CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !

Những đặc trưng của tinh thần giáo dục Phật giáo - phần 1

Như chúng ta đã biết, giáo dục góp phần hình thành nền văn hóa và văn minh của loài người. Phật giáo, hơn hai mươi lăm thế kỷ qua đã đóng góp nhiều vào văn hóa nhân loại. Đức Phật một mặt giảng dạy sự thật vô ngã của mọi hiện hữu và yêu cầu chúng ta xem mọi hiện hữu không phải là “ta”, không phải là “của ta”, không phải là “tự ngã của ta” để chúng ta có thể xả bỏ lòng khát ái và chấp thủ - nguyên nhân của mọi khổ đau. Ngài còn dạy chúng ta phải tự mình phát triển các khả năng của mình để có hạnh phúc và được giải thoát. Những phẩm chất cá nhân cần rèn luyện và phát huy gồm tinh thần tự tín, tinh thần tự tri, tinh thần tự chấp nhận mình, tinh thần thực tế, thực tại, tinh thần trung đạo, tinh thần phân tích, tinh thần phê phán.

1. Tinh thần tự tín

Muốn tiếp cận được chân lý, điều trước tiên là chúng ta phải có niềm tin vững chắc đối với Tam bảo. Tin Phật là bậc hoàn toàn giải thoát giác ngộ; Tin Pháp là tin những phương pháp mà đức Phật đã chứng ngộ rồi nói ra; và tin Tăng là tin vào những vị xuất gia thực hành theo con đường mà đức Phật đã đi, là tin vào ánh sáng trí tuệ, thể tánh sáng suốt của mình vốn có; tin vào thể tánh thanh tịnh hòa hợp. Lời của đức Phật dạy "Ngươi phải làm công việc của ngươi, vì Như Lai chỉ dạy con đường", "Ngươi là nơi nương tựa của chính ngươi, không ai khác có thể là nơi nương tựa" đã đánh thức, khơi dậy niềm tin về khả năng phán xét phải trái, thiện ác nơi mỗi con người. Nếu không có tinh thần trách nhiệm cá nhân thì nhân quả của Phật giáo không có gì để bàn, Phật giáo không có lý do để có mặt ở đời, luật pháp xã hội sẽ không có chỗ thi hành. Ở đây, tinh thần tự tín cần còn phải được soi rọi bởi Chánh kiến, Chánh tín và sự xác lập của Chánh tinh tấn.

Đức Phật hay nhắc đến các tu sĩ đã chứng đắc A-la-hán trước đoàn thể Tăng-già để khuyến tấn đệ tử, và Ngài đã dạy:

“Ai tâm không an trú

Không biết chân diệu pháp

Tịnh tín bị rúng động

Trí tuệ không viên thành.”[1]

(Kinh Pháp Cú, 38)

Khi các người Kàlàma chao đảo giữa nhiều quan điểm khác nhau của các ngoại đạo sư, họ đến xin đức Phật chỉ dạy, đức Phật hướng dẫn gợi ý cho các Kàlàmas quay trở về kinh nghiệm thực của bản thân và tin tưởng vào bản thân như sau:

“Này các Kàlàma, đừng để bị dẫn dắt sai lạc bởi báo cáo hay truyền thống, hay nghe người ta nói, đừng để bị dẫn dắt sai lạc bởi sự truyền tụng trong kinh tạng, cũng đừng để bị dẫn dắt sai lạc bởi thấy hợp lý, cũng đừng để bị dẫn dắt ai lạc sau khi tư duy và chấp nhận lý thuyết, cũng đừng bị dẫn dắt sai lạc do vì hợp với định kiến, cũng đừng để bị dẫn dắt sai lạc do vì kính trọng vị Sa môn. Nhưng, này các Kàlàma, khi các người tự mình biết rằng; các pháp này là bất thiện, các pháp này là có tội, các pháp này bị các người trí chỉ trích, các pháp này nếu được thực thi, thực hiện thì sẽ dẫn đến thiệt hại và khổ đau, này các Kàlàma, quả thực các ngươi bấy giờ hãy từ bỏ chúng.”[2]

2. Tinh thần tự tri

Tự tri là tinh thần tự biết chính mình. Tinh thần tự tri bắt đầu từ sự quan sát, phân tích về tự thân mình đang hiện hữu ở đâu và đang làm gì. Trong nhà Thiền gọi là “phản quan tự kỷ” - quay trở lại mình, xem lại chính mình. Sau khi nhìn lại chính mình bạn sẽ thấy tất cả (Tuệ Trung Thượng Sĩ). Sự giác tỉnh của hành giả được củng cố. Đây là sự có mặt của sự tự tri.

Theo ngôn ngữ Phật học, tự tri là sự giác tỉnh, nó được xác lập bởi Chánh kiến và Chánh tư duy. Kinh Pháp Cú, đức Phật dạy rất rõ:

“Bậc trí bảo vệ thân,

Bảo vệ luôn lời nói,

Bảo vệ cả tâm tư,

Ba nghiệp khéo bảo vệ.”[3]

(Pháp Cú, 234)

Trên cơ sở giác tỉnh, hành giả phát triển “sự tự chế”, sự tự điều phục hành uẩn (các hành động thuộc thân, lời và ý) và phát triển công phu xóa sạch các bất thiện tâm. Hành giả sẽ thấy rõ vô thường, vô ngã và khổ đau của năm thủ uẩn, không còn ham muốn các hiện hữu vô thường và phiền não. Khi “giác tỉnh” của hành giả ở cấp độ cao.

Là đệ tử của Phật, mỗi hành giả cần phải tỉnh giác trong từng giây phút, trong mọi hành vi cử chỉ của mình. Phải cho sự tỉnh thức cháy sáng, soi rọi những dòng tâm thức của mình như Đức Phật thường nhắc nhở:

“Đệ tử Gotama,

Luôn luôn tự tỉnh giác,

Vô luận ngày hay đêm,

Ý vui niềm bất hại.”[4]

(Pháp Cú, 300)

“Đệ tử Gotama,

Luôn luôn tự tỉnh giác,

Vô luận ngày hay đêm,

Ý vui tu thiền quán.”[5]

(Pháp Cú, 301)

3. Tinh thần tự chấp nhận mình

Tự chấp nhận mình là sự ý thức về chính mình, ý thức thân mình là do năm uẩn hợp thành, chúng phụ thuộc vào nghiệp lực của mình tạo nên, do đó có người đẹp người xấu, người cao người thấp, người thông minh, người ngu đần… phải chấp nhận nghiệp lực của mình và tìm cách hóa giải chúng. Không nên có những hành vi bất mãn với chính mình, mà trái lại cần phải biết chấp nhận những gì mình đang là và đang có.

Đức Phật dạy:

Này các Tỷ kheo, tám nhân duyên trần thế này ám ảnh cuộc sống; cuộc sống xoay chuyển theo tám nhân duyên trần thế. Thế nào là tám nhân duyên ấy? - Ðược và mất, danh vọng và không danh vọng, chỉ trích và khen ngợi, hạnh phúc và khổ đau. Này các Tỷ kheo, tám nhân duyên trần thế này ám ảnh cuộc sống”[6].

Tám nhân duyên trần thế ấy vốn dĩ là vô thường, giả tạm, nó không có thực thể. Thế nên, để tâm được an tịnh, con người phải biết chấp nhận những gì mình đang là và đang có. Phải biết rằng: “con người là chủ nhân ông của nghiệp, là kẻ thừa tự nghiệp, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là thai tạng.”[7]

Tất cả mọi chuyện hạnh phúc hay bất hạnh xảy ra trong đời mình đều là do nghiệp, tức là do những hành động nơi ý, nơi lời nói và nơi thân của mình tạo ra từ trước, chứ không có một Thượng đế hay quỷ thần nào an bài cả. Muốn có đời sống an vui hạnh phúc thì chỉ có cách tốt nhất là nên tạo nghiệp thiện, nghiệp lành; trừ bỏ mọi nghiệp ác, nghiệp bất thiện. Chỉ có bản thân mình với ý nghĩ trong sạch, lời nói trong sạch và hành động trong sạch mới có thể làm trong sạch bản thân mình.

4. Tinh thần thực tế

Phật giáo chú trọng hiện tại, sống với hiện tại, bây giờ và tại đây. Tinh thần ấy, đức Thế Tôn thường hay khuyên nhắc trong kinh điển (Phẩm Cây Lau) rằng:

"Không than việc đã qua,
Không mong việc sắp tới,
Sống ngay với hiện tại,
Do vậy, sắc thù diệu.

Do mong việc sắp tới,
Do than việc đã qua,
Nên kẻ ngu héo mòn,
Như lau xanh lìa cành".
[8]

Kinh A-nan Nhất Dạ Hiền lại ghi:

"Quá khứ không truy tìm,
Tương lai không ước vọng,
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ có pháp hiện tại,
Tuệ quán chính là đây...".[9]

Kiếp sống của con người như dòng sông tuôn chảy không ngừng, tức là phải “vận hành” và “chuyển hóa”. Cho nên, giá trị hạnh phúc chỉ được thiết lập ngay trong hiện tại. Hay nói khác hơn, chỉ có hiện tại mới định hình cho sự sống và sự sống thực sự có ý nghĩa khi biết sống cho hiện tại. Do đó, tất cả hình ảnh u buồn, những âm thanh sắc tướng, đường nét biểu lộ tâm lý chán chường cần phải xua tan và đoạn tận. Than thở tiếc nuối quá khứ, hay mơ ước tương lai chẳng những để mình rơi vào chỗ phi thực, mà còn để mình vướng mắc vào rối loạn tâm lý, khổ đau và đánh mất hiện tại đang là, cái hiện tại sống động, mới mẻ, đầy sáng tạo, đầy nghĩa sống.

Nếu không biết chấp nhận hiện tại như nó đang là, để vận dụng hiệu quả khả năng và trí tuệ của mình đi đến an lạc, hạnh phúc và giải thoát, thì như Thế Tôn đã dạy: Dung sắc của mình sẽ khô héo nhanh chóng như lau xanh lìa cành. Hạnh phúc và đời mình cũng khô héo như thế.

Sống đúng với hiện tại là tốt đẹp ở quá khứ, huy hoàng ở tương lai. Chỉ có an trú và nỗ lực ở trong hiện tại thì tương lai chắc chắn sẽ tốt đẹp, bởi vì hiện tại-quá khứ-tương lai như là một dòng chảy. Việc truy tìm quá khứ và mong ước tương lai là việc sống bóng với hình của thực tại, chứ không phải sống với thực tại; đây là nếp sống không thiết thực hiện tại. Sống với giây phút rất hiện sinh là sống với đời sống chân thật vốn có, có thể giúp cho ta thấy sự vật như thật: đây là nếp sống thiết thực hiện tại, cũng là ý nghĩa của tinh thần giáo dục rất thực tế của đức Phật. Thực tại cuộc sống thực chất là “sống với” chứ không phải “nói về”. Cũng như câu chuyện người bị trúng mũi tên độc, vấn đề cấp thiết nhất và có ý nghĩa nhất trong giờ phút hiện tại là phải giải phẫu mũi tên độc, không cho chất độc thấm vào cơ thể. Chứ không phải ngồi đó truy tìm tận nguồn gốc mũi tên độc từ đâu đến, người bắn mũi tên là ai… trước khi ngăn chặn chất độc xâm chiếm lan tràn khắp cơ thể. Cũng vậy, mục đích tối hậu của con người là giải thoát tất cả các vấn đề khổ đau đang vây bủa, áp lực con người từ muôn phía; xây dựng hạnh phúc thiết thực ngay trong hiện tại, chứ không phải tìm kiếm ở một thế giới bên ngoài con người đang hiện hữu.

Như thế, hiện tại và tại đây như là hòn đảo an toàn mà đức Thế Tôn đã chỉ cho con người nương tựa để khỏi bị rơi chìm vào trong đại dương phiền muộn của vọng tưởng, và để từ đó có thể đi vào nghĩa sống, hạnh phúc mà nghìn năm con người đi tìm kiếm.

(Còn tiếp)


[1] Kinh Pháp Cú, HT. Thích Minh Châu (dịch), Trường Cao cấp Phật học Việt Nam cơ sở II ấn hành, 1990, tr.30.

[2] Tăng Chi I, Thích Minh Châu (dịch), Nxb Tôn Giáo, 1980, tr.216-217

[3] Kinh Pháp Cú, Thích Minh Châu (dịch), Trường Cao cấp Phật học Việt Nam cơ sở II ấn hành, 1990, tr.131

[4] Sđd, tr.166.

[5] Sđd, tr.166.

[6] Gradual Sayings, Vol. IV, PTS, London, 1989, p. 107.

[7] Trung Bộ III, Kinh Tiểu nghiệp phân biệt, Thích Minh Châu (dịch), Nxb Tôn Giáo, 1990.

[8] Tương Ưng I; Hán tạng tập 36, 3 Đại 3, 260c; Biệt tập 8: 1, Đại 2.

[9] Trung Bộ III, Kinh Nhất Dạ Hiền Giả, Thích Minh Châu (dịch), Trường Cao Cấp Phật Học Việt Nam ấn hành, 1986, tr. 336-337.

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết:

Các bài viết liên quan