CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Thiền ngộ (Phần 5)

TẮC THỨ 17: VĂN HỶ VÀ VĂN THÙ

Thiền sư Vô Trước Văn Thù mới bảy tuổi đã xuất gia. Đứa bé bảy tuổi thì có thể làm được gì?

Lúc đức Phật còn tại thế, một đàn việt (cư sĩ) mà Anan quen biết, không may gặp nạn, cả nhà chết hết, chỉ có một đứa bé bảy tuổi may mắn thoát nạn. Anan đem nó về chỗ đức Phật ở. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã biết rõ mà cố hỏi: “Đứa bé này là ai vậy?”. Anan đem sự tình thưa lại với đức Phật. Đức Phật dạy rằng: “Vì sao không cho nó cắt tóc xuất gia? Không có ai chăm sóc, nó chẳng thể nào sống sót!”

Anan thưa: “Tăng đoàn có quy định giới luật, không thể thế độ cho người xuất gia dưới mười hai tuổi”.

Đức Phật hỏi Anan: “Đứa bé này có thể đuổi chim, đuổi quạ không cho chúng làm hư hại đồ vật của các Tỳ kheo không? Có thể giữ giới đơn giản nhất của Sa di không? Nếu được thì có thể theo ý nguyện cho nó xuất gia. Anan nghe những lời này bèn xuống tóc cho đứa bé bảy tuổi kia.

Giáo pháp của đức Phật vốn như vậy, linh hoạt nhạy bén, hợp tình hợp lý, chưa từng bị sự ràng buộc của giáo điều cứng nhắc. Từ đó, tiểu Hoà thượng từ bảy tuổi đến mười ba tuổi được gọi là “Sa di đuổi quạ”.

Tiểu Văn Hỷ làm Sa di đuổi quạ nhưng lại hoàn toàn không như người trồng lúa đi dọa nạt chim quạ, trông coi lúa mạch - gọi là đuổi quạ chẳng qua chỉ là lần đầu tiên đức Phật vì đứa trẻ đáng thương mà mở ra một con đường phương tiện xuất gia mà thôi. Tiểu Văn Hỷ thì đi theo Thiền sư Quốc Thanh học rộng hiểu nhiều, học chữ đọc sách, lại ở trong trường tư thục học tập khá nhiều. Chính vì như thế, ngày xưa nhiều trẻ em con nhà nghèo học nhờ ở trong chùa (Phạm Trọng Yêm nhà văn học lớn, nhà chính trị lớn, nhà quân sự lớn, cha chết mẹ tái giá bèn ở trong chùa học nhờ, sau này thi đỗ Tiến sĩ).

Cảnh đẹp không lâu bền, pháp nạn Hội Xương đến gần, Văn Thù và hơn hai mươi vạn Tăng ni trong cả nước cũng vậy, bị bức bách hoàn tục. Đầu trọc nhưng không phải Hoà thượng, người để tóc cũng không phải là người thế tục. Văn Hỷ dấu tài ở trong hồng trần mà đạo tâm càng kiên cố. Sau hơn một năm, những người làm Sa di giống như Văn Hỷ trong lịch sử có Lý Thế Dân, gọi là Đường Tuyên Tông làm Hoàng đế, chấn hưng Phật giáo. Văn Hỷ xuống tóc lại tại chùa Tế Phong ở Diêm Quang Triết Giang , trở về Thiền môn.

Lúc đó, Thiền sư Tánh Không rất nổi tiếng trú trì tại núi Đại Từ ở Hàng Châu, Văn Hỷ đến bái yết. Thiền sư Tánh Không nói: “Ngươi đọc kinh sách nhiều năm, vì sao không đi vân du trong tùng lâm chín châu, tham vấn chư tôn túc trong thiên hạ?”.

Dưới sự khích lệ của Thiền sư Tánh Không, Văn Hỷ một bình một bát, một nón lá, giày cỏ, gậy trúc thêm tay nải bắt đầu chân trời góc bể. Ông đi rồi lại đi, thẳng đường lên phía Bắc, định đến chùa Hoa Nghiêm ở núi Ngũ Đài. Ngũ Đài Sơn là đạo tràng của Bồ tát Văn Thù, tại thế giới mát mẽ băng tuyết lấp lánh đó, một hạt bụi cũng không có, tu thiền thật tốt. Giữa đường, ông gặp một nơi gọi là hang Kim Cang, bỗng nhiên nhìn thấy một ngôi chùa Phật vàng ngọc huy hoàng, ông đang muốn đi vào lễ bái thì gặp một cụ ông dắt bò đi đến, mời ông cùng vào chùa.

Đi vào cửa núi, Lão ông gọi một tiếng: “Quán Đề!” một Đồng Tử đáp lời ra đón. Lão ông buông dây thừng, con bò ngoan ngoãn đi theo Đồng Tử. Dưới sự chỉ dẫn của lão ông, Văn Hỷ đi qua một đại điện hùng vĩ, đi quanh lầu đài cao lớn, đi đến pháp đường. Một Tự viện đàng hoàng tráng lệ thật, các tòa lầu đều chói lòa ánh sáng vàng rực rỡ, nghiễm nhiên toàn vàng ròng làm nên. Lão ông ngồi ngay ngắn trên thiền sàng, chỉ chỉ cái đôn thêu trước mặt mời Văn Hỷ ngồi xuống.

Lão ông hỏi Văn Hỷ từ đâu đến? Văn Hỷ thưa: “từ phía Nam”. Lão ông lại hỏi: “Phật pháp ở phía Nam như thế nào?”

Văn Hỷ trả lời: “Thời kỳ mạt pháp, Tỳ kheo giữ gìn giới luật nghiêm khắc rất ít”.

Lão ông hỏi câu thứ ba: “Chúng nhiều ít?”.

“Có nơi chúng ở ba trăm, có nơi năm trăm, không chính xác lắm”.

Văn Hỷ hỏi lại: “Phật pháp ở đây như thế nào?”.

Lão ông trả lời: “Rồng rắn lẫn lộn, phàm thánh ở chung”.

“Chúng bao nhiêu?”.Văn Hỷ lại hỏi, lão ông nói: “Trước ba ba, sau ba ba”.

Cái gì trước ba ba sau ba ba? Trước ba ba sau ba ba là bao nhiêu? Văn Hỷ không hiểu, vừa muốn mở miệng thỉnh giáo, lão ông gọi Đồng Tử rót trà và bưng đến một đĩa Tô lạc mà trước nay Văn Hỷ chưa từng thấy. Văn Hỷ nếm thử, mùi hương của nó không thể so sánh, vị ngọt của nó thấm thẳng vào gan ruột, bỗng nhiên ông có cảm giác tâm ý rỗng rang. Lão ông đưa cái tách pha lê lên hỏi: “phương Nam có cái này không?”.

Lúc đó, pha lê vẫn còn là một vật quý hiếm, thuộc một trong thất bảo mà kinh A Di Đà nói đến (vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não), cho nên Văn Hỷ chưa từng thấy qua, ông lắc đầu nói: “Không có”.

Lão ông rót trà vào ly pha lê cho Văn hỷ, mời Văn Hỷ uống. Văn Hỷ bưng tách lên uống một hớp, lão ông hỏi: “Phương Nam đã không có đồ uống trà này, bình thường dùng gì uống trà?”.

Văn Hỷ bỗng nhiên cảm nhận được thiền cơ sắc sảo, nhưng mà ông ta không có lời gì để đối đáp.

Có thể gặp lại ngàn năm sau, năm thứ chín niên hiệu Quang tự (1883 Tây lịch) cũng tại đây, trên đường đến thăm Ngũ Đại Sơn, Cao tăng Hư Vân thời cận đại bị gió tuyết vây khốn bên bờ Hoàng Hà, trước chẳng thấy thôn, sau chẳng thấy nhà. Rét lạnh, đói khát và tật bệnh, khiến Ngài hơi thở thoi thóp, rồi hôn mê, trời hiểu đến nổi đưa một người từ đâu xuất hiện, cứu Ngài Hư Vân tĩnh lại, ông tự xưng là Văn Kiết, dáng vẻ như ăn xin, nhưng ông ta lại giống như một nhà ảo thuật, có thể không ngớt lấy từ trong người ra những thứ cần thiết. Lúc ông ta đang nấu cháo cho Ngài Hư Vân ăn cho đỡ đói, trời lạnh đất đông, bèn lấy tuyết thay nước. Văn Kiết chỉ tuyết trắng trong nồi hỏi Ngài Hư Vân: “Thượng Tọa từ Phổ Đà đến, Nam Hải có cái này không? Ngài Hư Vân nói không có. Văn Kiết lại hỏi Ngài, ăn gì? Ngài Hư Vân nói uống nước. Một lát sau tuyết trong nồi đã tan, Văn Kiết chỉ tuyết tan thành nước hỏi: “là cái gì?” Lúc đó, Ngài Hư Vân vẫn chưa khai ngộ, cho nên tuy rõ ràng thể ngộ được thiền cơ tốt, nhưng lại có miệng mà khó nói, đối không được.

Mặt trời lặn về Tây, ánh mặt trời sắp hết, Văn Hỷ đứng dậy, chắp tay chào lão ông, thưa rằng: “Trời đã tối, con có thể ở nhờ đây một đêm được không?”

Lão ông nói: “Ngươi còn tâm chấp trước, không thể ở lại đây”.

Văn Hỷ vội phân bua nói con đã phá trừ chấp trước. Lão ông hỏi: “Ngươi đã thọ giới chưa?”

Văn Hỷ nói con đã thọ giới cụ túc đã lâu, rất lâu. Tăng nhân, nếu không thọ giới tức không thể coi là Tỳ kheo chính thức. Nhưng mà, lão ông lại nói: “Nếu ngươi không có tâm chấp trước hà tất lại phải thọ giới?”.

Đúng vậy, nếu đã sáng tâm thấy tánh, căn bản là không thể phạm giới, hà tất phải chấp trước hình thức thọ giới! Văn Hỷ không còn lời gì để nói, đành cáo lui.

Đồng Tử tên ‘Quân Đề’ kia phụng mệnh lão ông tiễn Văn Hỷ ra về. Văn Hỷ hỏi Đồng Tử Quân Đề: “Trước ba ba, sau ba ba, là bao nhiêu?”.

Quân Đề đột nhiên cao giọng hét lên một tiếng: “Đại Đức!”.

Văn Hỷ giật mình, theo bản năng đáp dạ một tiếng. Thiền ý của Đồng Tử Quân Đề nói một cách sắc lạnh : “Là bao nhiêu?”

Văn Hỷ lại một lần nữa cảm nhận được cơ phong cuồn cuộn như sóng đại dương vỗ lên bề mặt…

“Ở đây là nơi nào?”. Bằng trực giác, Văn Hỷ cảm giác mông lung, lão ông, Đồng Tử này phi thường lạ lùng, cho nên ông mượn cớ hỏi nơi nào để thăm dò ngọn ngành của hai nhân vật thần kỳ này. Quả nhiên Quân đề nói: “Đây vẫn là chùa Bát Nhã hang Kim Cang mà”.

Bát Nhã tức là đại trí tuệ, mà Bồ tát Văn Thù nhờ trí tuệ mà nổi tiếng! Văn Hỷ rỗng rang đại ngộ. Lão ông kia tức là Bồ tát Văn Thù hiển hóa! đối mặt lại nhầm lẫn, không thể gặp lại nữa, ông vội vàng đảnh lễ Đồng Tử, khẩn cầu cho mình ít lời trước khi rời khỏi. Đồng Tử liền nói bài kệ:

“Trên mặt không sân cúng dường đủ,

Trong miệng không sân nhả hương thơm,

Trong lòng không sân là trân bảo,

Không cấu không nhiễm là chân thường”.

Nói xong Đồng Tử Quân Đề chỉ chùa Kim Cang Bát Nhã sau lưng Văn Hỷ, Văn Hỷ vội vàng quay đầu. Ngôi chùa hùng vĩ hoa lệ kia đã không còn thấy dấu vết gì nữa. Đợi Văn Hỷ quay người lại thì Đồng Tử Quân Đề kia cũng đã mất tông tích. Một vùng núi hoang mênh mông, một vùng đất sạch sẽ trắng toát. Dường như chùa kia, người kia, cảnh kia chẳng qua đều là huyễn mộng, họ đều chưa hề tồn tại vậy! Nhưng mà, trong lòng Văn Hỷ cuối cùng đã lưu lại trăm mối thương cảm, vô cùng buồn bã và tự hối hận khiến người ta sợ hãi trong lòng…

Từ ngàn dặm vì ngươi mà đến, gặp mặt rồi không biết là ngươi. Năm tháng trôi qua vô ích, ngày nào mới có thể gặp lại ngươi? Văn Hỷ bỗng nhiên cảm thấy trong bầu trời trên đầu, trong mây lành ngũ sắc, dường như có Bồ tát Văn Thù cưỡi sư tử lông vàng từ từ lướt qua…

Thế mà, đến khi ông ngẩng đầu lên, một đám mây trắng từ phương đông bay đến, che phủ tất cả không còn dấu vết. Sau này khi Thiền sư Độc Nhãn Long Minh Chiêu đọc đến công án này, tâm có sở ngộ, thuận miệng ngâm bài tụng:

“Sa giới mênh mông còn già lam,

Khắp nơi Văn Thù đang luận đàm,

Ngay lời không biết mở mắt Phật,

Quay đầu chỉ thấy núi xanh thôi”.

Ngàn năm mộng huyễn huyễn ngàn năm, ngàn năm thương cảm ngàn năm dài, ngàn năm sau, Đại sư Hư Vân đến Ngũ Đài có thơ rằng:

“Núi đẹp thần sắc tự trời ban,

Ngàn vạn Bồ tát trụ Ngũ Đài,

Tuyết chứa ngàn năm Tăng nhập định,

Mây lành một đám bay nhỡn nhơ.

Cõi thanh lương sắc vàng kỳ dị,

Vui vì Mạn Thù trí tuệ tài,

Trước sau ba ba là nhiều ít?

Văn Hỷ hành cước chưa hề đến”.

Già lam, là tên gọi khác của chùa chiền Phật giáo; Mạn Thù là tên gọi khác của Bồ tát Văn Thù. Đúng như Đại sư Hư Vân đã nói, Thiền sư Văn Hỷ sau khi cắm tích trượng ở Ngũ Đài Sơn mấy năm, công phu tu tập tiến bộ nhiều. Chính vì có mấy năm đặt cơ sở tu tập thiền định, ông ở Hàm Thông ba năm rồi trở về phương nam, đến núi Quan Âm ở Hồng Châu tham kiến Thiền sư Ngưỡng Sơn Huệ Tịch, một câu nữa lời liền khế nhập tâm ấn của chư Phật, đạt được pháp mạch truyền thừa của tông Quy Ngưỡng.

Sư phụ Quy Ngưỡng Huệ Tịch nói với ông, người tu thiền phải phước huệ song tu. Thế là ông giữ chức điển tòa của tự viện- người quản lý nhà ăn, bỏ thiền trượng xuống cầm lấy cây cán bột mì lên, làm việc nấu cơm cho đại chúng.

Một hôm, Thiền sư Văn Hỷ đang nấu cháo, Bồ tát Văn Thù hiện hình trên xẻng xới cơm của ông.

Đại Bồ tát hiển thị Thánh tích. Đây là chuyện thần kỳ, thần thánh linh biết bao! Nhưng gặp mà không thể cầu xin đó là điều nghìn năm khó gặp. Thế mà Thiền sư Văn Hỉ không những không đảnh lễ, quỳ bái, ngược lại còn cầm cây trúc khuấy cháo đánh túi bụi, và còn trách mắng: “Văn Thù là Văn Thù, Văn Hỉ là Văn Hỉ.”

Đây chính là khí khái của người khai ngộ: “Ta chính là ta, ta là pháp vương, ta đội trời, đạp đất, ta cũng như chư Phật, không hề khiếm khuyết! Hóa thân của Bồ Tát Văn Thù chịu no một trận đòn, với bộ mặt khóc tang mà nói kệ:

Bầu đắng đắn tận góc, dưa ngọt ngọt đến cuống.

Tu hành ba đại kiếp, lại bị lão tăng ghét.

Một hôm, trong chùa có một vị Tăng lang thang áo xống rách nát, mặt mày dơ dáy, toàn thân ghẻ lở đến. Trên người ông phát ra mùi hôi, ai gặp ông cũng đều bịt mũi, tránh xa thật xa. Văn Hỉ không chút ghét bỏ ông, dìu ông vào liêu phòng của mình, hết lòng chăm sóc: rửa sạch mủ máu bôi thuốc băng bó cho ông. Vị tăng lang thang này không có giới điệp (chứng minh thân phận của vị tăng ngày xưa) cho nên, không thể ngủ lại, cũng không có cơm ăn. Văn Hỉ âm thầm nhịn đói, đem phần cơm của mình cho vị tăng lang thang đang bệnh……….

Ngưỡng Sơn Huệ Tịch bình tĩnh quan sát kỹ lưỡng rồi nói với Văn Hỉ : “ Người đã thành thục rồi, nên xuống núi hoằng hóa đi.”

Thế là Văn Hỉ trở về Triết Giang, trụ trì chùa Long Tuyền.

Tại pháp đường có một vị tăng hỏi: “Thế nào là tướng của Niết Bàn?”

Tướng Niết Bàn là một trong tám tướng của Phật, cũng chính là tướng trạng trong lúc Đức Phật nhập diệt: “ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trụ thế, ngộ đạo, thuyết pháp, hóa duyên đã xong, ở giữa hai cây Sala bên bờ sông Bạt Đề thành Câu Thi La ở miền trung Ấn Độ, sau khi nói Kinh Đại Bát Niết Bàn xong đầu hướng về phía Bắc, mặt hướng về Phía Tây, nằm nghiêng bên phải, cuối cùng viên tịch. Có một số tượng Phật nằm trong các tự viện, tức là tướng Niết Bàn của Đức Phật.

Tướng niết bàn mà vị tăng này hỏi lại có một nghĩa khác, trên thực tế ông ta đang cật vấn như thế nào là cảnh giới viên mãn của Phật? Thiền sư Văn Hỉ đương nhiên hiểu rõ ý đồ này. Sau khi đức Phật trình hiện tướng Niết bàn liền dùng lửa Tam muội tự đốt thân mình. cho nên Thiền sư Văn Hỉ trả lời rằng: “ngươi nên thể nghiệm nơi tận xứ của khói hương.”

Vị tăng này dốt nát chưa thể từ trong đó khế nhập thể nghiệm cảnh giới thanh tịnh viêiệt nam mãn. Thế là ông lại dứt khoát thẳng thắn hỏi: “như thế nào là đại ý của Phật pháp?”

Thiền sư Văn Hỉ nói: “đi tìm viện chủ đến, vị tăng này lại bị bệnh điên rồi”.

Vị tăng này vẫn cứ mơ hồ, hỏi lần thứ ba: “thế nào là bản thân của mình?”

Thiền sư Văn Hỉ yên lặng, trầm mặc hồi lâu không trả lời. Không trả lời chính là câu trả lời xảo diệu nhất: từ nơi vô thanh nghe tiếng sấm, tâm có chút nhạy bén. Nhưng im lặng như tiếng sấm kinh động vũ trụ, cóc nhái trong đáy giếng không ngẩng đầu. Vị tăng này vẫn cứ không chịu hiểu hỏi lại lần nữa.

Thiền sư Văn Hỉ nói: “trời xanh tối tăm, không bay phía trên trăng”.

Quốc Vương Ngô Việt rất kính phục Thiền sư Văn Hỷ, ban cho Ngài ca sa tía, phong hiệu là “Thiền sư Vô Trước”.

Thiền sư Vô Trước Văn Hỷ gần viên tịch, vào nửa đêm Ngài dạy các đệ tử: ‘Ba cõi tâm tận, tức là Niết bàn”. Nói xong kiết già ngồi ngay, nhẹ nhàng ra đi – Ngài lấy tính mạng cuối cùng của mình trực tiếp hiển bày thực tướng Niết bàn.

Thế mà Thiền sư Vô Trước Văn Hỷ đã viên tịch nhưng truyền kỳ vẫn chưa dứt. Sau nhiều name, năm thứ hai niên hiệu Thiên Phúc nước Ngô Việt, một đội quân ào ạt, phản quân tướng lĩnh, binh lính phóng túng cướp bóng, ngay tháp mộ của Thiền sư Văn Hỷ an táng ở núi Linh Ẩn cũng chưa thể may mắn thoát khỏi. Loạn binh phá của tháp, bỗng nhiên nhìn thấy một vị lão Hoà thượng ngồi ngay ngắn trong tháp. Ngài, giống như nhập vào trong thiền định thâm sâu, tựa hồ như chỉ một tiếng khánh vang lên, Ngài liền có thể xuất định, đứng dậy…

Nhục thân của Thiền sư Văn Hỷ không hư hoại, an táng nhiều name vẫn sinh động như sống, tóc móng vẫn dài.

Thiền cơ liên tiếp: RỒNG RẮN LẪN LỘN, PHÀM THÁNH Ở CHUNG

Thiền sư Hoằng Bá Hy Vận là người Phúc Châu, tuổi nhỏ đã xuất gia làm một tiểu sa di. Sau khi thọ giới Ngài bắt đầu ra ngoài vân du. Mục tiêu thứ nhất của Ngài là núi Thiên thai ở Triết Giang.

Núi Thiên Thai là nơi Phật giáo sản sanh tông phái thứ nhất ở Trung Quốc – nơi đất lành phát sanh ra tông Thiên Thai. Đại sư Trí Khải (538 – 597) – đời xưng là Đại sư Trí Giả – tổ sư khai tông Tông Thiên Thai, từng ở nơi nay tu thiền, khế nhập Pháp Hoa tam muội, tâm khai đắc ngộ. Đại sư Trí Giả là một trong những Tăng nhân trước thuật phong phú nhất của Trung Quốc, viết tổng cộng được 29 bộ, 151 quyển. Chùa Quốc Thanh là tự viện quan trọng nhất của núi Thiên Thai vốn là chỗ tu thiền của Đại sư Trí Khải, năm thứ mười tám triều đại Khai Hoàng (598 TL) Phổ Vương Dương Quảng theo di nguyện của Đại sư Trí Khải mà kiến lập thuộc tổ đình của tông Thiên Thai.

Lúc đó, Hoàng Bá Hy Vận sở dĩ muốn hướng đến núi Thiên Thai là vì trong chùa Quốc Thanh có hai vị Tăng kỳ diệu: Hàn Sơn và Thập Đắc (xem tùng thư Thiền Cơ Đốn Sự tắc 24 đến 26). Suốt hành trình, ngài cứ đi mãi, không nghỉ, cuối cùng cũng đến được chân núi Thiên Thai.

Nhưng thấy trên núi thông tốt tươi đều đặn, cỏ cây um tùm, núi cao hùng tráng, cửa ngõ an lành, là thứ quý hiếm trong biển núi nghèo, đẹp đẽ tráng lệ, như cảnh tiên vậy. Hoa đỉnh phong nhô lên từ biển 1138 mét, các núi chụm lại với nhau, thế núi cao và dốc đứng cô lập, úp trong mây mù hư không như ẩn như hiện giống như một đang dãi mây vậy. Không biết rốt cuộc là nó có hay không, là rời rạc hay liên kết? Càng không thể biết nó có thông lên rơi thần tiên không hay là quê hương của mây trắng…

Người đời tìm đàng mây,

Đàng xa xôi không dấu,

Núi cao nhiều hiểm trở,

Khe rộng thiếu lung linh,

Trước ngọc trước và sau,

Mây trắng Tây và Đông,

Muốn biết con đường mây,

Đông mây tại hư không.

(chùa Hàn Sơn)

Hoàng Bá Hy Vận cố gắng leo lên đỉnh Thiên Thai, xuyên qua rừng cây tươi tốt, rậm rạp dưới chân núi. Ngài gặp một người tướng mạo kỳ dị. Rời nhà vân du đến chân trời, Tăng nhân trong thiên hạ là một nhà. Nơi núi hoang gặp nhau tức là có duyên. Lúc chuyện trò bàn luận, hai người đều cảm thấy rất hoà hợp, dường như đôi bạn thân lâu ngày không gặp vậy. Duyên phận giữa người và người chính là kỳ quái như vậy, có một số người vừa gặp như đã quen lâu, thân mật không giới hạn. Mà có một số người gần nhau suốt đời lại như xa lạ. Hoàng Bá Hy Vận phát hiện hai mắt của vị Tăng kỳ lạ này tinh quang ánh lên, thu nhiếp hồn phách người ta. Có thể thấy công phu tu hành của ông ta không như người phàm.

Hai người nói chuyện thiền bàn luận đạo lý, vừa đi vừa nói, bất giác đã leo qua một ngọn núi cao, lồng lộn gào thét, chảy ngang thành sông. Sức nước lũ trong núi rất kinh người, đá lớn ngàn cân nó cuốn đi như viên nhỏ, huống hồ là người.

Hoàng Bá Hy Vận tự nhiên không muốn mạo hiểm lội qua, ông lấy gay trúc chống chóng trên đất, lấy nón trên đầu xuống, quán sát tình hình nước lũ. Vị Tăng kỳ lạ kia nói: “con khe nhỏ nhoi này sao đủ để ý”.

Hoàng Bá Hy Vận nói, nước trong khe núi thiên biến vạn hoá, nông sâu khó lường. Vị Tăng kia không hề để ý, nói rằng: “không ướt chân”.

Hoàng Bá bỗng nhiên cảm nhận được sự sắc sảo như núi cao dốc đứng, làn sóng trào dâng vậy: Lũ to bất ngờ, sóng trắng cuồn cuộn ngất trời, lại nói không ướt chân, thật là tràn đầy thiền ý! Đúng rồi, tự tánh của chúng ta không lay động, dù cho nước lũ (phiền não) bean ngoài cuồn cuộn, cũng không thể làm ướt nó nửa phân.

Thế là Hoàng Bá cũng dùng sự nhạy bén mà đối đáp: “Đã như thế thì, mời ông lội nước qua sông đi”.

Vị Tăng cười, tay xách ca sa, để lộ giày cỏ, đôi chân đạp trên bọt sóng nước, như đi trên đất bằng, từ từ đi qua bờ bên kia …

- Quả nhiên không ướt chân!

Vị Tăng qua đến bờ kia, quay đầu vẫy tay gọi Hoàng Bá: “Qua đây, qua đây!”

Hoàng Bá lại dừng chân, chửi: “Vốn dĩ ông là không ướt chân như vậy! Vốn dĩ ông là không ướt chân như vậy! Vốn dĩ ông chỉ là một kẻ chỉ biết độ cho riêng mình! Sớm biết như thế, ta đã chặt hai chân của ngươi rồi!”.

Vị Tăng kia nghe rồi, ngửa mặt lên trời than một tiếng dài: “Những ngày ta dạo chơi ở Trung Hoa rộng lớn, hôm nay gặp được một pháp khí đại thừa, tự than không được như thế, tự hổ không được như thế”.

Nói xong vị Tăng kia không còn thấy tăm hơi đâu nữa.

Năm thứ 24 niên hiệu Khai Nguyên của Đường Huyền Tông, chiếu lệnh các quận châu trong thiên hạ, mỗi nơi xây dựng một ngôi chùa lớn, liền lấy kỷ niên làm tên chùa, làm tên chùa chiền chính thức. Cho nên, những thành ở của Trung Quốc từ cấp vừa trở lên đều có một ngôi chùa Khai Nguyên. Chùa Đại Khai Nguyên ở Thuận Đức tỉnh Hà Bắc (nay là Hình Đài) chính là một trong những ngôi chùa Khai Nguyên xây dựng vào đời Đường.

Năm đó, chùa Khai Nguyên có một vị Tăng vân du, mọi người không biết ông ta từ đâu đến, càng không biết ông tu hành pháp gì, chỉ biết pháp hiệu của ông gọi là “Pháp Minh”. Kỳ thật nên gọi là “Pháp Âm”, bởi vì từ khi ông đến chùa Khai Nguyên ở lại, không hề giảng kinh, cũng không thuyết pháp, chỉ suốt ngày tụ tập với bọn rượu chè, cờ bạc chơi đến nổi phát cáu.

Lúc đó, ở ngay thời kỳ đất nước rất rối ren, xã hội bất an, lòng người lo sợ luôn cảm thấy giữ được buổi sớm không chắc giữ được buổi tối. Cho nên, có nhiều người sống qua ngày đoạn tháng, sống say chết mộng. Pháp Minh là một vị Thiền tăng, là một người xuất gia, một vị Hoà thượng trọc đầu, suốt ngày tụ tập với bọn người kia, thật giống con lừa từ trong chuồng cửu chạy ra, đương nhiên không được tín chúng hiểu. Hành vi cử chỉ của ông càng làm cho đồng đạo không đếm xỉa đến. Thiền sư Pháp Minh như ngây như dại, chẳng hề quan tâm đến ánh mắt lạnh lùng của mọi người, vẫn uống rượu, đánh bạc, vui chơi không mệt mỏi với bọn người kia. Như vậy, cổ nhân dạy: nơi rượu chè không có quân tử, nơi cờ bạc chẳng có ma tốt.

Nói ra cũng lạ, mặc dù Pháp Minh vừa dốt vừa biếng nhác, những người này lại rất nghe lời ông.

Cứ như thế mười mấy năm trôi qua, xã hội dần dần yên tĩnh lại. Một hôm, Pháp Minh nói với các Tăng nhân trong chùa: “Ngày mai ta phải đi rồi”.

Mọi người vốn dĩ rất ghét ông, càng không quan tâm ông sẽ đi về đâu, cho nên, những câu mọi người nói với ông đều chỉ cho qua chuyện thậm chí còn mừng thầm: ngươi đi càng sớm càng tốt.

Thế mà ngày hôm sau, chúng tăng vẫn không thấy ông chuan bị vân du hành cước. Ngay cả lũ bạn bè chó má sống vất vưởng bình thường giao du với ông đều đến đưa tiễn. Ong không những không thu dọn hành lý, ngược lại tắm giặt áo xống, kiết già đoan toạ. Đây lại là việc làm hiếm hoi nhiều năm nay chưa hề thấy. Pháp Minh nói với đại chúng: “Ta phải nói lời ca từ biệt với các ông rồi.”

Với tất cả mọi người lúc này mới rõ, ông ta tức là nhập diệt!

“Trước lúc gần đi, ta có mấy lời muốn nói với các Ông: “Thiền sư Pháp Minh dùng thần sắc trịnh trọng trước nay chưa hề có để nói với tất cả mọi người, liền đó ông ngâm tụng bốn câu kệ:

Bình sáng túng túng trong mê say

Mê say lại thây phân biết bày

Sáng nay tỉnh rượu nơi chốn ấy

Bên bờ dương liễu gió mai trăng tàn.

Dù thế nào nữa chúng ta cũng không ngờ rằng, ông suốt ngày say mèm, tự nhiên lại có thể xuất khẩu thành thơ, lại còn dự đoán đến việc chưa đến, từ trong khẩu khí của bài kệ, ông bình thường như say như dại, vậy mà đều là đóng kịch mà thôi! Kỳ thực, điều mà khiến người ta khó tin là mặt này Thiền sư Pháp Minh nở nụ cười ý vị sâu xa, thần bí, nhẹ nhàng ra đi!

Nếu không phải thường ngày co thể giờ giò phút phút làm chủ, làm sao có thể giải thoát như vậy!

Mãi đến lúc này, mọi người mới hiểu rõ , việc không chú ý ăn mặc, uống rượu đánh bạc của ông đều là du hí tam muội, Đặc biệt là những người bình thường cùng uống rượu đánh bạc với ông , bỗng nhiên nghĩ rằng, nhưng năm gần đây, trong số họ không có ai biến thành con ma rượu không có thuốc chữa, uống đến khi khuynh gia bại sản, không có con bạc nào đọa lạc thành kẻ không có việc ác gì mà không dám làm, thua đến vợ con ly tán. Những người này và sự ngang bằng chướng không thấy trong mờ ám của Thiền sư Pháp Minh, sẽ có biết bao nhiêu người nhiễm thói cờ bạc, thói xấu nát rượu, khó mà tự khống chế, không thể vượt qua, cuối cùng thì nhà tan cửa nát, thân tàn ma dại.

Đúng vậy, Người ta ngay sanh tử cũng đã nắm chắc, chúng ta có bản lĩnh đó không? Không có bản lãnh này mà cón dám lang thang trong sanh tử, sinh hoạt phóng đãng sao……..Đại cơ đại dụng của Thiền chính là bất khả tư nghĩ như thế. Vị tăng kì lạ này có thể đủ sức bay bổng lên trời cao, Đại sư Hoàng Bá lại không đáng nhìn, Bồ Tát Văn Thù thần thông hiển hóa, lại gặp phải gậy của Thiền sư Văn Hỉ đánh, Thiền sư Pháp Minh lộn xộn điên đảo, thanh danh bê bối, trong lòng lại rõ ràng, chuyển hóa được đại chúng vô hình.

TẮC THỨ MƯỜI TÁM: HẠT HUYẾT TRONG LÒ LỬA

Thiền sư Trường Tư Khoáng ở Đàm Châu Hồ Nam (nay là Trường Sa), hành cước khắp nơi. Năm nọ, ông đến ở Tào Khê ở Thiền Châu lễ bái tháp nhục thân Lục Tổ Huệ Năng trở về, lúc đi qua Nam Nhạc, bỗng nhiên nghĩ đến đại sư Thạch Đầu kết am ở trên núi Hằng Sơn này chính là người đã tận mắt gặp Lục Tổ. Thế là ông sẽ lên núi, tham yết đại sư Thạch Đầu Hi Thiên. Đại sư Thạch Đầu nhìn thẳng ông một cái rồi hỏi một câu xem ra thật bình thường: “Ông từ đâu đến vậy?” Thiền sư Khoáng là người tham thiền đã lâu, cho nên ông có thể cảm nhận được thiền cơ Tổ sư dẫn dắt trong câu hỏi bình thường của đại sư Thạch Đầu Hi Thiên. Ông cũng không dao động trước thanh sắc thật thà trả lời: “ từ Lãnh Nam đến”.

Lãnh Nam là nguồn sữa thiền đốn ngộ của Lục Tổ, còn là quê hương của đại sư Thạch Đầu Hi Thiên, cho nên, câu trả lời của thiền sư Khoáng lại có thiền ý “ứng cơ”. Quả nhiên, đại sư Thạch Đầu khích lệ hỏi: “Một phần công đức trên dãy núi Đại Dữu, phải chăng đã thành tựu?”

Núi Đại Dữu là núi ranh giới giữa Hồ Nam, Giang Tây và Quảng Đông, là dãy núi phân chia dòng nước ra hai phía Nam Bắc. Nhưng mà, câu hỏi này của đại sư Thạch Đầu không hề liên quan đến địa lý. Thiền Khoáng đã từ Tào Khê Lĩnh Nam đến tất nhiên đi qua dãy Đại Dữu. Mà trên dãy Đại Dữu, Lục Tổ Huệ Năng đã từng điểm hóa cho thiền sư Huệ Minh đại triệt đại ngộ, tận mắt thấy bản lai diện mục của mình (xem Tùng thư “ Thiền Đông Thiền Tây Bản lai diện mục”) Chính vì như thế mà Thạch Đầu Hi Thiên mới hỏi như vậy?

Dưới sự khích phát của đại sư Thạch Đầu, thiền sư Khoáng hoát nhiên khế nhập tông chỉ thiền, lập tức đầy đủ khí khái nam tử hán đầu đội trời chân đạp đất, cho nên, ông trả lời rằng: “Thành tựu đã từ rất lâu rồi, chỉ thiếu điểm nhãn”.

Nói đến điểm nhãn, như vẽ rồng chấm thêm mắt, cá chép nhảy qua cửa rồng. Được ấn khả của sư phụ, trên có thể phun mây nhả mù, vút tận trời cao! Đại sư Thạch Đầu nói: “Thật muốn điểm nhãn sao?”

Thiền sư Khoáng cũng không khách khí: “Xin mời”

Đại sư Thạch Đầu Hi Thiên không trả lời mà thỏng một chân xuống

Năm đó, sư phụ của Thạch Đầu Hi Thiên – Thanh Nguyên Hành Tư, cũng thỏng một chân xuống để biểu thị sự chấp nhận đối với sự khai ngộ của Hi Thiên. Thiền sư Khoáng thấy tình cảnh này, vội năm vóc gieo sát đất, quỳ xuống đảnh lễ . Thế mà, Thiền sư Thạch Đầu vẫn chưa bỏ qua nói “Người lãnh ngộ được đạo lý gì mà lễ bái như vậy?”

Thiền sư Khoáng mỉm cười, nói: “Theo con thấy giống như hạt tuyết trong lò lửa”.

Câu trả lời cơ phong như thế, giống như con công múa trong ráng đỏ, chim tiên hót trên tầng mây , sáng đẹp, cao diệu nhưng lại tự nhiên không chê vào đâu được, giống như trời đất sinh ra vậy. Đại sư Thạch Đầu thỏng một chân xuống, vừa vặn giống như bánh ngon treo nơi đầm sâu, ý đang nhử rồng. Quả nhiên, người biết tự cắn câu, “Hạt tuyết trong lò lửa, công huân tuyệt diệu”.

Hạt tuyết trong lò lửa, vô cùng đẹp đẽ, vô cùng kì lạ, lại đem ý cảnh thiền; phong vận thiền nâng lên đến chỗ đến tột cùng! 1000 năm sau chúng ta vẫn có thể lãnh hội thiền ý linh động…

Hạt tuyết trong lò than,

Băng kết trong ngọn lửa.

Cá nhảy suối không nguồn,

Chim hót trên cây khô.

Tiều phu chặt mây xa,

Ngư ông câu trên đảo.

Giày tuyết đỉnh trơ đỉnh không trắng,

Mưa ướt măng đá măng phải sanh.

Những lời lạ lùng như thế chỉ có thể xuất hiện nơi miệng Thiền sư. Nó nhờ ý tưởng siêu việt đẹp đẽ khác thường, sáng tạo ra ý cảnh ngược đơì nhưng lại hợp với tư duy của thiền, có sức hấp dẫn kì lạ nhiếp phục hồn phách người ta, khiến cho người không ngừng nảy sinh tư tưởng kì diệu, do không tự chủ mà sanh ý tưởng miên man.

Thiền sư Khoáng được Thiền sư Thạch Đầu Hi Thiên ấn khả rồi, trở về Đàm Châu, trú trì tại Trường Tư, xiển dương tông chỉ Thạch Đầu, thiền phong lừng lẫy, pháp đường cực thịnh.

Có một vị tăng đến tham yết, ông đến phương trượng, không lễ bái, mà đi quanh thiền sàng của thiền sư Khoáng một vòng rồi bỏ đi. Xem ra đây là một người tham thiền đã lâu, là người tự chủ. Thế mà cơ phong gặp nhau, người tự chủ cũng phải chia khách chủ. Thế là Thiền sư Khoáng nói: “nếu là pháp tịch của Thạch Đầu thì chẳng dùng được tí nào.”

Vị tăng này lại đi quanh thiền sàng một vòng, chỉ hiển thị bản thân là một người biết thiền. Thiền sư Khoáng cười nói: “lúc làm như thế này, thật khó để nói rõ chỗ đến”.

Ý của Thiền sư Khoáng là ông rất cứng nhắc, giáo điều, không hiểu lời người xưa. Vị tăng này không phục, tự cho rằng mình có sở đắc, bèn quay người đi ra ngoài. Thiền sư Khoáng kêu ông, ông không quay đầu, tiếp tục đi ra ngoài.

Ông làm như, vậy tự có đạo lí của ông. Ông cho rằng bản thân tham thiền có ngộ, cho nên phải tự đưa ra chủ trương. Thế mà tâm thiền linh động, không chấp mê mà cũng không chấp ngộ, không có gì đắc mà cũng không có gì không đắ. Vị tăng này chổi cùn cũng quí, đem cái ngộ được của mình dấu kỹ trong lòng, cho đến che đậy mà toát ra mùi hôi. Các vị tổ sư gọi tình huống này là “đảnh môn cang thiền” – không biết vận dụng linh hoạt, tùy nơi mà chuyển mình.

Thiền sư Khoáng mắt tuệ sáng rõ, nhìn đúng căn bệnh đang tồn tại của ông, áp dụng thủ thuật chêm khử chêm nên bảo rằng: “kẻ này khi còn nhỏ học ở đâu?”

Vị tăng này ngước mũi lên trời, làm sao chịu chấp nhận lời chế giễu lạnh lùng này?

Quả nhiên ông quay đầu lại nói: “có một người, không đạt từ người khác, không chịu học tập, không rơi vào giai cấp, Thiền sư có chấp nhận không?”

Cái ông chỉ là tự tánh ai ai cũng đầy đủ. Lục tổ từng nói, tự tánh vốn tự đầy đủ, tự tánh không dao động. Vì thế không phải đạt được từ bên ngoài, không cần dạy dỗ, cũng không rơi vào giai cấp. Thế mà, chấp trước chân lí, chân lí liền trở thành giáo điều; qua sông rồi mà còn vác thuyền, thuyền đưa người qua sông lại trở thành gánh nặng; bệnh lành rồi mà còn uống thuốc, thuốc hay lại trở thành thuốc độc! Cho nên, Thiền sư Khoáng nói: “gặp mà không gặp, gặp ắt có chuyện”.

Dùng chêm bỏ chêm, xà trên cửa bõng nhiên hạ xuống, của thiền mở toang. Vị tăng này hoát nhiên đại ngộ, vội lùi lại ba bước. Thiền sư Khoáng lại đi quanh thiền sàng một vòng, vị tăng kia nói: “không những tông nhãn rõ ràng mà truyền thừa của sư có căn cứ”. Câu này là ông tán dương Thiền sư Khoáng sau khi bản thân đã đại triệt đại ngộ, đồng thời cũng tự khen mình đã phá bỏ được thành lũy bịt lấp trong tâm. Thiền sư Khoáng đánh ông ta ba gậy, đánh dấu ông đã vượt qua long môn, biểu thị sự khen ngợi.

Lại có một vị tăng đến thăm, Thiền sư Khoáng hỏi ông ta từ đâu đến, ông trả lời: “núi Cửu Hoa đè am đá”.

Thiền sư Khoáng vẫn bình thản hỏi, am chủ của ông ta là ai. Thiền tăng trả lời: “đó là một tôn túc đức cao vọng trọng ở dưới trướng của Mã Tổ đạo Nhất”.

Thiền sư Khoáng hỏi vị tôn túc đó tên gì? Thiền tăng nói không biết pháp hiệu của ngài. Thiền sư Khoáng tự nhiên nổi cáu hỏi: “là ông ta không biết hay là ngươi không biết?”

Thiền tăng là một người hiểu ý, biến sấm sét vào vô hình, không đáp mà hỏi ngược lại: “mắt tôn túc ở đâu?”

Thiền sư Khoáng trả lời: “nếu là am chủ đích thân đến, hôm nay ắt phải ăn gậy”. Thiền tăng thi lễ thưa: “may mắn gặp được Hòa thượng, xin tha cho con đi.”

Thiền sư Khoáng thương cảm than: “trăm năm sau tìm kiếm một sư tăng hiểu ý cũng khó được.”

Lý Hành Bà đến tham vấn, Thiền sư Khoáng bèn hỏi bà: “còn nhớ chuyện lúc ở Giáng Châu không?”

Một người là người xuất gia, một người là đàn bà, thì lúc ở Giáng Châu có chuyện gì chứ? Nếu nghĩ thêu dệt khỏi phải ăn ba mươi gậy; nếu cho là không có việc gì, tất nhiên phải ăn ba mươi gậy. Thời xuân thu Giáng Châu từng là thủ đô của nước Tấn; Giáng Châu (nay là huyện Tân Giáng tỉnh Sơn Tây) cách Đàm Châu (nay là Trường Sa) mấy ngàn dặm mênh mông. Lý Hành Bà là người nữ, vào thời kì Trung Đường phương tiện giao thông rất sơ khai, không thể đi qua phương Bắc xa xôi. Vậy mà, Thiền sư Khoáng nói như vậy là có ý thú gì chứ?”

Lý Hành Bà lại đáp: “nếu không phải Hòa thượng nhắc đến thì tôi đã quên mất rồi”.

Trời ạ, lẽ nào bà ta, người đàn bà này thật tình đã đến Giáng Châu? Và tại Giáng Châu đã từng có chuyện gì đó với Thiền sư Khoáng? Thiền cơ vi diệu, không thể nghĩ bàn, thánh phàm khó lường, phàm phu không hiểu.

Thiền sư Khoáng nói: “già hư giả, non thực tế”.

Lý Hành Bà nói: “đại Hòa thượng, ông có gì kị húy sao?”

Thiền sư Khoáng nhấc thiền trượng trên tay, nói: “nghĩ ngươi là đàn bà, tha cho ngươi vài gậy.”

Lý Hành Bà lại không chịu để yên, lại đem cơ phong đẩy lên một mức cao độ hoàn toàn mới mẽ. Bà nói, cuối cùng tôi cũng không phát hiện ra ông có lỗi gì”.

Thiền sư Khoáng mới không chịu nhận lời khen “ chẳng mang ý tốt này”, ngài lập tức lấy thế thủ làm thế tấn công, hỏi rằng: “lỗi của lão tăng ở đâu?”

Lý hành Bà chỉ đợi có thế, hỏi lại: “Hòa thượng ngươi không có lỗi lầm, lão bà ta há có thể có lỗi lầm sao?”

Đúng vậy, nếu không lỗi lầm, ngươi quên đưa gậy lên, há không phải là người mù sao! Thiền sư Khoáng tự có bản lãnh giở nhiều thủ đoạn, trong nháy mắt lại trình hiện một cơ phong mới: “không có người lỗi lầm, lại sẽ thế nào đây?”

Lý Hành Bà là một người rất cừ bèn đưa thẳng nắm đấm nói: “như thế này, luôn thành điên đảo”.

Thiền sư Khoáng và Lý Hành Bà cùng cười ha hả. Cười xong Thiền sư Khoáng đem pháp chiến cơ phong của họ tổng kết thành “thật không có chỗ kị húy”.

Liên quan đến thiền cơ: Thiền Cơ Diệu Kì Không Thể Nói Được

Thiền sư Giản ở Cao Đình – Hoàn Dương, từ bờ Hán Giang Hồ Bắc đi thẳng xuống phía Nam, đến ven bờ sông Nguyên ở vũ Lăng – Hồ Nam (nay là Thường Đức). trong chốn thiền lâm thịnh hành câu truyền: “gậy Đức Sơn khua mất vía phàm Thánh ma quỷ”. Ông đến tham bái đại sư Tuyên Giám Đức Sơn.

Vừa may, ông vừa đến bên bờ sông lớn dưới chân núi Đức Sơn, đại sư Đức Sơn Tuyên Giám lại đúng lúc xuất hiện bên bờ sông bên bờ sông bên kia. Đại sư Đức Sơn không phải đến để qua sông, mà là dọc theo bờ đê bên kia sông đi xuống phía dưới dạo chơi. Thiền sư Giản nghĩ rằng, đợi mình qua đến bờ bên kia mới đuổi theo thì không kịp nữa. Thế là, ông liền đứng bên này sông gọi lớn: “đại Hòa thượng Đức Sơn, đại Hòa thượng Đức Sơn!”

Đức Sơn Tuyên Giám quay đầu nhìn sang bên này sông. Thiền sư Giản vội vã hỏi lớn: “con không biết nghĩa chân thật của thiền là gì? Xin ngài nói cho con.”

Đức Sơn Tuyên Giám không trả lời, phẩy phẩy cái quạt trong tay.

Nhưng mà chỉ bên kia sông phẩy phẩy quạt là đủ rồi, Thiền sư Giản khoát nhiên khai ngộ. Ông cũng không đuổi theo Đức Sơn làm gì nữa, không chút do dự, quay đầu bỏ đi, thậm chí chẳng thèm nhìn lại một cái.

Một phụ nữ xây dựng một căn nhà nhỏ tinh xảo đẹp đẽ nơi núi rừng thanh đều, non xanh nước biếc, một lòng muốn thành tựu một vị làm rường cột cho cửa Phật. Có một thiền tăng may mắn được chọn vào đây, ông được thí chủ thịnh tình mời vào am đóng cửa tu hành. Người phụ nữ rất kính trọng và tin tưởng. Hằng ngày bà đều dâng cúng, còn thiền tăng rất chịu khó yên tĩnh tu tập, suốt ngày chỉ ngồi thiền, không hề phan duyên với thế giới bên ngoài. Ráng mai xán lạng, hoa nở như gấm, mắt pháp đã đạt đến thanh tịnh địa, không bị nhiễm sắc hồng trần. Oanh ca yến múa, nước suối róc rách, thiền tâm rỗng rang khó gần vật, không theo ong bướm lên xuống điên cuồng.

Nháy mắt đã hai mươi năm trôi qua, người phụ nữ trở thành một bà lão. Một hôm, bà bảo đứa cháu gái mới mười sáu tuổi đi đưa cơm, và cúi xuống dặn dò bên tai chuyến này phải như thế.

Tiểu nữ đưa cơm đến cho Thiền tăng, ngay bản thân cũng cùng đưa đến cửa – cô ôm chặt vị Tăng, như lời bà nội đã dặn đi dặn lại hỏi: “ngay lúc này ông nghĩ như thế nào?”.

Vị tăng kia có định lực ung dung nói: “cây khô dựa núi lạnh, ba đông cũng chưa có hơi ấm”.

Om cô gái Diệu Linh nhưng lại giống như một khúc cây khô dựa trên tảng đá băng lạnh không hề khởi lửa dục. Thật đúng là ngồi lòng không loạn, rất đáng xưng là bậc đạo đức cao thượng.

Không ngờ bà lão nghe xong, than rằng: “ta hai mươi năm nay chẳng qua cũng chỉ là cúng dường cho một kẻ phàm tục!”

Thiếu nữ không hiểu, lúc da thịt nam nữ tiếp xúc với nhau, vị tăng kia lại an trú không hề dao động, chẳng phải là người tu hành thâm sâu, rất khó đạt được đó sao? Bà già nói: “hai câu nói kia chứng tỏ tâm ông ta vẫn còn phân biệt, đó là điều đại kỵ của Thiền giả.

Bà lão vội đuổi vị tăng nhân, lấy lửa đốt thiêu am cỏ.

Vị tăng bị đuổi đi rất xấu hổ, đau buồn vì bản thân đã nhận mười mấy năm cúng dường vô ích, lại không khai ngộ. Từ đó, ông phát tâm đại sám hối, dõng mãnh hành đạo, vừa khất thực ở trong thị trấn, vừa khắc khổ tu hành. Ba năm sau, ông lại đến nhà bà lão, khẩn cầu bà cho ông đóng cửa lại một lần nữa, thời gian chỉ ba năm. Gió xuân ba lượt, công đức viên mãn. So với sáu năm trước, cháu nội của bà lão đã là một đóa hoa mẫu đơn nở rộ kiều diễm, cô cũng làm y như lời bà dặn dò, bước lên ôm lấy Thiền tăng, bảo: “nói, nói mau!”

Thiền tăng nói với cô gái: “trời biết đất biết, cô biết tôi biết, chớ cho bà bà nhà cô biết!”

Chuyện giữa một người nam và một đại cô nương, trời biết đất biết, cô biết tôi biêt, lại không cho người ngoài biết, có thể có việc gì tốt? Thế mà, bà bà nghe lời cháu gái nói xong vui mừng khôn xiết, đi đến am tranh nơi thiền tăng đang đóng cửa, nói với ông ta: “vui thay! Vui thay! Chúc mừng Thiền sư đã đại triệt đại ngộ!”

TẮC THỨ 19: TRĂNG TRÒN RỒI KHUYẾT

Thiền sư Thạch Thất Thiện Đạo vốn là một cô nhi lang thang khắp nơi chẳng có ai quan tâm, cậu không thương, bà cũng ghét, năm ông mười tuổi, Thiền sư Trường Tư Khoáng gặp ông trên phố, dẫn ông về chùa. Thế là, ông xuất gia làm một tiểu sa di đuổi quạ. Năm tháng qua mau, thời gian tám năm để một “sa di đuổi quạ” bé nhỏ tôi luyện trở thành một “ứng pháp sa di” – không lâu nữa tức có thể chính thức tham dự những sinh hoạt trong cuộc sống của người xuất gia. Một hôm, Thiện Đạo nói với Sư phụ: “Đệ tử muốn đi thọ giới”.

Trường Tư Khoáng nói: “con thọ giới để làm gì?”

Thiện Đạo thưa: “sau khi thọ giới đệ tử có thể hành cước vân du. Đệ tử từ lâu đã muốn đi đến mây nước khắp tòng lâm, Nam Bắc sông lớn tham học, rèn luyện thiền đạo. Nhưng không có giới điệp, không dám ra đi”.

Tăng nhân sau khi thọ 250 điều giới cụ túc, mới có thể xem là một tỳ kheo chính thức. Cho nên, tăng nhân xếp hàng đều lấy giới lạp (thời hạn thọ giới) làm thứ tự.

Thiền sư Khoáng bảo: “Thọ giới phải đủ 20 tuổi mới được còn con thì sao?”.

Thiện Đạo không có lời gì để đáp đành im lặng đi ra. Một chân ông vừa bước qua ngưỡng cửa , Thiền sư Khoáng bỗng nhiên gọi ông quay lại. Thiền Đạo thưa: “sư phụ có việc gì không?”. Thiền sư Khoáng nói: “Ta không có việc mà ngươi thì có việc đấy”.

Thiện Đạo cảm thấy kỳ lạ: rõ ràng là Sư phụ gọi ta, làm sao lại là ta có việc được chứ?

“Con muốn thọ giới không phải là có việc sao!” Thiền sư Khoáng lại nói: “việc tâm chưa sạch, tích tụ thành núi. Con đã xuất gia nhiều năm trong chùa, lại đủ mười tám ròi, có thể tùy nghi một tí, cho phép con đi thọ giới thôi”.

Trong lòng Thiện Đạo vui mừng reo thành tiếng, lập tức chạy về liêu phòng của mình chuẩn bị hành lý. Sáng sớm ngày hôm sau, ông liền đến Sư phụ từ biệt ra đi. Thiền sư Khoáng dặn đi dặn lại rằng: “lúc con thọ giới trở về, nhất định phải đến Nam Nhạc Hằng Sơn để lễ bái Sư phụ của ta – lão Hòa thượng Thạch Đầu Hy Thiên. Ơ đó tự sẽ có điều tốt cho con”.

Thiện Đạo thọ giới xong, nghe lời sư phụ dặn dò, đến tham yết Tổ sư Đại sư Thạch Đầu. Đại sư Thạch Đầu Hy Thiên rất hoan hỉ với đồ tôn này, bèn giữ ông ở lại bên cạnh, dẫn dắt thường xuyên.

Một hôm, lúc Thiện Đạo theo hầu Thạch Đầu Hy Thiên vân du trên núi, Đại sư Thạch Đầu bỗng nhiên chỉ cây trước mặt hỏi: “Con đến chặt ngã cây trước mặt cho ta, để nó khỏi cản đường ta.”

Tổ sư Thiền Tông xưa, nói im động tĩnh, không gì là không phải thiền; trong một hôm mượn việc chỉ vật, tùy lúc khai thị, thiền yếu. Đại sư Thạch Đầu bảo Thiện Đạo chặt cây, chính là gợi ý việc trước mắt. Thiện Đạo ngẩng đầu đưa mắt, nhìn cây nhỏ trước mặt, nói: “Con không đem giới đao đi theo”.

Giới đao là một trong 8 vật tùy thân Tỳ Kheo mang theo để dùng vá áo là dao nhỏ hình bán nguyệt, để dùng vá áo, cắt tóc, bổ dưa. Vì đức Phật không cho phép chặt tất cả các cây cỏ, cho nên dao Tỳ kheo mang theo gọi là “Dao giới”. Đồng thời, dao giới rất bén, có thể chém đứt tất cả phiền não vì thế nó ngoài giá trị thực dụng ra, cũng có ý nghĩa trên tinh thần. Đã là đức Phật cấm chỉ vô cớ phát chặt cây cỏ, Đại sư Thạch Đầu bảo Thiện Đạo đi chặt cây trước mặt chắc có ý vị khác, mà dao giới đã là vật tùy thân của Tỳ Kheo, Thiền Đạo vừa mới thọ giới, lại nói mình không mang theo, cũng có một ý thú khác.

Đại sư Thạch Đầu rút dao giới của mình ra, nhưng lại đưa cho Thiện Đạo – bảo ông đón lấy lưỡi dao! Thiện Đạo vô cùng thông minh lanh lợi. Vừa nhìn đã biết Tổ sư đang chỉ thị thiền yếu, tâm ông cũng theo đó mà linh động, nhạy bén hỏi rằng: “vì sao không đưa đầu kia?”

“Đầu kia”, trên biểu hiện giống như đang nói cán dao, trên thực tế lại như “cái này, cái kia, bên này bên kia” mà Thiền sư thường nói, những thứ này đều đại biểu cho tự tánh, Phật tánh … không thể nói, không hình không tướng. Cho nên, Thiện Đạo cũng đang thỉnh Tổ sư Thạch Đầu chỉ thị tự tánh.

Thạch Đầu Hy Thiên lại nói: “con dùng đầu kia làm gì?”.

Đầu này, đầu kia đều là tác dụng của tự tánh, hà tất phải thêm phân biệt sai quấy? Mà tự tánh, chính ngay trong những sự việc hằng ngày như “rút dao, chặt cây” thể hiện ra tác dụng của nó; tự tánh chính ngay trong tác dụng, không thể đem nó chặt thành hai được!

Thiện Đạo ngay lập tức đại triệt đại ngộ!

Cuối cùng ông hiểu rõ Sư phụ - Thiền sư Trường Tư Khoáng đã suy nghĩ rất nhiều khi bảo ông đến Hằng Sơn.

Thiện Đạo bái biệt Sư tổ Thạch Đầu, thẳng đường lên phía Bắc, trở về Trường Tư – Đàm Châu. Thiền sư Khoáng hỏi ông: “phải chăng con đã ghé qua Nam Nhac? Gặp lão Hòa thượng Thạch Đầu chưa?”

Thiện Đạo thưa: “đến thì đã đến rồi, chỉ là chưa từng thong báo danh hiệu”.

Thiền sư Khoáng vừa nghe câu này lập tức hiểu rõ đồ đệ đã khai ngộ nhưng Ngài vẫn phải khảo nghiệm một phen xem Thiện Đạo đã thật sự đạp lên thật địa chưa: “con thọ giới với ai?”.

Thiện Đạo thưa: “không theo ông ta”.

Đúng vậy, tự tánh vốn đầy đủ, pháp thiền không cần đạt được từ người khác. Người khai ngộ rồi khế nhập đại đạo của nhân sinh vũ trụ, chân lý ở trong tay, đương nhiên vẻ hiên ngang như vua chúa, thực sự có khí khái đội trời đạp đất. Thiền sư Trường Tư Khoáng tiếp tục khảo nghiệm Thiện Đạo: “ở đó con đã được như vậy, lại còn đến chỗ ta làm gì?”.

Thiện Đạo chắp tay thi lễ, cung kính thưa: “con làm sao dám chống trái Ngài chứ!”

Đây chính là thiền giả đích thực, sức nuốt núi sông nh