bản ngày nay vẫn còn xữ dụng cách phán giáo (5 loại) đó để nhận thức giáo lý Phật Giáo. Họ tiếp tục chấp nhận những nguyên lý như Shinnyofuhen (Chân Như - Tathata),[30]Goshokakubetsu (Năm hạng chúng sinh sai biệt căn bản).[31] Nhưng quan điểm như thế đối với cuộc đời thì không thể so được với giáo thuyết Shinnyozuien (Chân Như Tùy Duyên) của Daijokishinron (Đại Thừa Khởi Tín Luận), giáo thuyết nầy nói rằng Chơn Lý có hình thức khác nhau tùy theo tình cảnh, hay giáo thuyết Nhất Thừa nói về một cổ xe duy nhất của kinh Hokekyo (Kinh Pháp Hoa) và kinh Nehangyo (Kinh Niết-bàn), giáo thuyết nầy nói rằng tất cả loài chúng sinh đều có thể đạt được sự giác ngộ như nhau và không hề có sự khác biệt cơ bản nào cả. Tuy nhiên, ở cuối phần luận giải cho sự phân loại nầy Hozo (Pháp Tạng) đi đến một kết luận và nói rằng tông yếu tối thượng của tất cả giáo thuyết Phật Giáo là trình bày mối liên hệ nhân quả bất tuyệt ‘Một là tất cả ’ và ‘Tất cả là một’. Kinh Nehangyo (Kinh Niết-bàn) trình bày ba chủng tánh Thinh Văn, Duyên Giác và Bồ-tát và nói về một Nhất Thừa dựa trên Tánh Không, trong khi đó kinh Hokekyo (Kinh Pháp Hoa) nói rằng những pháp môn và những chứng đạt Tiểu Thừa của hai hạng Thinh Văn và Duyên Giác rốt lại cũng bình đẳng với hàng Bồ-tát, tất cả đều nằm trong một thừa duy nhất là Nhất Thừa. Quan điểm trên là quan điểm Nhất Thừa được nhìn từ phương diện tương đối. Nhưng kinh Kegongyo (Kinh Hoa Nghiêm) từ khởi thủy đã nói về Giác Ngộ Biến Mãn[32]. Như vậy chúng ta có thể nói rằng đó là giáo nghĩa cao nhất trong những giáo lý Nhất Thừa.

Như vậy tông Kengonshu (Hoa Nghiêm Tông) với giáo lý Nhất Thừa Hoa Nghiêm đã có ưu thế nhất để phát triển. Tuy nhiên, triều đại Nara (Nại-lương) đi đến chổ cáo chung sau 20 năm và giáo lý tông Kengonshu (Hoa Nghiêm Tông) phải nhường chổ cho những giáo thuyết Phật Giáo mới xuất hiện trong triều đại Heian (Bình An) là Tendai (Thiên Thai) và Shingon (Chơn Ngôn). Thật ra có thể nói rằng tông Tendaishu (Thiên Thai Tông) và tông Shingonshu (Chơn Ngôn Tông) chính là tông Kegonshu (Hoa Nghiêm Tông) được khoác vào những hình thức mới mà thôi.

4. Rikushu (Luật Tông):

Luật Tông (Ritsushu) là một tông phái chuyên tâm về ‘luật tạng’ hay những giới điều đạo đức mà Đức Phật đã giáo huấn cho những đệ tử của Ngài. Luật tạng là một trong Tam Tạng, tức là ‘Ba Kho Tàng’ hay ‘Ba Bộ Sưu Tập’, đó là: 1) Kinh Tạng (sutra), chứa đựng những lời dạy của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni; 2) Luật Tạng (vinaya) là những học giới mà Đức Phật đã chỉ dạy; và 3) Luận Tạng (abhidharma) bao gồm những lý giải về những bài kinh và những học giới. Trong những giới điều được các tông phái Phật Giáo ở Ấn-độ truyền thừa thì Tứ Phần Luật (Shibunritsu) được Ngài Pháp Ẩn (Dharmagupta) và môn nhơn thọ trì được xem là thánh điển. Eiei (Vinh Đốc) và Fusho (Phổ Chiếu) đã đi sang Trung Quốc năm 733 và thấy rằng tất cả các chùa đều xem việc tuân hành giới luật là tiền đề để một người được gia nhập vào tăng chúng. Biết rằng ở Nhật-bản lúc bấy giờ chưa có một giới sư có thể làm hòa thượng đàn đầu cử hành lễ truyền giới nên Eiei (Vinh Đốc) và Fusho (Phổ Chiếu) thỉnh Đạo Tuyền (Dosen) đến Nhật-bản để hướng dẫn nghi lễ truyền trao giới luật. Sau Đạo Tuyền (Dosen) là Ngài Giám Chân (Ganjin). Thật ra có những sự kiện chứng tỏ rằng trước đó những giới điều trong chừng mực đã được tăng chúng ở Nhật-bản hành trì rồi. Từ thời Đức Phật những điều luật đã được chư tăng hành trì chặt chẻ, nghiêm khắc và việc nghiêm trì giới luật là điều kiện tiên quyết để một người gia nhập tăng đoàn. Theo luật định thì việc truyền thọ đại giới phải có 10 vị đạo sư thông hiểu việc trao truyền giới pháp trong một đàn tràng gọi là Giới Đàn (Kaidan) với những lễ nghi thích hợp. Trong nước Nhật-bản lúc bấy chưa có vị đạo sư nào có đủ chuẩn mực để có thể làm đàn đầu và những vị có thể làm chứng minh truyền giới. Đạo Tuyền (Dosen) đã đến Nhật-bản năm 736 để giảng dạy giới luật nhưng lại không thể tổ chức giới đàn để truyền giới vì thiếu những vị đạo sư đủ tư cách. Tuy nhiên vào năm 754, Giám Chân (Ganjin) đã đến Nhật-bản cùng với 14 đạo sư, 3 ni cô, và 24 thiện nam. Thế là lần đầu tiên một đàn tràng đã được thiết lập và nghi lễ truyền giới được thực hiện ở Nhật-bản. Đàn tràng nầy kết thúc khi chùa Todaiji (Chùa Đông Đại) ở Nara (Nại-lương) khánh thành. Lúc đó người Nhật-bản rất khát ngưỡng Phật Pháp và việc phái đoàn đầy đủ chuẩn mực truyền giới của Giám Chân (Ganjin) đến Nhật-bản là một điều từ trước tới giờ chưa-từng-được-nghe. Cựu thiên hoàng Shomu (Thánh Vũ) và Hoàng Hậu Koken (Hiếu-khiêm)[33] hân hoan đón rước. Điều làm cho họ mọi người xúc động dữ dội là tấm lòng nhiệt huyết của Giám Chân (Ganjin). Ông ta không màng việc an nguy của bản thân trong chuyến đi nầy. Chuyện kể lại rằng khi Eiei (Vinh Đốc) và Fusho (Phổ Chiếu) lần đầu tiên yết kiến Giám Chân (Ganjin) ở Trung Quốc bèn mời Ngài đến Nhật-bản. Giám Chân (Ganjin) đã kêu gọi hàng môn nhơn của mình tình nguyện sang Nhật-bản nhưng không ai muốn rời khỏi thầy mình, Giám Chân (Ganjin) phải quyết định đích thân đến Nhật-bản. Nghe được quyết định của thầy nhiều môn đồ xin được tháp tùng. Suốt 7 năm dài đằng đẳng Giám Chân (Ganjin) đã cố gắng 6 lần, vượt qua không biết bao nhiêu là chướng ngại, cuồng phong, hải tặc, chính quyền... cuối cùng trong lần cố gắng thứ sáu Giám Chân (Ganjin) đã quá giang một đoàn thuyền của sứ bộ của Nhật-bản trên đường trở về. Trải qua một hành trình gian khó, cuối cùng thuyền đã cập vào bờ biển Nhật-bản và Giám Chân (Ganjin) đi đến thủ đô Nara (Nại-lương) thời bấy giờ.

Vào tháng tư năm 754, tức là năm mà Giám Chân (Ganjin) và đoàn người tháp tùng Ngài đến nước Nhật, một Kaidan (Giới Đàn), tức là một đàn tràng mà nghi lễ truyền thọ giới có thể tiến hành[34] được xây đắp tức thời trước cửa chùa Todaiji (Chùa Đông Đại), nơi mà vị đương kim thiên hoàng Koken (Hiếu-khiêm), cựu thiên hoàng Shomu (Thánh Vũ) và phu nhân là Komyo-Kogo (Quang Minh Hoàng Hậu) được thọ lãnh Bồ-tát giới. Tiếp theo là những vị bộ trưởng trong nội các. Chuyện kể lại rằng Giám Chân (Ganjin) truyền trao giới pháp cho 440 vị và giới tỷ kheo cho 80 vị. Đây là lễ truyền giới đầu tiên được tổ chức ở Nhật-bản. Kaidan (Giới Đàn) sau đó được dời đến phía Tây của chùa Todaiji (Chùa Đông Đại) và một đàn tràng cố định được người ta xây dựng tại đây. Giới đàn nầy vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay và được gọi là Kaidan’in (Giới Đàn Viện). Sau sự kiện truyền giới đúng pháp nầy dân chúng bắt đầu đổ xô về Nara (Nại-lương) để học hỏi và được thọ lãnh giới cư sĩ. Thiện nam tín nữ Nhật-bản đã xây dựng ngôi chùa Toshodaiji (Đường Chiêu Đề Tự) để dâng cúng cho Giám Chân (Ganjin). Như vậy Giám Chân (Ganjin) trở thành vị tổ sư khai sáng chùa Toshodaiji (Đường Chiêu Đề Tự) và Luật Tông ở Nhật-bản.

Giám Chân (Ganjin) đã mang theo những bản sớ giải Luật Tạng của Đạo Tuyền (Dosen: – 667), tổ sư khai sơn của Tứ Phần Luật Tông (Shibunritsushu) ở Trung Quốc, của Pháp Lệ (Horei: – 635) và Hoài Tố (Kaiso: – 698), ngoài ra còn có bộ Kinh Hoa Nghiêm (Kegongyo)[35] chữ vàng gồm tám mươi quyển, bộ Kinh Nam Bản Niết-bàn (Nampon Nehangyo),[36] Bộ Kinh Tam Đại (Sandaibu) và những bộ kinh khác của Tông Thiên Thai (Tendaishu). Điều nầy cho thấy rằng trong nhóm người tháp tùng theo Giám Chân (Ganjin) có người thuộc Tông Thiên Thai (Tendaishu). Những buổi lễ truyền giới được cữ hành theo đúng những nghi thức của Trung Quốc gốc gác từ Ấn-độ nhưng quan niệm của Phật Tử Nhật-bản đối với giới luật không nhất thiết phải là Tiểu Thừa. Địa lý, thời tiết và phong tục... có thể đã khiến họ không thể cử hành những nghi thức như ở Ấn-độ. Người Nhật-bản tu tập giới luật theo tinh thần phóng khoáng của Bồ-tát Đại Thừa. Giờ đây, Hosshin (Pháp Tấn) của sơn môn Giám Chân (Ganjin) sau khi Giám Chân (Ganjin) qua đời đã trở thành vị hòa thượng đàn đầu thứ hai của Kaidan’in (Giới Đàn Viện) chùa Todaiji (Chùa Đông Đại). Năm 761, Hosshin (Pháp Tấn) có viết một bản sớ giải nhan đề là Shamijikkaiigikyosho (Sa-di Thập Giới Oai Nghi Kinh Sớ). Trong tác phẩm nầy Hosshin (Pháp Tấn) đã liệt kê 5 hạng người như sau:

1) Những người hành trì Tam Quy (Sanki) (nghĩa là đặt niềm tin vào 3 Ngôi Báu, tức là đức Phật, Giáo Pháp và Chúng Tăng) và Ngũ Giới (Gokai) tức là giữ Năm Giới gồm không sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, và uống rựu, thời sẽ được sanh vào cõi người;

2) Những người hành trì Bát Giới (Hakkai) (tức là giữ gìn Tám Giới, đó là, ngoài Năm Giới đã được đề cặp ở trên còn phải gìn giữ giới không dùng mỹ phẩm và đeo đồ trang sức, không ca hát và múa vũ, không ngủ trên giường cao và hành trì Thập Giới (Jikkai) tức là tu Thập Thiện Nghiệp, đó là ngoài việc giữ gìn Tám Giới còn phải không được ăn phi thời và có của cải quý giá. Những người nầy sẽ sinh lên cõi trời;

3) Những người hành trì Nhị Bách Ngũ Thập Giới (Nihyakugojikkai), tức là 250 giới của Tỷ-kheo sẽ chứng được quả vị A-la-hán;

4) Những người không hủy phạm Ngũ Bách Giới (Gohyakkai), tức là 500 giới của Tỷ-kheo-ni sẽ được sinh vào cảnh giới Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Thiên (Hisohihisoten), tức là những cõi trời cao nhất trong Tam Giới;[37]

5) Những người thọ giới Bồ-tát sẽ đạt đến sự giác ngộ cao nhất.

Như vậy theo quan điểm của Hosshin (Pháp Tấn) thì giới Bồ-tát là cao hơn 250 giới của Tỷ-kheo và 500 giới của Tỷ-kheo-ni trong hệ thống Tiểu Thừa.

Hosshin (Pháp Tấn) cũng đề xướng Năm Giới, Mười Giới, và 72 Điều Học[38] một cách cụ thể. Và người ta dễ dàng đi đến nhận định rằng những điều đó có ảnh hưởng đáng kể đối với quan niệm đức và đời sống đạo đức của Tăng Ni và Cư Sĩ Nhật-bản. Cụ thể là khi giảng giải về Năm Giới và Mười Giới thì Hosshin (Pháp Tấn) cũng đề cập đến ơn nghĩa đối với những vị đạo sư, hiếu kính đối với ông bà cha mẹ, lòng từ bi đối với chúng sinh và đời sống thanh bần đối với chính mình. Hosshin (Pháp Tấn) không những hướng dẫn phong cách sống mà còn chỉ cho chúng ta thấy rằng dầu là những sinh linh thấp kém cũng đều có Phật Tánh. Từ quan điểm về lòng từ bi bình đẳng Hosshin (Pháp Tấn) thẳng thừng chống lại quan điểm về 5 hạng người có mặt trên đời nầy theo như giáo lý Pháp Tướng Tông truyền giảng. Hosshin (Pháp Tấn) dạy rằng cầm thú phải được thả tự do và con người không nên ăn thịt chúng. Vã lại, trong 72 Điều Học, Hosshin (Pháp Tấn) giảng dạy cách xữ lý những việc xảy ra trong đời sống hằng ngày, cụ thể như cách thức để người ta dùng bữa với đạo sư của mình, cách thức ngồi trong một hội chúng, và cách thức đi trên đường xá hay xuống phố. Bằng nhiều phương cách khác nhau, những lời dạy của Hosshin (Pháp Tấn) được truyền rộng cho dân chúng Nhật-bản hiện nay.

5. Kushashu (Câu-xá Tông) và Jojitsushu (Thành Thật Tông):

Câu-xá Tông và Thành Thật Tông (Kushashu và Jojitsushu) là những tông phái Phật Giáo lập cước chủ yếu trên hai tác phẩm chú sớ của hai bộ luận Tiểu Thừa là Câu-xá Luận Chú Sớ và Thành Thật Luận Chú Sớ, những tác phẩm xuất phát từ Ấn-độ. Trong thời đại Nara (Nại-lương) hai dòng tư tưởng nầy được thừa nhận là những tông phái chính thức cùng với 4 tông phái khác như đã được đề cập ở trên. Lúc ấy Cưu-ma-la-thập (Kumarajiva) đã dịch xong Thành Thật Luận và Ba Bộ Luận khác[39] và Huyền Trang đã thỉnh được Câu-xá Luận về Trung Quốc rồi phiên dịch cùng với Duy Thức Luận (Yuishikiron), [40] nên ở Trung Quốc người ta thường nghiên cứu Thành Thật Luận (Jojitsuron) cùng với Tam Luận, Câu-xá Luận cùng với Duy Thức Luận. Thành Thật Luận có liên quan với Tam Luận và Câu-xá Luận có liên quan với Duy Thức Luận. Như vậy ở Nhật-bản, mặc dầu có 6 tông phái Phật giáo thời Nara (Nại-lương) nhưng thật ra Thành Thật Luận thật lại được các học giả của Tam Luận Tông nghiên cứu và Câu-xá Luận được các học giả của Pháp Tướng Tông nghiên cứu, không có một học giả nào nghiên cứu Thành Thật Luận hay Câu-xá Luận một cách đơn thuần. Vì vậy nói chung ở Nhật-bản vào thế kỷ thứ 8 thì những nhà học thuật Phật Giáo nghiên cứu hai bộ luận được biên soạn trong thế kỷ thứ 4. Họ cũng nghiên cứu chuyên sâu về Tam Luận Tông và Pháp Tướng Tông, những tông phái mới xuất hiện ở Trung Quốc lập cước trên những bộ kinh Đại Thừa.

6. Hoàng Đế Shomu (Thánh Vũ) và Nữ Hoàng Koken (Hiếu-khiêm):

Thật sự từ thời của Hoàng Hậu Suiko (Suy-cổ) khi mà chùa Shintennoji (Chùa Tứ Thiên Vương) được xây dựng để bảo vệ dân tộc dưới sự gia hộ của Shitenno (Bốn Vị Thiên Vương)[41] những thiên hoàng kế vị đã cho phổ biến kinh Konkomyokyo (Kinh Kim Quang Minh) và kinh Ninnohannyakyo (Kinh Nhân Vương Bát-nhã) khắp đất nước đồng thời bổ nhiệm mỗi tỉnh một vị Kokushi (Quốc Sư), tức là ‘Thầy Của Nhân Dân’ phụ trách đời sống tâm linh.

Như vậy, khi lên ngôi Hoàng Đế Shomu (Thánh Vũ), vị Thiên Hoàng thứ 45 thì đất nước Nhật-bản đã được thống nhất về cả hai phương diện chính trị và tâm linh. Ngay lúc ấy Hoàng Đế Shomu (Thánh Vũ) hạ quyết tâm xây dựng hệ thống Kokubunji (Quốc Tự) ở tất cả các tỉnh thành khắp nước để nguyện cầu phước lạc cho nhân dân, tránh khỏi thiên tai, dịch bệnh. Một chỉ dụ nhằm khởi sự xây dựng quốc tự được ban hành vào năm 741 đến năm 743 lại có một chỉ dụ hướng dẫn việc xây dựng tượng Mahavairochana Buddha (Đại Nhật Như Lai). Ai cũng thấy là muốn hoàn tất đề án to lớn tầm cở quốc gia và trải khắp đất nước nầy phải tốn thời gian rất lâu. Nhưng chỉ trong vòng 30 năm thì chùa Todaiji (Chùa Đông Đại) đã khánh thành ở thủ đô Nara (Nại-lương) và mỗi tỉnh trong 64 tỉnh khắp nước Nhật-bản đều có xây dựng một Kokubunji (Quốc Tự) và một Kokubunniji (Quốc Ni Tự), tức là những quốc tự cho tăng và cho ni. Vào năm 728, 64 bộ kinh Konkomyosaishookyo (Kinh Kinh Quang Minh Tối Thắng Vương) 10 quyển được sao chép và phân phối khắp nước đến năm 737 vua lệnh cho dân chúng xây đắp một pho tượng Thích-ca Mâu-ni chính giữa với hai bức tượng hộ vệ hai bên để tôn trí phụng thờ trong những ngôi quốc tự của địa phương. Như vậy đã có một vương lệnh nhằm xây dựng những ngôi quốc tự đồng thời lại có những mệnh lệnh khác nhằm xây dựng ở mỗi ngôi quốc tự một ngôi tháp 7 từng và nhằm tiến hành việc sao chép kinh Konkomyosaishookyo (Kinh Kinh Quang Minh Tối Thắng Vương) và kinh Myohorengekyo (Diệu Pháp Liên Hoa Kinh). Bản thân thiên hoàng cũng phát nguyện chép Kinh Konkomyosaishookyo (Kinh Kinh Quang Minh Tối Thắng Vương) bằng chữ vàng và tôn trí trong mỗi ngôi tháp. Những việc làm nầy đã khiến cho dân chúng rất mực tôn thờ Phật Pháp, và nhờ đó đạt được sự bình an và hạnh phúc. Thiên hoàng bảo rằng Kokubunji (Quốc Tự) nên được gọi là ‘Konkomyo-Shitenno-Gokoku-no-Tera’ (Kim Quang Minh Tứ Thiên Vương Hộ Quốc Chi Tự) và trong mỗi ngôi chùa cần phải có 10 vị sư; và Kokubunniji (Quốc Ni Tự) nên được gọi là ‘Hokkemetsuzai-no-Tera’ (Pháp Hoa Diệt Tội Chi Tự) và trong đó phải có 10 vị ni. Những vị sư và những vị ni phải đọc và giảng dạy nội dung của hai bộ kinh trên đồng thời phải suốt đời dấn thân vào sự nghiệp giáo dục và hóa độ cho dân chúng trong tỉnh thành địa phương. Cho đến bây giờ những ngôi chùa nầy vẫn còn dấu tích ở một số nơi. Người ta cũng có thể tìm thấy dấu tích của những ngôi chùa thời đó qua tên gọi ‘chùa Kokubunji’ (Quốc Tự) còn sót lại ở một số địa phương.

Bức tượng chính được tôn trí trong chùa Kokubunji (Quốc Tự) là bức tượng đức Thích-ca Mâu-ni trong tư thế ngồi cao khoảng 16 bộ[42] Nhưng pho tượng ở thủ đô Nara (Nại-lương) thì lại là đức Đại Nhật Quang Như Lai cao 63, 5 bộ[43]. Đó là thời kỳ mà hầu như tất cả đồng và cây gổ trong nước đều được dùng để xây chùa và đúc tượng. Thiên hoàng và thần dân cùng nhau trông nom công việc kiến tạo chùa chiền tự viện và đúc các pho tượng cho được hoàn thành tốt đẹp. Mệnh lệnh của thiên hoàng giúp người ta hình dung rõ ràng quang cảnh nầy. Chùa Todaiji (Chùa Đông Đại) và pho tượng Phật vĩ đại tôn trí bên trong là kết quả của sự đồng tâm chung sức giữa thiên hoàng và dân chúng.[44]

Đức Đại Nhật Như Lai là một vị Phật được đề cập trong kinh Kegongyo (Kinh Hoa Nghiêm) và Bommokyo (Kinh Phạn Võng). Ngài là hiện thân của pháp giới vũ trụ hay là cái thể tính gốc của vũ trụ. Ngài được xem như là vị Phật trung tâm của hàng ngàn tỷ Phật Thích-ca Mâu-ni. Theo cách khác, chúng ta có thể nói rằng Đức Phật Thích-ca Mâu-ni chỉ là một vị Phật ứng thân ở Ấn-độ để hóa độ cho dân chúng trên hành tinh nầy. Cũng như thế, mỗi tinh cầu trong 10 triệu tinh cầu đều có một vị Phật đản sinh và truyền giảng Giáo Pháp. Mỗi vị Phật như vậy được gọi là ‘Tiểu Phật Thích-ca Mâu-ni’. Vị Phật thuyết pháp cho những tiểu Phật nầy là ‘Đại Phật Thích-ca Mâu-ni’. Những vị Đại Phật như vậy có đến số ngàn và học hỏi giáo pháp với Đức Đại Nhật Như Lai. Nếu chúng ta tính rằng có trên 10 tỷ tinh cầu trong thái dương hệ thì trên mỗi tinh cầu nầy có một vị Phật xuất hiện và tuyên thuyết giáo pháp. Cứ một ngàn thái dương hệ tập họp lại thành một ‘Đại thái dương hệ’. Chúng ta có thể gọi đại thái dương hệ nầy là ‘Tổng thể vũ trụ’ và Đức Phật của tổng thể vũ trụ nầy là Đức Đại Nhật Như Lai. ‘Đại Nhật’ có nghĩa là một ‘Vị Phật vĩ đại châu biến pháp giới và sáng soi tất cả’. Nói cách khác, Đức Đại Nhật Như Lai nầy biến ra một ngàn vị Đại Phật Thích-ca Mâu-ni để đi đến giáo hóa tất cả quốc độ trong tất cả thời gian, và mỗi vị Đại Phật Thích-ca Mâu-ni lại biến ra một trăm tỷ vị Tiểu Phật Thích-ca Mâu-ni để tuyên thuyết Chánh Pháp. Pho tượng Đại Nhật Quang Như Lai cao 53, 5 bộ[45] thiếp đồng vàng ở Nara (Nại-lương) thật ra chỉ là một pho tượng được làm bởi một số năng lực có mức độ nào đó của con người nhưng lý tưởng và niềm tin thì vĩ đại và biến mãn vô cùng vô tận như chính đức Đại Nhật Như Lai với giáo nghĩa đã nêu trên. Lý tưởng nầy được biểu đạt qua những hình tượng được chạm khắc tĩ mĩ trên từng cánh[46] sen dưới tòa sen của đức Đại Nhật Như Lai. Những tượng Phật được thờ trong ngôi Quốc Tự của mỗi tỉnh thành biểu trưng cho Đức Đại Phật Thích-ca Mâu-ni và những tượng Phật được thờ phụng trong những ngôi chùa khác hay tại tư gia của dân chúng có thể biểu trưng cho những vị Tiểu Phật Thích-ca Mâu-ni. Như vậy nước Nhật-bản dưới chính thể thiên hoàng đã có niềm tin Phật Giáo làm nền tảng và đã trở nên cường thịnh hơn. Chính vào thời thiên hoàng Shomu (Thánh Vũ) mà Phật Giáo và thể chế chính trị hoàn toàn hội nhập với nhau. Thời đại nầy được gọi là ‘Tempyo’ (Thiên Bình), có nghĩa là ‘Sự an bình thiên giới và nhân giới’. Trong thời đại nầy có một chính quyền lý tưởng, một chính quyền dưới sự hướng đạo của Giáo Pháp Phật-đà. Cũng vào thời đại nầy mà nền văn hóa Nhật-bản đã được thăng hoa.

Hoàng đến Shomu (Thánh Vũ) đã rời khỏi ngai vàng, nhường ngôi cho người con gái duy nhất của mình để chuyên tâm lo việc nghiên cứu và thực hành Phật Giáo. Người con gái nầy trở thành nữ hoàng Koken (Hiếu-khiêm), vị thiên hoàng đời thứ 46. Nữ hoàng Koken (Hiếu-khiêm) theo gương cha nhường ngôi cho Junnin (Thuần Nhân) rồi xuất gia tu học. Nhưng nữ hoàng Koken (Hiếu-khiêm) mặc dầu đã thọ giới tỷ-kheo-ni vẫn chấp chính và được tôn xưng là nữ hoàng Shotoku (Nữ Hoàng Thánh Đức), vị thiên hoàng thứ 48. Giờ đây mối liên hệ giữa chính quyền và Phật Giáo vô cùng mật thiết. Nữ hoàng Shotoku (Nữ Hoàng Thánh Đức) nghĩ rằng một vị thiên hoàng mà trước đó đã là tu sĩ thì cần có một vị bộ trưởng tu sĩ phò tá. Vì vậy mà Ngài Dokyo (Đạo Cảnh) đã được bổ nhiệm vào vị trí nầy. Dokyo (Đạo Cảnh) được phong tước hiệu là ‘Dojodaijin-Zenji’ (Đức Tăng Thống). Vị nữ thiên hoàng nầy càng ngày càng kính tin Phật Giáo; lòng sùng thượng Phật Giáo của Nữ Hoàng đến độ làm cho nhiều người gia nhập tăng đoàn chỉ có mục đích là được danh lợi và sự tôn kính. Điều nầy dẫn đến sự sa sút trong nội bộ tu sĩ và nền tài chánh của quốc gia và cuối cùng là sự sụp đổ của chính quyền Nara (Nại-lương). Nước Nhật-bản lúc nầy cần một cuộc cách tân với một chính thể mới ở một địa phương mới.

Trong 70 năm trị quốc của chính phủ Nara (Nại-lương) nhiều ngôi chùa to lớn được xây dựng tại Nara (Nại-lương) hoặc được thiên chuyển về từ thành phố cổ Asuka (Phi Điểu) và chùa nào cũng có đông đảo tu sĩ tu học.

Tuy nhiên, vào năm 794, Nữ Hoàng Kammu (Hoàn Vũ), vị thiên hoàng thứ 50, ra quyết định thành lập thủ đô cho chính quyền mới ở Heian (Bình An) tức là Kyoto (Đông Đô), bỏ lại tất cả những ngôi chùa và tu sĩ trong thành phố cổ Nara (Nại-lương).


[1] vị thiên hoàng thứ 46 (749 - 758).

[2] có nghĩa là ‘Kinh Đô Miền Nam’. Nara (Nại-lương) được dùng để đối ứng với Heian (Bình-an), tức là Kyoto (Đông Đô), nằm phía bắc của Nara (Nại-lương). Heian (Bình-an) thì không cổ xưa bằng Nara (Nại-lương).

[3] Madhyamakakarika Shastra (Trung Luận). TD No. 1,564.

[4] Dvadashanika Shastra (Thập Nhị Môn Luận). TD No.1,568.

[5] Shata Shastra (Bách Luận). TD No. 1,569.

[6] có nghĩa là ‘ngôi chùa đầu tiên xuất hiện’

[7] Abhidharmakosha Shastra (A-tỳ-đạt-ma Câu-xá Luận).

[8] Satyasiddhi Shastra (Thành Thật Luận).

[9]Bussho’ tiếng Nhật có nghĩa là Phật Tính tức là bản chất hay phẩm chất hằng hữu trong con người nên con người có thể đạt được quả Phật.

[10] Maitreya (Di-lặc: 270 - 350): Hán dịch là Từ Thị, được xem là vị Đại Luận Sư của Ấn-độ ra đời sau Phật Niết-bàn khoảng 900 năm. Vấn đề Di-lặc có phải là một nhân vật có thật trong lịch sử hay không thì cho đến ngày nay vẫn chưa xác định được. Học giả E. Obermiller (Nga), học giả Sơn-khẩu-ích (Nhật-bản), học giả E. Lamotte (Pháp) và học giả Vũ-tinh-bá-thọ (Nhật) là những người có ý kiến khác nhau về vấn đề nầy. Nói chung ý kiến cho rằng Di-lặc không phải là một nhân vật lịch sử chiếm ưu thế hơn. (chú thích của người dịch)

[11] Asanga (Vô-trước: 310 - 390): Hán âm là A-tăng-già, còn gọi là Vô Chướng Ngại. Là một trong những vị sáng lập Du-già Hành Phái thuộc Phật Giáo Đại Thừa Ấn-độ, sống vào khoảng thế kỷ thứ IV và thứ V, người xứ Purusapura, Tây Bắc Ấn-độ, ngày nay là quận Peshawar thuộc Pakistan.

[12] Vasubandhu (Thế-thân: 320 - 400): em của Vô-trước (Asanga), là người soạn nhiều Luận và sách chú thích, đặt nền tảng cho phái Du-già thuộc Phật Giáo Đại Thừa.

[13] Bodhiruchi (Bồ-đề-lưu-chi: – 535): cao tăng thời Bắc Ngụy, người Bắc Thiên Trúc, là học giả của hệ Du-già của Đại Thừa, bẩm tánh thông minh, thông cả Tam Tạng, tinh thông chú thuật, sớm có chí hoằng pháp. Ngài dịch rất nhiều kinh điển từ tiếng Phạn sang tiếng Hán. Những bộ phổ biến như Kinh Kim Cang Bát Nhã, Pháp Hoa Kinh Luận, Vô Lượng Thọ Kinh...

[14] Paramartha (Chân Đế: – 569): Hán âm là Ba-la-mạt-tha, Ba-la-mạt-đà. Còn gọi là Câu-la-na-đà (Kulanàtha), là một danh tăng Trung Quốc, người xứ Ujjaini (Ưu-thiền-ni) thuộc Tây Bắc Ấn-độ, dịch nhiều kinh luận nổi tiếng như Luận Đại Thừa Duy Thức, Kinh Kim Quang Minh, Câu-xá Luận Thích, Luận Đại Thừa Khởi Tín.

[15] Xác thân của con người tự bản chất là phù du, do bốn đại là đất, nước, lữa, và gió mà hình thành vì vậy mà rốt rồi phải trả về cho bốn đại. Ý tứ của việc hỏa táng là hảy trả lại hình hài nầy trở về hình thái ban đầu của nó.

[16] Cựu thiên hoàng Jito (Trì-thống) năm 703 và hoàng đế và hoàng đế Mommu (Văn Vũ) năm 707.

[17] Trước thời đại Meiji (Minh Trị) , không ít những vị thiên hoàng và hoàng thân quốc thích đã tu theo Phật Giáo, có nhiều vị đã xuất gia thọ đại giới.

[18] Việc sao chép kinh sách là tiền đề cho việc hoằng truyền Giáo Pháp, nhưng dần dần đã vượt qua khỏi giới hạn của nhu cầu thực tiển và đôi khi trở thành một công việc mang tính nghệ thuật tôn giáo. Những quyển kinh sách được sao chép xuyên suốt Nara (Nại-lương) cho đến ngày nay thật sự đã đạt đến một con số vô cùng to lớn.

[19] Từ ‘Hosso’ (Pháp Tướng) có thể có nghĩa là ‘những biểu hiện bên ngoài của các pháp’. Nhưng bởi vì không có pháp nào độc lập với tâm thức của con người nên giáo lý nầy cũng được gọi với tên khác là Duy Thức, có nghĩa là Duy Thức Tông.

[20] Icchantika (nhứt-xiển-đề) và atyantika (a-xiển-đề) là hai từ có khi được xem là đồng nghĩa và đều chỉ cho người không thể thành Phật. (chú thích của người dịch)

[21] Một bản biên tập của kinh Avantansaka (Kinh Hoa Nghiêm) có 80 quyển.

[22] Thuộc Hàn Quốc. (chú thích của người dịch)

[23] không thuộc dòng truyền thừa của Hoa Nghiêm Tông (Kegonshu) vì ông ta đã từ bỏ Hozo (Pháp Tạng) mà ra đi

[24] TD Vol. 72, No 2,337. Quyển nầy vẫn còn bảo tồn.

[25] TD Vol. 45, No. 1,866.

[26] Lời dạy của Pháp Tướng Tông (Hossoshu) thuộc vào thời nầy.

[27] Lời dạy trong Daijokishinron (Đại Thừa Khởi Tín Luận) của ngài Phật Âm thuộc về giáo lý nầy.

[28] Lời dạy trong kinh Yuimagyo (Kinh Duy-ma) và thiền thì thuộc về giáo lý nầy.

[29] Lời dạy của Hoa Nghiêm Tông (Kegonshu) thuộc về giáo lý nầy.

[30] Điều nầy ý nói là bản chất của chân lý là thường hằng bất biến.

[31] Năm hạng chúng sinh căn bản là: 1) Bosatsuketsujoshusho (Bồ-tát quyết định chủng tánh), tức là, loại chúng sinh có bản chất bẩm sinh là một Bồ-tát, 2) Engakuketsujoshusho (Duyên giác quyết định chủng tánh), tức là loại chúng sinh có bản chất bẩm sinh là một vị Độc Giác, 3) Shomonketsujoshusho (Thanh văn quyết định chủng tánh), tức là loại chúng sinh có bản chất bẩm sinh là một vị A-la-hán, 4) Fujoshusho (Bất định chủng tánh), tức là loại chúng sinh có số phận không được xác định là thuộc về loại nào trong những loại chúng sinh đã nêu ở trên, và 5) Mushoujoshusho (Vô tánh hữu tình chủng tánh), tức là loại chúng sinh không xác định được là thuộc về loại nào trong bốn loại chúng sinh đã nêu ở trên.

[32] Hokkaijobutsu (Pháp Giới Thành Phật).

[33] vị mikado (thiên hoàng) thứ 46. Con gái của Hoàng Đế Shomu (Thánh Vũ).

[34] tập tục nầy đã có ở Ấn-độ, từ xưa người ta đã xây đắp những lễ đàn cao ráo để thực hiện các cuộc tế lễ.

[35] Bát Thập Hoa Nghiêm Kinh (Hachiju-Kegongyo).

[36] có hai bộ Kinh Đại Bát-niết-bàn của Trung Quốc là Nam Bản Niết-bàn (Nampon Nehangyo) và Bắc Bản Niết-bàn (Hokuhon Nehangyo), tức là một bộ Kinh Niết-bàn được biên tập và hiệu chỉnh ở Nam Trung Quốc và một bộ khác được biên tập ở Bắc Trung Quốc.

[37] Tam Giới vô minh, đó là 1) dục giới; 2) sắc giới; và 3) vô sắc giới.

[38] Thất Thập Nhị Oai Nghi (Shichijuniigi) trong tiếng Nhật-bản ‘i’ (Oai) có nghĩa là khi hành vi của người ta thanh khiết thì thánh thần cũng phải nể phục.

[39] Mađhyamakakarika Shastra (Trung Luận), Dvadashanikaya Shastra (Thập Nhị Môn Luận) và Shata Shastra (Bách Luận) một trong những bộ chủ yếu của Madhyamika (Trung Luận hay Tam Luận Tông), được đặt tên là Bách Luận vì bộ luận nầy gồm có 100 bài kệ mỗi bài có 32 từ.

[40] Vijnaptimatratasiddhi Shastra (Duy Thức Luận).

[41] 1) Trì Quốc Thiên Vương (Phạn: Dhritarashtra; Nhật: Jikokuten) ở Phương Đông, 2) Tăng Trưởng Thiên Vương (Phạn: Virudhaka; Nhật: Zojoten) ở Phương Nam, 3) Quảng Mục Thiên Vương (Phạn: Virupaksha; Nhật: Komokuten) ở Phương Tây, và 3) Đa Văn Thiên Vương (Phạn: Vaishravana hay Vaishramana; Nhật: Tamonten) ở Phương Bắc. (người dịch đã có tham khảo thêm)

[42] Cao gần 5 mét (chú thích của người dịch)

[43] Cao gần 20 mét (chú thích của người dịch)

[44] Ngôi chùa Todaiji (Chùa Đông Đại) đã bị hỏa hoạn hai lần trong những cuộc nội chiến, một lần vào cuối thế kỷ thứ 12 và một lần vào khoảng giữa thế kỷ thứ 16. Như vậy ngôi chùa gốc không còn nhưng ngôi chùa di tích ngày nay vẫn còn đứng chổ củ và là kiến trúc gổ to nhất thế giới.

[45] Cao trên 16 mét.

[46] Một số mẩu vật vẫn còn được bảo tồn cho đến ngày nay.

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết: