Suy niệm về ngày đản sinh của đức Phật
- TK. Minh Nhật
- | Thứ Hai, 15:44 20-05-2013
- | Lượt xem: 5818
Phật giáo ngày nay có mặt khắp nơi trên thế giới. Người con Phật, hằng năm, tưởng nhớ và tổ chức nhiều ngày lễ hội, nhưng đặc biệt và gây ấn tượng nhất vẫn là ngày đản sanh của Đức Thế Tôn. Biết bao thơ văn, tiếng nhạc đã không tiếc lời vang lên vào ngày ấy để tán tụng, ca ngợi Ngài xuất hiện trên thế gian. Sự đản sinh đó là một sự kiện đặc biệt hy hữu trên đời như hoa Ưu-đàm hàng nghìn năm mới nở một lần. Phải xác nhận rằng sự có mặt của mỗi chúng sanh không phải ai cũng giống nhau. Đối với chúng sanh bình thường, sự có mặt của họ hợp với nghiệp tương đồng, phụ thuộc vào nghiệp duyên vì: “Chúng sanh là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp. Nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa, nghiệp phân chia các loài hữu tình; nghĩa là có liệt, có ưu”.[1] Nhưng đối với sự thị hiện của đức Thế Tôn trên cõi đời là “sự xuất hiện đem lại hạnh phúc cho đa số, an lạc cho đa số, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người. Một người ấy là ai? Chính là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác.”[2] Như vậy, sự có mặt của đấng giác ngộ, của bậc nhất thiết trí mang lại lợi ích gì và hạnh phúc gì?
1. Một bậc giác ngộ thành tựu mười ân đức
Đây là điều đặc biệt mà không phải ai cũng có, trải qua vô lượng kiếp phát triển mới tròn đầy các ba-la-mật và trong kiếp cuối cùng Ngài đắc đạo quả Vô Thượng Chánh Đẳng Giác mới thành tựu đủ 10 ân đức. Và chính những ân đức quý báu cao quý đó mà trong thời đức Phật nếu một chúng sanh nào chỉ cần hướng tâm hay niệm tưởng trong sạch đến đức Như Lai Thế Tôn thời chúng sanh ấy sẽ có được nhiều phước báu rất to lớn. Mười ân đức được Đức phật dạy trong Dhajaggasutta rằng: “Itipi so Bhagavā Araham Sammāsambuddho Vijjācaranasampanno Sugato Lokavidū Anuttaro Purisadammasārathi Satthā devamanussānam Buddho Bhagavāti.” Nghĩa là: thật vậy, bậc đáng cung kính, ấy là vị Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.[3]
Mười ân đức Phật có một ý nghĩa rất vi tế, sâu sắc và nhiều phước báu rộng lớn. Niệm ân đức Phật không chỉ là đối tượng hành thiền trong 40 đề mục thiền định giúp hành giả có khả năng đạt cận định mà còn là đối tượng thiền tuệ giúp hành giả đạt đến thành tựu quả vị, chứng đắc niết bàn. Điều này đã được chứng minh rất rõ trong Kinh Tăng Chi: “Có một pháp, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhứt hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Một pháp ấy là gì? Chính là niệm Phật.”[4] Do đó, ở truyền thống Phật Giáo Nguyên Thủy, niệm ân đức Phật được xem là khẩu tụng hằng ngày trong các thời kinh công phu sáng và tối.
Với pháp môn niệm Phật qua 10 ân đức này thôi, mà ngay thời Phật sanh tiền đã rất nhiều người đạt được nhiều tầng quả chứng hoặc có được nhiều phước báu ở cõi thiên. Con số đó được đức phật nói không phải một trăm, hai trăm… mà con số đó nhiều không thể đếm[5]. Đây là sự quý báu thông qua 10 ân đức Phật.
2. Tuyên ngôn bình đẳng cho nhân sinh
Thật không phải dễ đối với một xã hội mà ở đó hệ thống giai cấp đã trở thành làn mực đen hằn sâu trong tâm thức của người dân. Con người phải sống nghẹt thở trong những bất công giai cấp và họ phải chịu biết bao sự dày vò khổ sở. Tuy vậy, Bồ-tát Siddattha, trong giai đoạn đó, đã luôn sống với một con người đầy lòng yêu thương với tất cả chúng sinh, dù đó là loài vật. Khi giác ngộ Chánh Đẳng Giác, Ngài đã tiếp độ tất cả mọi chúng sanh không phân hạng loại bằng câu tuyên ngôn bất hủ: không có giai cấp khi máu cùng đỏ và nước mắt cùng mặn. Trong giáo pháp Thế Tôn không có sự hiện hữu của sự phân biệt giai cấp. Dầu sang, hèn, trí, ngu gì,[6] giáo lý của đức Phật luôn trên tinh thần lấy từ bi và trí tuệ để soi sáng cho tất cả. Hễ người thông minh thì hết lòng thương mà dìu dắt kẻ tối tăm[7],… Điều này chứng minh, Đức Thế Tôn đã làm nên cuộc cách mạng vĩ đại vô tiền khoáng hậu làm thay đổi lịch sử, xóa mờ chủ nghĩa giai cấp, thiết lập nên xã hội tình thương và đập tan guồng máy thống trị quyền lực, bạo tàn gây khó khổ cho con người. Do đó, sự xuất hiện của Ngài như đem đèn sáng vào trong bóng tối, dựng đứng dậy những gì bị quăng ngã xuống, soi đường cho người bị lạc hướng. Từ đó nhân sinh mới có thể cảm nhận được ý nghĩa, giá trị của sự sống và tìm được lối thoát đích thực cho cuộc đời. Đây lại là điều chưa từng có ở Ấn Độ trước đây.
Nếu Karl Marx nhìn vào tư tưởng của các tôn giáo mang tính chất thần linh trong giai đoạn đương thời của quốc gia ông mà cho rằng: “Tôn giáo như là tiếng thở dài của những kẻ bị đàn áp, là trái tim của một thế giới vô tâm, và là tâm hồn của những hoàn cảnh không hồn. Tôn giáo là thuốc phiện của quần chúng”[8] thì có lẽ đó là điều oan uổng cho những tôn giáo chân chính. Nếu ông ta tìm hiểu đến giáo lý đức Phật sớm hơn thì ông ta sẽ thoát thai được tư tưởng trên và sẽ có cái nhìn tích cực lạc quan hơn như các khoa học gia ngày nay. Với cái nhìn tuệ giác sáng suốt của đấng Từ Phụ, Ngài chỉ cho chúng ta thấy được bản chất của người và đã là con người thì bình đẳng với nhau về bản chất đều do Ngũ uẩn hợp thành:“Con người vốn từ duyên sinh, thế giới cũng từ duyên sinh”[9]. Và điều này cũng được minh chứng trong luận thư Đại Thừa Khởi Tín Luận của ngài Aśvaghosa: “Lại nữa, pháp của chư Phật có nhân có duyên. Nhân duyên đầy đủ thì pháp mới được thành. Như tánh lửa trong cây là nhân chánh của lửa, nếu người không biết chẳng mượn phương tiện mà cho là cây tự cháy thì không có chuyện này.”[10]
Hơn nữa, Đức Phật dạy rằng tất cả chúng sanh đều có tánh Phật, mỗi chúng sanh đều có khả năng tu tập để hướng lần đến giác ngộ giải thoát. Hãy tự mình làm hòn đảo cho chính mình, chính mình làm chủ vận mệnh của mình, không nương tựa vào một ai khác.
“Tự mình điều ác làm,
Tự mình làm nhiễm ô,
Tự mình ác không làm,
Tự mình làm thanh tịnh,
Thanh tịnh, không thanh tịnh,
Đều do tự chính mình,
Không ai thanh tịnh ai”.
(Kệ số 165)
Hay:
“Dầu tại bãi chiến trường,
Thắng ngàn ngàn quân địch,
Tự thắng mình tốt hơn,
Hơn chiến thắng người khác.”
(Kệ số 103) [11]
Bất kể là ai có duyên, dù đó là kẻ cùng đinh gánh phân, là dân kỹ nữ làng chơi như Liên Hoa Sắc hay kẻ giết người man rợ như Angulimala,… Đức Phật cũng đều khai thị cho giác ngộ cả. Những hành động mà đức Phật làm chứng minh cho chúng ta thấy đòi hỏi phải có một thái độ tâm bất động, vô ngã vị tha.
3. Tuyên dương giáo pháp bất tử
Tại vườn nai, đức Thế Tôn đã rống tiếng rống sư tử, tuyên bố: Này các Tỷ-kheo, đây là khổ, đây là khổ tập, đây là khổ diệt, đây là con đường đưa đến khổ diệt đã đưa năm đạo sĩ tu khổ hạnh đi vào Thánh quả. Và giáo pháp này đã thâu tóm toàn bộ giáo lý mà Ngài tuyên thuyết. Trong suốt 45 năm hoằng pháp, Ngài cũng đã khẳng định: Này các Tỷ-kheo, xưa cũng như nay, ta chỉ nói lên sự khổ và diệt khổ.[12] Đức Thế Tôn khuyến khích chư vị Tỷ-kheo hãy ban bố rộng rãi giáo pháp này: Này các Tỷ-kheo, hãy du hành, vì hạnh phúc cho quần chúng, vì an lạc cho quần chúng, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc, cho chư Thiên và loài Người.[13] Ngài đã chỉ rất rõ về mọi ngọn ngành đau khổ đều do “ái”. Chính “ái” đã câu hữu cùng hỷ và tham rồi đưa chúng sanh tái sinh chỗ này chỗ kia, luân hồi trong ba nẻo sáu đường. Sự thoát ly ra khỏi bến bờ khổ ải đó chính là con đường gồm tám bước thực tập: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. Tám đạo lộ này sẽ nâng gót, giúp cho nhân sinh bước tới sự an lạc, hạnh phúc thật sự. Ngày nào chúng sanh được an trú trong những chuẩn mực đạo đức, sự thanh tịnh yên lặng, sự thấu rõ chơn lý thời sẽ có khả năng sống hạnh phúc thật sự. Những giáo pháp này chỉ đến với người có trí chớ không phải đến với người mê.
Cho đến ngày hôm nay, những kim ngôn đó vẫn hiện rõ bản chất nhân sinh quan và thế giới quan, vượt cả không gian và thời gian, thiết thực hiện tại, giúp nhân loại có khả năng tìm đến một đời sống hạnh phúc thật sự. Cho nên, khi nghĩ đến đức Phật, ông Fausboll, một Triết gia Đan Mạch đã cảm xúc tán dương đức Phật rằng: “The more I know him, the more I love him”.
Do đó, trải qua rất nhiều khoảnh khắc, người con Phật chúng ta tưởng nhớ đến đức Phật. Vấn đề đặt ra là làm thế nào chúng ta đón nhận một sự hạnh phúc, sự an lạc từ trong nội tâm chớ không phải là một sự tưởng nhớ, một sự tổ chức theo những nghi lễ truyền thống hay những khuôn phép sáng tạo của nhân gian. Vì điều đó chỉ mang lại những hình thức hoan hỷ nhất thời chớ không tạo nên chất liệu hạnh phúc thực tại lâu dài, nên trong kinh Đại Bát Niết Bàn Đức Thế Tôn cũng đã khẳng định: Này Ananda, các cây sàlà song thọ tự nhiên trổ hoa trái mùa tràn đầy cành lá, những đóa hoa này rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường. Những thiên hoa Mandàrava từ trên hư không rơi xuống, rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường. Bột trời chiên đàn từ trên hư không rơi xuống, rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường. Nhạc trời trên hư không trổi dậy để cúng dường Như Lai. Thiên ca trên hư không vang lên để cúng dường Như Lai.
Nhưng, này Ananda, như vậy không phải kính trọng, tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường hay lễ kính Như Lai. Này Ananda, nếu có Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, cư sĩ nam hay cư sĩ nữ nào thành tựu Chánh pháp và Tùy pháp, sống chơn chánh trong Chánh pháp, hành trì đúng Chánh pháp, thời người ấy kính trọng, tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường Như Lai với sự cúng dường tối thượng. Do vậy, này Ananda, hãy thành tựu Chánh pháp và Tùy pháp, sống chơn chánh trong Chánh pháp và hành trì đúng Chánh pháp. Này Ananda, các Người phải học tập như vậy.[14]
Cũng thế, có nhiều và rất nhiều lễ hội khánh đản của đức Từ Phụ, tính giá trị thâm sâu sẽ mất đi nếu những khuôn lễ hình thức truyền thống cứ mãi phát triển. Con người sẽ dần hòa vui trong những nốt nhạc rộn ràng, hòa với cung điệu sặc sỡ hoa màu mà quên đi chất liệu quý giá và ý nghĩa thiết thực của lời Phật dạy giống như cái trống Anaka[15] sẽ dần biến dạng và mất đi tiếng thanh thoát hùng tráng của nó.
[1] ĐTKVN, HT. Minh Châu, (dịch), Kinh Trung Bộ III, Kinh Tiểu Nghiệp Phân Biệt, VNCPHVN, TP HCM, 1992, tr.474.
[2] ĐTKVN, HT. Minh Châu (dịch), Kinh Tăng Chi I, Chương Một Pháp-Phẩm Một Người, VNCPHVN, TP HCM, 1996, tr.46.
[3] ĐTKVN, HT. Minh Châu (dịch), Kinh Tương Ưng I, Thiên Có Kệ, Chương Thứ 11 Tương Ưng Sakka, phẩm thứ nhứt – Dhajaggam: Đầu Lá Cờ, VNCPHVN, TP.HCM, 1993, tr. 485; Itipi so: Thật vậy, vị ấy là ... Bhagavā: đức Thế Tôn. Araham: bậc A-la-hán, bậc Ứng Cúng, người không còn ô nhiễm. Sammāsambuddho: đấng Chánh Biến Tri, Chánh Đẳng Giác, Bậc Tự Giác Ngộ hoàn toàn, không ai chỉ dạy. Vijjācaranasampanno: Minh Hạnh Túc, người có trí tuệ và đức hạnh thành tựu một cách trọn vẹn. Sugato: bậc Thiện Thệ, vị đã ra đi một cách trọn vẹn, đã Niết-bàn. Lokavidū: Thế Gian Giải: người hiểu biết rõ ràng về thế gian. Anuttaro: Vô Thượng Sĩ, không gì hơn được. Purisadammasārathi: Ðiều Ngự Trượng Phu, người có khả năng điều khiển, huấn luyện kẻ khác. Satthā devamanussānam: Thiên Nhân Sư, vị thầy của chư thiên và loài người. Buddho: đức Phật, bậc đã giác ngộ. Bhagavā: Đức Thế Tôn.
[4] Sđd., Kinh Tăng Chi I, Chương Một Pháp - Phẩm Một Pháp - Niệm Phật, tr.64.
[5] Trưởng lão Pháp Minh (dịch), Chú giải Kinh Pháp Cú, Nxb Tôn Giáo, Hà Nội, 2012, tr.62.
[6] Tổ Sư Minh Đăng Quang, Luật Nghi Khất Sĩ - Kệ Giới, Nxb Tôn Giáo, Hà Nội, 2004, tr.105.
[7] Sđd.
[8] Sir Julian Huxley (chủ biên), Tư Tưởng Loài Người Qua Các Thời Đại, Đinh Công Thành - Võ Thái Hòa (dịch), Hà Nội: Nxb Văn Hóa Thông Tin, 2004, tr. 164. Xem Lưu Văn Huy – Nguyễn Hữu Sơn (dịch), Truy Tầm Triết Học, Hà Nội: Nxb Văn Hóa Thông Tin, 2001, tr.210.
[9] Thích Tâm Thiện, Tìm Hiểu Nhân Sinh Quan Phật Giáo, Nxb. TP. HCM, 1998, tr. 324.
[10] Chân Hiền Tâm (dịch và chú giải), Đại Thừa Khởi Tín Luận, HCM: Nxb Tổng Hợp TP. Hồ Chí Minh, 2004, tr.159.
[11] HT. Minh Châu (dịch), Kinh Pháp Cú, Nxb Tôn Giáo, Hà Nội, 2000, tr.48.
[12] ĐTKVN, HT. Minh Châu (dịch), Kinh Trung Bộ I, Kinh Ví Dụ Con Rắn, Nxb Tôn Giáo Hà Nội, 2003, tr.295.
[13] ĐTKVN, HT. Minh Châu (dịch), Kinh Trường Bộ I, Đại Bát Niết Bàn Kinh, VNCPHVN, TP HCM, 1991, tr.586.
[15] ĐTKVN, HT. Minh Châu (dịch), Kinh Tương Ưng II, Tương Ưng Thí Dụ, Cái Chốt Trống, VNCPHVN, 1993, tr.466.
Các bài viết liên quan
- Phật về trên đỉnh Chơn Như - Chủ Nhật, 21:31 19-05-2019 - xem: 13034 lần
- Phật-đà - Thứ Ba, 10:58 22-05-2018 - xem: 15287 lần
- Hạ về sen lại nở - Thứ Ba, 02:01 01-08-2017 - xem: 11519 lần
- Trăng rằm tháng Tư - Thứ Hai, 10:03 08-05-2017 - xem: 6041 lần
- Đò qua sông nghiệp - Thứ Hai, 09:59 08-05-2017 - xem: 6040 lần
- Phật đản điển tích - Thứ Bảy, 14:28 06-05-2017 - xem: 5992 lần
- Đài sen bảy bước xuống đời - Thứ Sáu, 14:29 05-05-2017 - xem: 6844 lần
- Mừng Phật đản 2017 - Chủ Nhật, 14:22 07-05-2017 - xem: 8118 lần
- Kính mừng Phật đản PL.2561 - Thứ Năm, 13:28 04-05-2017 - xem: 4750 lần
- Ai người thượng nhân ? - Thứ Năm, 05:26 04-05-2017 - xem: 8520 lần
- Kính mừng Phật đản PL.2561 - Thứ Năm, 14:50 04-05-2017 - xem: 11816 lần
- Nghĩ về Phật - Thứ Bảy, 23:29 21-05-2016 - xem: 7961 lần



