CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Phật giáo và Giáo dục

Phật giáo là một tôn giáo chú trọng việc tu học, cho nên nói một cách đúng hơn Phật giáo là một nền giáo dục. Đức Phật đã dạy những gì? Chúng ta cần phải học những gì? Quan trọng nhất là Tam học gồm có Giới học, Định học và Tuệ học. Tam học của Phật giáo và Tam dục thông thường gồm Đức dục, Trí dục và Thể dục có nghĩa tương thông. Cho nên đang trong quá trình học Phật gọi là Học nhân (học làm người); sau khi hoàn thành việc tu học cũng chính là đã tốt nghiệp xong, thì gọi là Vô học. Đặc biệt, Đức Phật được xưng là Thiên Nhân Sư, Đạo Sư; người tin và học theo Phật thì gọi là đệ tử Phật. Trong chúng đệ tử có đệ tử Thanh Văn tiểu học và đệ tử Bồ Tát đại học. Dựa theo chúng đệ tử xuất gia và nam nữ tại gia thì có tất cả là bảy chúng đệ tử. Mối quan hệ giữa Đức Phật và tín chúng là mối quan hệ giữa Thầy và trò.

Có thể nói tất cả những tri thức, đức tính lương thiện, kỹ năng,… đều được tổng nhiếp trong phạm vi giáo dục của Đức Phật. Giáo dục của Đức Phật không ngoài nội dung dẫn dắt mọi người tu học, cùng bước đến quả vị Chánh giác, thành Phật. Cho nên giáo dục của Phật giáo là giác ngộ, là giáo dục hoàn thiện con người viên mãn nhất.

Học Phật là hướng về học tập theo Phật. Đức Phật là tấm gương mẫu mực nhất cho chúng ta, Ngài được tôn xưng là bậc “Đại hùng, đại lực, đại từ bi”, “Trí đức, ân đức, đoạn đức” v.v… mà Thái Hư Đại sư đã tổng nhiếp thành “Đại bi, đại trí, đại hùng lực”.

1. Đại trí tuệ: Trí tuệ của Đức Phật viên mãn thông đạt “Như sở hữu tánh” (nghĩa là thông đạt tánh không bình đẳng của pháp môn không hai), “Tận sở hữu tánh” (là thông đạt sự tướng duyên khởi một cách không hạn lượng), là đại trí triệt để cùng tận cả lý và sự. Trong đại trí của Đức Phật hàm chứa ý nghĩa chân thật của sự giác ngộ nhân sanh và giác ngộ lý sự của võ trụ. Không rời nhân sanh giác ngộ và chứng đắc mà cùng tận tất cả, cho nên không tương đồng với tri thức thông thường.

2. Đại từ bi: Tâm từ bi của Đức Phật là bình đẳng yêu thương và bảo hộ tất cả, cho chúng ta lợi ích là lìa khổ được vui, xả bỏ vọng tưởng chứng đắc chơn như, chuyển nhiễm ô thành thanh tịnh. Khi chúng sanh đang ngu muội điên đảo, không thể tiếp nhận được sự hóa độ, Đức Phật cũng không từ bỏ một ai. Chỉ cần có một nhân duyên có thể độ, người ấy sẽ được Đức Phật giáo hóa. Tâm từ bi tế độ của Đức Phật là bình đẳng, xem tất cả chúng sanh như con một, mãi mãi độ tận chúng sanh đời vị lai đều được lợi lạc.

3. Đại hùng lực: Đại hùng là lý tưởng tối cao chung của tôn giáo Ấn Độ, mà chỉ có Đức Phật mới có thể thể hiện một cách viên mãn. Bởi vì đại trí, đại bi của Đức Phật sâu rộng cùng cực mới có thể hiển hiện lực Đại hùng, như nói Đức Phật có thập lực, tứ vô sở úy v.v… Nhờ tứ vô sở úy (bốn loại tự tin tuyệt đối), cho nên Đức Phật được xưng là “Nhân trung sư tử”, hình dung lời thuyết pháp của Đức Phật như là “Sư tử hống”. Lại như ba nghiệp thân, khẩu, ý của Đức Phật bất luận ở đâu dù ở một mình hay trong đại chúng, đều không phạm phải sai lầm, cho nên cũng không cần “tàng hộ” (lo nghĩ có thể phạm sai lầm mà chú ý đến tự thân, uốn nắn tự thân), gọi là “Tam bất hộ”. Loại tự tin tuyệt đối cùng tận sự thiện mỹ này, bất cứ điều gì cũng không thể làm lay động. Từ lòng từ bi tế độ của Đức Phật mà nói, Đức Phật có thập lực có thể phá trừ tất cả tà ma chướng ngại, hoàn thành đại nghiệp tế độ lợi lạc cho chúng sanh. Bi nguyện vô lượng của Đức Phật biểu hiện sự tinh tấn vô hạn, tất cả đều là đại hùng. Tóm lại, công đức của Đức Phật là vô lượng không thể nói hết được. Nếu so sánh với pháp thế gian, đại trí tuệ là tri thức chân thật nhất, đại từ bi là đạo đức viên mãn chân chánh nhất, đại hùng lực là năng lực vĩ đại nhất. Cũng có thể nói rằng đây là tri thức, cảm tình và ý chí viên mãn rốt ráo, viên thông không chướng ngại.

Học Phật chính là hướng đến oai đức viên mãn của Đức Phật như thế để tu học. Học tập ba đức của Đức Phật, chính là ba câu kim cương tín nguyện, từ bi và trí tuệ của học thuật tinh yếu Đại thừa. Nhưng ba tư tưởng này thực chất lại y cứ vào ba loại đặc thắng là: “Ức niệm thắng, phạm hạnh thắng và kiên nhẫn thắng” của nhân tính vốn đã có sẵn, nhưng cần làm cho chúng tịnh hóa và tiến hóa. Đây lại có thể lược nói vắn tắt:

1. Ức niệm thắng tức là người từ kinh nghiệm ghi nhớ gìn giữ mà có thể tiến triển đến tri thức cao thượng phong phú, tránh xa tư tưởng tà kiến sai lầm cố hữu.

2. Phạm hạnh thắng tức là có thể khắc chế lòng ham muốn riêng của cá nhân, thanh tịnh tâm cho tự thân và lợi ích với người khác bằng cách thực hành tâm từ bi một cách vô tư.

3. Kiên nhẫn thắng tức kiên quyết mạnh mẽ, không những nhẫn chịu gian khổ muôn phần kiên định không trở lui, mà còn có tinh thần quảng đại “Vì ngàn đời mà khai mở con đường thái bình”.

Việc học Phật chẳng qua là nương vào ba đặc thắng của nhân tính, ba pháp môn chính yếu để tu học Phật pháp, hoàn thành ba đức của Đức Phật. Đây là hình thức giáo dục tự giác, giác tha đòi hỏi người học phải tự mình từng bước thực hành tịnh hóa thân tâm để đạt đến sự giác ngộ nhân tính, làm cho tự thân từ trong vọng tưởng mê muội theo nước chảy bèo trôi mà được thức tỉnh trở lại. Có thế người học mới biết nguồn gốc của sự hồ đồ, lòng bi nguyện tỏ rõ vô tận, dũng mãnh tinh tấn tiến triển đến mức cứu cánh vô thượng.

Giáo dục Phật giáo đi từ thực tiễn và gắn liền với thực tiễn. Quá trình tu học Phật pháp là lấy tri (cái biết) để hành (thực hành) và lấy hành để tri. Nương theo cái biết mà thực hành, ví như con mắt thấy rõ mới có thể bước lên phía trước; rồi lại nương theo sự thực hành để biết, giống như bước lên phía trước mới có thể phát hiện và nhìn rõ được sự vật và hiện tượng phía trước. Tri mới có thể hành, hành mới có thể tri. Càng tri càng hành, càng hành thì càng tri. Cứ thế, dần sẽ đạt đến chánh tri triệt để và tu hành như thật. Đức Phật được xưng là “Minh hạnh túc”, tức là đã đạt đến rốt ráo viên mãn của tri và hành. Giáo dục của Phật giáo lấy thực tiễn làm gốc, nhưng thực tiễn lại nhất định phải lấy tri làm căn bản tiên yếu. Đệ tử Phật cần phải đứng vững trên lập trường này để cầu đạt được trí tuệ của thế xuất thế gian.

Quá trình giáo dục Phật học là quá trình truyền thụ tri thức không rời ngôn ngữ văn tự. Ngũ minh chính là năm loại học thuật mà đệ tử Đại thừa cần phải tu học. Ngũ minh bao gồm:

1. Thanh minh: Là học ngôn ngữ văn tự, bao gồm ngôn ngữ, huấn hỗ (dạy bảo và giải thích được các từ ngữ), văn pháp (phương pháp hành văn), âm vận (âm thanh vận mẫu, thông âm nhạc) v.v…

2. Nhân minh: Nhân là nguyên nhân, lý do, đây là nương theo cái đã biết mà cầu cái chưa biết, là học vấn phán xét sự việc và làm rõ nghĩa lý. Trên phương diện ngôn ngữ gọi là thuật biện luận; trên phương diện tư tưởng gọi là lý tắc học hoặc Logíc học (luận lý học).

3. Y phương minh: Đây là các học vấn về y học, y dược, sinh lý, ưu sinh học v.v…

4. Công xảo minh: Đây là dựa vào số học, tất cả vật lý khoa học và kỹ xảo công việc thực dụng.

5. Nội minh: Là tổng cộng bốn pháp thế gian nói trên. Giáo dục của Đức Phật là ở bốn minh nói trên của thế gian học này, tiến tu học Phật không cùng nhau cho nên gọi là nội minh.

Đây là pháp Tỳ-nại-da của Đức Phật đã tuyên thuyết, cũng có thể nói là thuần túy Phật học. Thanh minh và nhân minh là học vấn nhất định phải đầy đủ của tự giác, giác tha. Thanh minh là ngữ văn học và nhân minh là phương pháp tư duy biện luận, sẽ giúp người học tránh khỏi tư tưởng hỗn loạn, thị phi không phân biệt rõ ràng. Không những thiếu năng lực dạy người mà ngay cả tự cho mình là đúng cũng chưa hẳn là chính xác. Ở Tây Tạng, bước đầu học Phật pháp đều bắt đầu từ thanh minh, nhân minh, bởi vì đây là công cụ tất yếu, đầy đủ để lý giải Thánh giáo. Tôi cảm thấy sự sa sút của Phật giáo Trung Quốc, ít nhất là có liên quan đến việc coi nhẹ thanh minh và nhân minh. Y phương minh là có thể trừ được đau khổ của thân tâm mà được an lạc. Công xảo minh là phát huy đầy đủ tác dụng của vật chất để làm tăng tiến vật chất và hạnh phúc cho nhân loại. Tinh thần cứu tế thế gian của Phật giáo, ở đây còn hạn chế về truyền miệng! Y phương minh và công xảo minh đích thực là học vấn thực tế của Bồ Tát lợi ích chúng sanh. Trong số đông các đại thiện tri thức mà Thiện Tài đồng tử tham vấn học hỏi có các nhà số học, kiến trúc sư, bác sĩ, nhà pha chế hương liệu (). Như Đại luận sư Long Thọ Bồ Tát chính là nhà luyện kim và nhà chế hương (hóa học) ưu việt. Dưới sự chỉ đạo xây chùa và hang động của Ngài, thật là kỹ năng nghệ thuật tinh xảo cao siêu mà năng lực người thường không thể đạt đến (), được xưng là bậc kiến trúc sư đệ nhất của Phật giáo Ấn độ. Ở đây có thể thấy giáo dục Phật giáo không chỉ là nhân quả, có và không, tâm tánh, mà là ngũ minh. Thật giống với một dạng của Khổng tử, không chỉ là ba hoa khoác lác tính lý mà là lấy sáu nghệ thuật để dạy người. Nhưng đệ tử Phật từ trước đến nay ít nhiều cũng nhận được sự tiêm nhiễm của tư tưởng Tiểu thừa, cuối cùng cho rằng bốn minh trước thuộc về pháp thế gian, còn nội minh mới là Phật pháp xuất thế. Không biết trong Phật học Đại thừa, là thế gian nhưng xuất thế gian, thế và xuất thế vô ngại, thanh minh, nhân minh v.v… là tổng cộng xuất thế học của thế gian, chân tục dung thông, là một khoa của giáo dục Phật giáo.

Thuyết pháp, khai thị và trước tác của Phật giáo, hoặc là văn nghệ, âm nhạc của Phật giáo; tìm tòi cất giữ, lưu thông, phiên dịch kinh điển, đây đều là hoạt động của văn hóa giáo dục. Nhưng làm hoạt động giáo dục của Phật giáo không chỉ giới hạn ở đây.

Trong kinh Đức Phật không ngừng tán thán bố thí pháp (pháp thí). Pháp là tất cả thiện pháp thế xuất thế gian một cách hợp lý tính. Đệ tử Phật tu học pháp này, lại vừa cùng với người làm thiện mà tuyên dương pháp này, chính là pháp thí. Pháp thí có thể phân làm hai loại: Một là pháp thí xuất thế gian, như sự hoằng dương truyền thụ của Ngũ minh; hai là pháp thí thế gian, như sự giảng dạy truyền thụ của thanh minh, nhân minh v.v… Pháp thí thế gian chính là một loại giáo dục thông thường của thế gian. Trước kia, trưởng giả Duy Ma Cật vào các trường tư thục khuyên dạy trẻ nhỏ, đúng là một ví dụ có thực của học giả Đại thừa từ một việc giáo dục thông thường. Đây không nên xem là thuần chất của giáo dục thế gian, trong tinh thần chân tục vô ngại của Đại thừa, đây là tổng cộng thế gian học của Đại thừa, là một phần của pháp Đại thừa, là nền tảng căn bản dẫn dắt vào Đại thừa.

Bố thí thì có công đức. Nỗ lực ở sự giáo hóa của pháp thế xuất thế gian, bất luận là cá nhân hoặc là giáo đoàn, đều có công đức. Nhưng bố thí chân chánh như pháp là bản thân cùng với người đều được an lạc, vì người mà bằng lòng nhổ tận gốc rễ khổ đau, đây là ban cho một cách vô điều kiện chứ không phải là vì quả báo hoặc là vì công đức lợi ích hiện tại. Cho nên từ việc giáo dục của pháp thế xuất thế gian, không những không cần vì ham muốn lợi dưỡng danh tiếng của bản thân, cũng không cần vì ham muốn khuếch trương giáo đoàn. Vì chánh pháp, vì lợi ích nhân loại mà phát tâm dũng tiến thực hành. Đây mới là giáo dục của Phật giáo, là tinh thần của người làm công tác giáo dục Phật giáo.

Trích từ Phật Tại Nhân Gian

Nguồn: yinshun.org

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết:

Các bài viết liên quan