CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Phật giáo chuyển hướng sang Tây Tạng

Ánh Sáng Mật Tông

►Lời đầu sách

►Chương 1: Ba bánh xe pháp

►Chương 2: PG hướng sang Tây Tạng

►Chương 3: Bốn bộ phái Tây Tạng

Chương 4: Tiếng nói thời hiện đại

►Chương 5: Công cụ để chứng Chánh giác

►Chương 6: Âm thanh của Chánh giác

►Chương 7: Tâm thức ở tầng cao

      với pháp quán ảnh tượng

►Chương 8: Trí tuệ từ mặt nữ tính của chúng ta

►Chương 9: Sinh, Tử, và Cảnh trung ấm

►Chương 10: Suối Nguồn của Từ Bi và Trí Tuệ

 Chương 2: Phật giáo chuyển hướng sang Tây Tạng

TÂM phủ trùm toàn thể sinh mệnh. TÂM là trạng thái nguyên sơ; đến đi mà không ai biết. TÂM là cái biết, tỏa sáng, vô biên; có đó mà chẳng ai hay. TÂM có mặt khắp nơi mọi lúc; hiện diện mà không ai thấy.

--Padmasambhava in T. Freke, The Wisdom of the Tibetan Lamas

 

Lịch sử Tây Tạng là một bức tranh phức hợp trong đó thần thoại đan xen với sự thật, tôn giáo đan xen với chính trị, tuy nhiên trên hết vẫn là Phật giáo. Người Tây Tạng đánh dấu những sự kiện quan trọng dựa theo thời điểm du nhập và phát triển của Phật giáo trong đất nước của họ. Việc tu tập đan kết với đời sống bình nhật đến đỗi người Tây Tạng thấy những cảnh giới tâm linh cũng hiện thực không kém gì cảnh giới vật chất. Họ suy nghĩ bằng biểu tượng và ẩn dụ, qua lại; đường tư duy chuyển tiếp giữa hai chiều kích tuyệt đối và tương đối mà không hề có sự phân biệt. Sự nhập nhằng này tỏ ra xa lạ với người phương Tây, nhưng nó lại làm lộ ra những khả năng mà người ta cần có để hiểu được một dân tộc ưa chuộng màu sắc và hàm ẩn nhiều điều thú vị.

NHỮNG ĐIỂM XUẤT PHÁT HUYỀN BÍ

Điểm xuất phát đích thực của dân tộc Tây Tạng là điều chưa ai xác định được, nhưng câu chuyện huyền thoại được kể rất minh bạch. Thoạt kỳ thủy, Quán Thế Âm Bồ-tát, vị Bồ-tát của lòng từ ái độc cư ở Tây Tạng, hoá hiện ra một con vượn. Ở thật xa có một mụ già tham dục và man dại. Khi cảm thấy cô độc, mụ ta gào khóc vang dội. Con vượn nghe tiếng khóc thảm thiết liền phát khởi lòng từ mẫn, thương cảm nỗi đau khổ của mụ, tìm đến, rồi có 6 đứa con với mụ. Đó là 6 thành viên đầu tiên của dân tộc Tây Tạng. Trong ngôn ngữ huyền thoại, người Tây Tạng là phân đoạn bị mất trong chuỗi những phân đoạn của quá trình tiến hóa từ loài vượn đến loài người.

Người Tây Tạng tin rằng phần lớn những tiến bộ về phương diện văn hóa chính trị của thời kỳ đầu đều có nguồn gốc từ Ấn Độ. Theo truyền thuyết thì vị vua Tây Tạng đầu tiên lớn lên ở Ấn Độ. Trong độ tuổi thanh niên, ông là một người hơi dị tướng và cảm thấy bị gia đình ghét bỏ nên rời khỏi nhà ra đi, đi đi mãi đến thung lũng Yarlung của Tây Tạng, hiện nay được xác định là phía Đông Nam của Lhasa. Người Tây Tạng nhận ra tâm hồn thanh cao mà không thấy thân tướng dị dạng và hỏi chàng trai từ đâu đến. Vì bất đồng ngôn ngữ, chàng trai cố gắng dùng tay để diễn đạt và chỉ lên bầu trời. Người Tây Tạng cho rằng như vậy có nghĩa là chàng trai này từ cõi trời được sai phái xuống để cai trị họ. Họ đưa chàng lên vị trí thủ lĩnh và gọi tên chàng là Nyatri Tsenpo, có nghĩa là Thiên Tử. Nyatri Tsenpo giới thiệu cho họ biết nhiều điều tiến bộ của nền văn minh Ấn Độ, kể cả kỹ thuật xây dựng nhà cửa. Đây là nhà vua đầu tiên của triều đại đầu tiên: Triều đại Yarlung.

PHẬT GIÁO SÂU RỄ BỀN GỐC

Người Tây Tạng thời khởi nguyên gồm những bộ tộc chiến sĩ. Thiên nhiên và những sức mạnh của cuộc sống được nhân cách hóa thành những vị thần linh và quỷ dữ, thân thiện và đe dọa. Đạo Bon, tôn giáo bản địa của họ, đã tạo hình tượng và sắp đặt vị trí cho những vị này trong những lễ nghi cầu cúng. Vào thế kỷ thứ 7, vua Songsten Gampo (618 - 650) triều đại Yarlung thống nhất các bộ tộc để thành lập một đế quốc. Quân đội Tây Tạng đã vượt khỏi biên cương, chinh phạt những vùng đất thuộc Trung Hoa, Ấn Độ và Miến Điện (năm 635). Ở tất cả những quốc gia bị tấn công và chinh phục, quân đội Tây Tạng nhận thức được hai điều: Những quốc gia này tiến bộ hơn Tây Tạng và Phật giáo rất hưng thịnh. Vua Tây Tạng khẳng định rằng Phật giáo rất là trọng yếu.

Để giải tỏa điều này, nhà vua đã cưới hai hoàng hậu từ nước ngoài: Trung Quốc và Nepal. Cả hai đều là những người Phật tử thuần thành. Nhờ những cuộc hôn nhân này, nhà vua đã đưa Phật giáo vào đất nước Tây Tạng và thọ lễ quy kính Tam Bảo. Đồng thời, ông cho xây dựng chùa Jokhang cho bà hoàng hậu từ Nepal và chùa Rampoche cho bà hoàng hậu từ Trung Quốc. Cả hai ngôi chùa đều trở thành trung tâm Phật giáo của Tây Tạng.

Nhà vua cũng nhận ra rằng vương quốc còn thiếu ngôn ngữ viết chung nhất và đã cho chế tác một dạng chữ viết có gốc từ Ấn Độ, ấn định những chuẩn mực cho quốc ngữ Tây Tạng.

Đông đảo thánh thần và quỷ dữ của đạo Bon đang ngự trị đời sống hằng ngày của người dân Tây Tạng, họ luôn cố gắng làm thánh thần vui vẻ và ma quỷ bớt thịnh nộ. Không có thánh thần nên khi so sánh dường như Phật giáo là một tôn giáo yếu kém hơn.

Vua Trisong Detsen (790 - 798) quyết định hóa giải sự kém sút hiển nhiên này bằng cách thỉnh cầu đạo sư Santaraksita, một đạo sư học giả Phật giáo của Ấn Độ sang Tây Tạng giáo hóa. Vốn kiên trì sùng bái đạo Bon, những đại thần của nhà vua chống lại việc này. Khi chuyến viếng thăm của Santaraksita bị một loạt những thiên tai làm trở ngại, họ giải thích rằng đó là điềm không lành: thánh thần của họ đã nổi giận.

Không chịu bỏ cuộc, nhà vua cho mời Liên Hoa Sanh (Padmasambhava), vị đạo sư Phật giáo Ấn Độ nổi tiếng với những năng lực huyền bí. Liên Hoa Sanh tu theo một dạng Phật giáo trong có bao gồm mật pháp (tantra), các nghi quỹ thiền quán nhằm tăng cường huyền năng của hành giả. Người ta tin rằng khi đan kết với Phật giáo, pháp thức này sẽ giúp hành giả tiến bộ nhanh chóng trên con đường tu tập. Đạo sư Liên Hoa Sanh chấp nhận đối đầu với những thần thánh đang giận dữ của đạo Bon. Trên đường đến Tây Tạng, đạo sư gặp phải một trận mưa tuyết hung hãn, Ngài lui vào một hang đá và đi sâu vào thiền định. Trận mưa tuyết bị dịu lại và Ngài đến nơi an toàn; dễ dàng đánh bại các vị quỷ thần. Người Tây Tạng có ấn tượng mạnh, chào mừng Ngài và cung nghinh đạo sư Santaraksita trở lại. Giáo pháp đạo sư Liên Hoa Sanh truyền giảng đã phát triển thành bộ phái đầu tiên của Phật giáo Tây Tạng: Phái Ning-mã hay còn gọi là Cổ Phái.

Năm 775, Liên Hoa Sanh và Santaraksita xây dựng tu viện Phật giáo đầu tiên ở Tây Tạng: tu viện Samye. Những kiến trúc được sắp xếp theo mô hình Mạn-đà-la, biểu tượng cho một pháp thức mật truyền, dùng Mạn-đà-la để đi sâu vào nguồn tuệ kiến Phật giáo (xem Chương 7).

Phật giáo tiếp tục phát triển và hưng thịnh do tác động của những học giả từ Ấn Độ, Nepal và Trung Quốc đến Tây Tạng hoằng pháp. Thời kỳ này có nhiều thánh điển Phật giáo được phiên dịch, làm cho đông đảo mọi người hiểu biết về Phật giáo.

Bấy giờ có hai dạng Phật giáo hình thành: Phật giáo từ Ấn Độ và Phật giáo từ Trung Quốc. Phật giáo từ Ấn Độ tin vào tiến trình tích lũy trí tuệ và năng lực trong thiền định, được gọi là pháp môn tiệm tu, một pháp môn bao gồm những nguyên lý của Phật giáo kết hợp với những pháp thức mật truyền. Phật giáo từ Trung Quốc tin vào sự chứng ngộ xảy ra đột ngột, gọi là pháp đốn ngộ. Pháp môn này gồm tư tưởng Phật giáo kết hợp với Lão giáo của Trung Quốc với tên gọi phỗ biến nhất là Zen (Nhật Bản) hay Thiền (Trung Quốc).

Giới trí thức ở Lhasa cảm thấy rằng hai đường lối này không dung hợp được với nhau. Nhưng họ lại không khẳng quyết được đường lối nào là tốt nhất cho người dân Tây Tạng. Nhà vua quyết định tổ chức một cuộc tranh luận công khai giữa hai nhà đại diện sáng chói của hai bên. Đường lối nào thắng sẽ được giảng giải tại Tây Tạng. Mọi người tụ tập lại để quan sát cuộc tranh biện về tuệ kiến. Sau cuộc hội đàm sôi nổi, nhà vua chọn vị đạo sư từ Ấn Độ. Thế là, đường lối tiệm ngộ kết hợp với Phật giáo Đại thừa và mật pháp là dạng Phật giáo được quốc dân Tây Tạng chọn lựa.

Rebachen, vị vua sùng đạo thứ ba (trị vì: 815 - 836) đã không tiếc công sức ủng hộ Phật giáo nhưng lại xao lãng việc triều chính. Kết quả là những vị đại thần tức giận cho rằng Phật giáo đã khiến nhà vua quên nhiệm vụ. Họ đã hành thích nhà vua và đưa Lang-Dharma (trị vì: 838 - 842) lên ngai vàng. Lang-Dharma sùng bái tôn giáo cổ của Tây Tạng là đạo Bon. Ông ta tấn công Phật giáo, những nhà sư phải bỏ trốn. Bề ngoài, Phật giáo dường như đã bị tiêu diệt, nhưng hạt mầm vẫn còn đó. Mật kế song song với tranh chấp quyền hành kéo dài dẫn đến sự kiện Lang-Dharma bị hành thích. Cái chết của Lang-Dharma cũng là dấu chấm hết của triều đại Yarlung bền bỉ và Tây Tạng rơi vào tình trạng hỗn loạn. Tây Tạng trở nên tách biệt và từ đó uy thế của một Tây Tạng đế quốc không còn vượt khỏi biên cương của nó.

PHẬT GIÁO PHỤC HƯNG

Lần hoằng pháp lần thứ hai vào Tây Tạng là do vị đạo sư Ấn Độ Atisa (982 - 1054), một trong những nhà cải cách vĩ đại của Tây Tạng. Có nguồn gốc từ một dạng đạo Phật suy thoái ở Ấn Độ, thế như đạo sư Atisa lại có ảnh hưởng rất tích cực cho Phật giáo Tây Tạng. Đạo sư tác động nhà vua và mang lại nguồn sinh khí mới cho Phật giáo. Những tác phẩm mà đạo sư biên soạn đầy ấp những lời khuyên hữu ích cho người bình thường lẫn vua chúa:

Hãy hành xử như là người sáng mắt đối với những lỗi lầm của mình nhưng hãy là người mù đối với những lỗi lầm của người khác. Tránh kiêu ngạo và ngã mạn, luôn luôn thiền quán về tánh không... Hãy tịnh hóa mọi hành động về thân, về lời và ý và tránh mọi hành vi lỗi lầm. (Chattopadhyaya 1967, 19 - 20)

Atisa khích lệ người dân sống theo đạo lý và với tâm vô ngã vị tha. Giáo pháp của Atisa là khởi nguyên của bộ phái Ca-đương và chuyển thành bộ phái Cách-lỗ. Phật giáo sâu rễ bền gốc ở Tây Tạng, khi đó những chi phái khác lần lượt phát triển.

TÁC ĐỘNG CỦA MÔNG CỔ

Thế kỷ thứ 13, Mông Cổ chinh phục thế giới. Năm 1240, cháu trai của Genghis Khan là Godan Khan tấn công Tây Tạng qua đó kết thân với vị lãnh đạo Phật giáo Tây Tạng thuộc phái Tát-ca là Gurga Gyeltsen Bel Sangpo (1182 - 1251). Godan Khan ưa chuộng Phật giáo và quyết định quy kính theo đạo Phật. Gurga và Godan thiết lập một dạng chính giáo liên hợp (priest-patron) giữa một bên là những vị tăng sĩ phái Tát-ca danh xưng là chư tôn Lạt-ma, bên kia là những vị Đại Hãn Mông Cổ. Như vậy, Phật giáo tiếp tục phát triển trong mối liên hợp với triều đình Mông Cổ.

Đến thế kỷ thứ 14 ảnh hưởng của Mông Cổ giảm dần và dân tộc Tây Tạng thu hồi lại toàn bộ chủ quyền quốc gia. Người Tây Tạng quay trở lại những nghi lễ và phong tục dung hóa với Phật giáo từng bị cấm chỉ trong thời Mông Cổ cai trị.

CỘI NGUỒN ĐẠT-LAI LẠT-MA

Bộ phái Tát-ca mất dần vị trí trung tâm khi một bộ phái cách tân là Cách-lỗ xuất hiện với danh xưng là “Truyền Thống Đạo Đức”. Đây là một bộ phái giải luận đầu tiên có nguồn gốc ngay tại bản địa Tây Tạng, chứ không phải Ấn Độ. Một trong những vị lãnh đạo của bộ phái Cách-lỗ là Sonam Gyatso (1543 - 1588) đã viếng thăm Đại Hãn Altan Khan của Mông Cổ. Mặc dầu tất cả tăng sĩ ở Tây Tạng đều có danh xưng là Lạt-ma, Altan Khan đã sắc phong Sonam Gyatso danh hiệu “Đạt-lai Lạt-ma” nghĩa là “Biển Trí Tuệ”. Altan Khan cũng truy niệm và truy phong cho hai vị Lạt-ma hàng thầy và tổ của Sonam Gyatso chức danh Đệ nhất và Đệ nhị Đạt-lai Lạt-ma, như thế, Sonam Gyatso là vị Đệ tam Đạt-lai Lạt-ma. Quyền uy của danh vị Đạt-lai Lạt-ma được Mông Cổ tấn phong nhưng sau đó vị Đạt-lai Lạt-ma trở thành vị lãnh đạo độc nhất, không cần bất cứ một quyền lực bên ngoài nào tấn phong nữa.

Vị Đạt-lai Lạt-ma thứ 5 là Ngawang Losang Gyatso (1617 - 1682) rất tài trí và năng động, đã tác động sâu sắc đến đất nước và Phật giáo Tây Tạng. Ngài sở hữu một khả năng hiếm có, là vị đạo sư tâm linh có đạo lực đồng thời là vị lãnh đạo quốc gia hiệu quả, làm cho Tây Tạng thống nhất về phương diện chính trị thành một quốc gia toàn vẹn, thống nhất về phương diện tôn giáo dưới sự lãnh đạo của bộ phái Cách-lỗ. Tuy Ngài vẫn duy trì mối liên hợp ‘Tăng-Chính’ với Mông Cổ, nhưng dần dần Ngài làm cho quyền lực Đạt-lai Lạt-ma từ cội nguồn Mông Cổ chuyển sang cội nguồn Bồ-tát Quán Thế Âm, vị thánh bảo hộ của dân tộc Tây Tạng. Từ đó, những vị Đạt-lai Lạt-ma được xem là hóa thân của Bồ-tát Quán Thế Âm. Ngài xây dựng cung điện Potala ở Lhasa để làm nơi cư trú và điều hành đất nước của những vị Đạt-lai Lạt-ma trong tương lai, biến Lhasa thành thủ phủ tâm linh và chính trị của Tây Tạng.

ẢNH HƯỞNG CỦA MÃN CHÂU

Năm 1664, bộ tộc Mãn Châu tấn công Trung Hoa và thành lập triều đại nhà Thanh, cai trị Trung Quốc cho đến năm 1911. Tuy người Mãn Châu vẫn còn giữ mối liên hệ với Tây Tạng như triều đại Nguyên Mông trước đó, nhưng rất mờ nhạt và không còn thường xuyên nữa. Tây Tạng càng trở nên cách biệt với lân bang. Tuy truyền thống Đạt-lai Lạt-ma được duy trì nhưng thiếu vị lãnh đạo có thực lực cho đến vị Đạt-lai Lạt-ma thứ 13.

Vị Đạt-lai Lạt-ma thứ 13 tên là Tupden Gyatso (1876 - 1933) là một vị lãnh đạo tài trí tuy vẫn chưa có đánh giá chung nhất. Ngài đã tạo được ảnh hưởng lâu bền trong lịch sử Tây Tạng và đưa đất nước này vào thế kỷ 20. Trong những năm đầu của triều đại Tupden Gyatso, tướng quân Mãn Châu là Chao Erh-feng cố gắng xâm chiếm Tây Tạng. Nông dân Tây Tạng kháng cự khi Chao Erh-feng tiến quân dọc theo con đường đến Lhasa nhưng những người nông dân tay không chân đất không chống nổi. Vị Đạt-lai Lạt-ma được cảnh báo về cuộc xâm lược đã chạy sang Ấn Độ. Cuối cùng, khi tướng Chao đến thủ đô Tây Tạng để thương thuyết về việc đầu hàng thì không gặp một chính quyền Tây Tạng nào cả! Yêu sách của Chao đòi quyền cai trị Tây Tạng cũng chấm dứt khi chính phủ Mãn Châu bị người Quốc Dân Đãng lật đổ năm 1911. Tướng Chao bị chính quyền Trung Hoa mới hành quyết và đức Đạt-lai Lạt-ma trở về trị vì vương quốc.

Với những trải nghiệm mới, đức Đạt-lai Lạt-ma thứ 13 thấy được rằng Tây Tạng quá cách biệt với cộng đồng quốc tế, quân sự yếu kém, và xã hội lạc hậu. Ngài quyết định thay đổi phương hướng của Tây Tạng, xây dựng lực lượng quân sự, khích lệ giới trẻ Tây Tạng học tiếng Anh để tiếp xúc với cách tư duy phương Tây. Cả hai kế sách đều chạm trán với sự chống đối của định chế tăng viện nhưng bánh xe hiện đại hóa đã bắt đầu lăn.

KẾT LUẬN

Lịch sử Tây Tạng đã cho chúng ta thấy rằng dù trải qua những tai ách khác nhau của thời đại, trí tuệ cổ kính của Phật giáo Tây Tạng đã vẫn là một nguồn lực to lớn như thế nào. Những tuệ giác vượt thời gian được truyền thừa từ thầy xuống đệ tử là nguồn phấn chấn cho chúng ta ngày nay như đã từng là nguồn phấn chấn cho con người thời xa xưa, chứng minh rằng mọi người đều có khả năng thăng tiến nội tâm.

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết: