CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !

Những đặc trưng của tinh thần giáo dục Phật giáo - phần 2

5. Tinh thần trung đạo

Trung đạo là con đường mà đức Phật đã chứng ngộ trước khi mới thành đạo, là con đường đem lại minh, đem lại trí, đưa đến an tịnh Thánh trí, Niết-bàn và được mệnh danh là Bát Chánh Đạo.

Ý nghĩa trung đạo của hành động là lánh xa hai cực đoan: hưởng thụ dục lạc và khổ hạnh ép xác, lười biếng và nổ lực quá mức. Điều này, đức Phật ví như người gảy đàn, nếu dây đàn dùn quá thì đàn không lên tiếng, nếu dây căng quá thì không uyển chuyển và sẽ bị đứt dây, còn dây vừa chừng thì đàn lên tiếng rất hay. Cũng vậy, người học đạo nếu hành khổ quá sức thì xác thân mệt nhọc, mà khi xác thân mệt nhọc thì tinh thần sẽ bị bấn loạn, không ổn định, lúc ấy dễ đi vào con đường lầm lạc và nhiễm nhiều thói xấu. Do đó, chỉ có thực hành đúng nghĩa trung đạo mới có thể đi đúng hướng đến con đường an vui hạnh phúc, giải thoát ngay tại đây và bây giờ.

Sau khi thành đạo dưới cội Bồ-đề, bài pháp đầu tiên được đức Phật giảng là bài Tứ thánh đế. Ở đây, Ngài dạy:

Này các Tỷ Kheo, có hai thái cực mà một tu sĩ không nên theo.

Thế nào là hai thái cực ấy?

Hưởng thụ các dục lạc, lối sống thấp hèn, không xứng đáng, không liên hệ mục đích phạm hạnh, là một; hai là tự hành khổ mình, nó là khổ đau, không xứng đáng, không liên hệ mục đích phạm hạnh.

Do tránh xa hai thái cực ấy. Như Lai đã đắc được trí hiểu biết Trung đạo, con đường đem lại minh, đem lại trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ Niết bàn.

Này các Tỷ Kheo, thế nào là con đường Trung đạo đem lại mình, đem lại trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết Bàn? - Chính là Bát Thánh đạo, đó là: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định. Này các Tỷ Kheo, đây là con đường Trung đạo ấy đem lại minh, đem lại trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết Bàn.”[1]

6. Tinh thần phân tích

Phương pháp phân tích là phương pháp được xây dựng trên cơ sở thuần lý của các lý thuyết hữu ngã. Giáo dục Phật giáo đề cao sự phân tích và tìm hiểu các đối tượng. Như nói về Tứ Thánh Đế, đức Phật đã khởi hành từ thực tại đời là khổ, sau đó được phân tích ra thành bốn phương diện – tứ khổ, hay bát khổ; kế đến phân tích thêm nguyên nhân của sự khổ và con đường thoát khỏi khổ. Nói về Năm uẩn cũng vậy, được phân tích một cách rất rõ ràng rằng: năm uẩn là khổ đau, và nguyên nhân của khổ đau không phải do năm uẩn mà là do tham ái hay sự sanh khởi của duyên khởi, sự chấm dứt khổ đau là Niết-bàn và con đường đưa đến chấm dứt khổ đau là Bát Chánh Đạo.

Trong tất cả các vấn đề nói về sự hiểu biết của một hiện hữu, đức Phật dạy con người cần phải biết sự hiện hữu của nó, nguyên nhân của sự hiện hữu, sự chấm dứt hiện hữu và con đường dẫn đến sự chấm dứt các hiện hữu. Và Ngài dạy: “Có bốn đối tượng không thể tư duy, không nên tư duy về chúng, nếu tư duy về chúng, con người có thể đi đến quẫn trí và khổ đau. Thế nào là bốn đối tượng không thể tư duy ấy? Này các Tỷ Kheo, Phật xứ là không thể tư duy được; thế giới tâm là không thể tư duy được; cảnh giới thiền của các thiền giả là không thể tư duy được; và quả dị thục của nghiệp là không thể tư duy được.”[2]

Đức Phật còn dạy thêm:

“Nếu một người được hỏi một câu hỏi, người ấy trả lời dứt khoát một câu hỏi đòi hỏi câu trả lời dứt khoát, người ấy trả lời với câu trả lời phân tích đối với câu hỏi đòi có câu trả lời phân tích, người ấy trả lời bằng cách hỏi ngược lại khi câu hỏi đòi câu trả lời như thế, người ấy gạt qua một bên câu hỏi khi câu hỏi cần phải được gạt qua một bên, như vậy là người có khả năng thảo luận.

Và ngược lại:

Nếu một người được hỏi một câu hỏi, người ấy không kết luận được là câu hỏi đúng hay sai, không xác nhận được qua lập luận đã được hiểu rõ, không xác nhận được qua việc thường làm, người như vậy là người không có khả năng thảo luận.

Nếu một người khi được hỏi một câu hỏi, người ấy lảng tránh câu hỏi bằng một câu hỏi khác, hướng câu hỏi đi ra ngoài vấn đề, hay bày tỏ sự phẫn nộ, sân hận hay bất mãn, người như vậy không có khả năng thảo luận.

Nếu một người được hỏi một câu trả lời, thay vì trả lời, người ấy mắng mỏ và đánh đập người hỏi, nhạo báng người hỏi, và nắm vào chỗ sơ hở của người hỏi, người như vậy thực sự không có khả năng thảo luận.

Nếu người ấy không làm các điều vừa nói, thì người ấy thực sự có khả năng thảo luận.”[3]

Qua các sự kiện nêu trên cho thấy vấn đề phân tích là rất quan trọng được đức Phật ứng dụng trong việc giáo dục cũng như trong sự tu hành. Tất cả sự phân tích ấy sẽ giúp cho con người có cái nhìn trí tuệ về sự vật, mà không phải là tri thức đến từ kinh nghiệm các giác quan.

7. Tinh thần phê phán

Đức Phật chủ trương sau khi phân tích phải biết phê phán để đánh giá đối tượng được phân tích là đúng hay sai, thiện hay bất thiện, được chấp nhận hay không chấp nhận, phù hợp với chánh pháp hay không v.v… Đức Phật đòi hỏi các đệ tử của Ngài phải biết phê phán sự vật trên cơ sở quan sát, phân tích và tư duy. Đây là tinh thần rất “khoa học” đã làm kinh ngạc các nhà nghiên cứu Tôn giáo[4].

Đức Thế Tôn còn dạy các đệ tử xem xét ngay cả Ngài để thấy rõ chân giá trị của Ngài và xem Ngài có phải là bậc Toàn giác hay không, chứ không nên tin theo một cách mù quáng. Trong kinh Tư Sát, Ngài dạy:

Này các Tỷ Kheo, một vị Tỷ Kheo biết tư sát, muốn biết cái tâm tánh của người khác, cần tìm hiểu Như Lai liên hệ đến hai điều: các sự việc do tai và mắt nhận biết nghĩ rằng: “các việc ô nhiễm do mắt, tai nhận biết có hiện diện trong Như Lai không?”...

Này các Tỷ Kheo, Như Lai cần được hỏi thêm: “các điều ô nhiễm do tai, mắt nhận biết có hiện diện ở Như Lai hay không?”. Này các Tỷ Kheo, đối với ai mà lòng tin ở Như Lai được thiết lập, được đặt cơ sở, được hỗ trợ do các phương pháp này, do các lời lẽ này, niềm tin ấy được gọi là hợp lý, được đặt cơ sở trên cái thấy trí tuệ, là mạnh mẽ vững chắc...

Như vậy này các Tỷ Kheo, là sự tìm hiểu Như Lai, các pháp của Như Lai, và như vậy là tìm hiểu Như Lai một cách đúng pháp”[5].

Trên đường giáo dục con người, đức Phật luôn quan tâm đến tinh thần phê phán, tinh thần này sẽ giúp các đệ tử của Ngài cải thiện được “sự tự tri”, “sự tự tín”, khả năng phân tích và sự thấy biết, v.v… Tinh thần này rất có giá trị, luôn gắn liền với thực tại khách quan, không để cho nhận thức của con người chịu nô lệ dưới bất cứ một sức mạnh, quyền năng nào.

8. Tinh thần sáng tạo

Tinh thần sáng tạo là một tinh thần giáo dục rất đặc biệt và nổi bật nhất của giáo dục Phật giáo. Vì đạo Phật được thiết lập trên lý duyên khởi, mà duyên khởi là vô ngã, đã là vô ngã thì không có cố định, là sáng tạo. Do đó cần phải có tư duy sáng tạo, phải biết chấp nhận tùy duyên tùy thời, sáng tạo đưa đến những sự mới mẽ về sự thật chơn lý. Cái nhìn sự vật với trí tuệ luôn thấy sự vật như thật trong hiện sinh, nhìn sự vật với cái thấy biết hiện hữu luôn trôi chảy không ngừng, các pháp luôn mới mẻ qua từng giây từng phút, đây là cái nhìn với sự thấy biết sáng tạo.

Con đường sống của đạo Phật dẫn đến cái nhìn trí tuệ, hay Chánh kiến và Chánh tư duy, thực sự là con đường sống của sáng tạo. Và cái đặc tính của cá nhân: tự tín, tự tri, tự trách nhiệm, tinh thần phê phán, tinh thần phân tích,… cũng thực sự là các đặc tính của một nhà tư duy sáng tạo. Như trong tập sách Tâm lý giáo dục của ông Charles E. Skinner đã viết:

Tư duy sáng tạo có nghĩa là sự dự đoán hay suy diễn đối với cá nhân (người tư duy sáng tạo) là mới mẻ, tân kỳ, độc đáo và khác thường. Người tư duy sáng tạo là người khám phá ra các lãnh vực mới mẻ và có các sự quan sát mới mẻ, các dự đoán mới mẻ, các suy diễn mới mẻ”[6].

Theo Phật giáo, khi tâm an trú vào Tam thiền hay Tứ thiền, cái nhìn của hành giả có thể thấy cái sâu xa của các hiện hữu và khám phá ra các lãnh vực mới mẻ của các hiện hữu, đây gọi là cái nhìn sáng tạo. Khi con người huấn luyện cái nhìn trí tuệ, thì các triền cái và kiết sử ngăn che tâm thức mình ra khỏi sự thật của vạn hữu sẽ dần dần được đoạn trừ, và tâm thức sẽ được giải thoát. Trạng thái tâm thức giải thoát này là trạng thái tâm thức của sáng tạo.[7]

9. Tinh thần thiền định

Giáo dục Thiền định là sắc thái giáo dục đặc biệt của Phật giáo, chưa được thực sự vận dụng vào trong bất cứ một hệ thống giáo dục hiện đại nào.

Phương pháp giáo dục Thiền định rất giản dị, nhưng đưa đến những kết quả lớn về mặt giáo dục tâm lý, tình cảm, hoàn bị tinh thần giáo dục tự trị, tự chủ, tự tín, trách nhiệm cá nhân và mở rộng hướng sáng tạo. Thiền định giúp cho con người ổn định tâm lý, lắng dịu các dục vọng, tẩy rửa phiền não, khai mở nguồn sáng tạo trong việc xây dựng văn hóa và văn minh, giúp con người thấy rõ sự thật về con người và vạn hữu. Đây là lý do tại sao đức Phật dạy các đệ tử của Ngài phải thực hành thiền định trong mọi lúc mọi nơi:

“Thân tịnh, lời an tịnh,

An tịnh, khéo thiền tịnh,

Tỳ-kheo bỏ thế vật,

Xứng danh bậc tịch tịnh”. [8]

(Pháp Cú, 378)

Thiền định vốn là công phu chính của Phật giáo. Thiền định có thể hàng phục năm triền cái: trạo cử, hôn trầm, dục, sân, nghi bởi nhờ năm thiền chi: tầm, tứ, hỷ, lạc, nhất tâm. Phương thức hành thiền là theo dõi hơi thở, nó cải thiện khả năng ký ức và quan sát cho sinh viên-học sinh, giúp họ thấy rõ tâm thức của mình như là kết quả của tâm lý trị liệu, khai mở tâm thức, và đỉnh cao của nó là đưa đến sự giác ngộ giải thoát.

Con đường thiền định trong Phật giáo là con đường hiểu biết, phát triển và tu tập tâm. Không có thiền định, thì con người không thể hiểu được mình là ai, và không thể giải quyết bất cứ các vấn đề gì về tâm lý. Do vậy, đức Phật khẳng định rằng:

Này các Tỷ-kheo, có một con đường độc nhất làm cho các chúng sinh thanh tịnh, vượt qua mọi sầu ưu, đoạn trừ hết khổ đau, buồn bã để thành tựu đạo, chứng đắc Niết Bàn: đó là tứ niệm xứ.”[9]

Quả thật, Tứ niệm xứ là con đường duy nhất giúp hành giả thấy chân ý nghĩa của đời sống, nó là con đường trở về chính mình, nương tựa; là con đường để mỗi người sẽ là một hòn đảo cho chính mình an trú. Thế nên, trước lúc nhập Niết bàn, đức Thế Tôn vẫn ân cần nhắc nhở cho hàng đệ tử với lời di huấn sau cùng: “Đây là gốc cây, đây là căn nhà trống, hãy nỗ lực thiền định, chớ để hối tiếc về sau.”

Từ xưa đến nay, loài người không ngừng tiến bộ, phát triển. Và giáo dục cũng chuyển biến theo từng thời đại, chế độ xã hội khác nhau. Mỗi nền giáo dục có một đặc trưng riêng của nó và được mỗi nước áp dụng riêng biệt. Việc giáo dục Phật giáo cũng dựa trên tinh thần đó để định hướng tư duy, định hướng thái độ sống (nhân cách) và góp phần phát huy tài trí mỗi cá nhân bằng mối liên hệ giữa Duyên khởi và Ngũ uẩn, mang lại lợi ích cho tự thân, cho đời, cho Đạo. Qua đó cho thấy giáo dục Phật giáo đã có một cái nhìn xác đáng về vũ trụ, về nhân sinh, về con người.

Trải qua hai mươi sáu thế kỷ, cho dù xã hội cộng đồng đã tiến hóa đến mức cao nhất trong xu hướng hội nhập toàn cầu hóa, thì quan điểm giáo dục Phật giáo vẫn khẳng định tính chất đúng đắn trong giáo lý của đức Phật. Ngày nay, giáo dục hiện đại đề cập đến vấn đề bình đẳng, tự do, nhân bản, khoa học, nói đến tâm lý con người, đạo đức, xã hội, môi sinh với những công trình khoa học mới phát minh hay những cấp bách yêu cầu của thời đại, người ta cũng tìm thấy câu trả lời chính đáng, ẩn tàng hay hiển lộ trong nền giáo dục Phật giáo.

THƯ MỤC THAM KHẢO

- Kinh Pháp Cú, Thích Minh Châu (dịch), Trường Cao cấp Phật học Việt Nam cơ sở II ấn hành, 1990, tr. 205.

- Tăng Chi Bộ I, London, PTS, 1989, pp.178-179.

- Tương Ưng I; Hán tạng tập 36, 3 Đại 3, 260c; Biệt tập 8: 1, Đại 2.

- Trung Bộ III, Kinh Nhất Dạ Hiền Giả, Thích Minh Châu (dịch), Trường Cao Cấp Phật Học Việt Nam ấn hành, 1986.

- Trung Bộ III, Kinh Tiểu nghiệp phân biệt, Thích Minh Châu (dịch), Nxb Tôn Giáo, 1990.

- Tăng Chi I, Thích Minh Châu (dịch), Nxb Tôn Giáo, 1980.

- Tương Ưng Bộ Kinh III, Thích Minh Châu (dịch), Nxb Tôn Giáo, 1990

- Nguyên Hồng, Giáo dục học Phật giáo, Nxb Tôn Giáo, 2001.

- Nhiều tác giả, Giáo dục Phật giáo trong thời hiện đại, Viện Nghiên Cứu Phật học Việt Nam, Nxb TP. Hồ Chí Minh, 2001.

- Stanislaw Kowalsker, Xã hội học giáo dục và Giáo dục học, Lê Thanh (dịch), Nxb TP. Hồ Chí Minh, 2003.

- Ban Giáo dục Tăng Ni Trung ương, Giáo dục Phật giáo, Tài liệu giảng dạy của Học viện Phật giáo Việt Nam, 2000.

- Thích Chơn Thiện, Lý thuyết Nhân tính qua Kinh tạng Pali, Luận án Tiến sĩ.

- Thích Thiện Siêu, Vô ngã là Niết bàn, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, 1990.

- Thích Chơn Thiện, Phật học Khải luận, Nxb TP. Hồ Chí Minh, 1999.


[1] Kindred Sayings, Vol. V, PTS, London, 1990, pp. 356-357.

[2] Gradual Sayings, Vol. II, London, PTS, 1992, p. 89-90.

[3] Tăng Chi Bộ I, London, PTS, 1989, pp.178-179.

[4] Trích theo Thích Chơn Thiện, Phật học khải luận, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1999, tr. 83.

[5] Middle Length Sayings, Vol. I, London, PTS, pp. 381-382.

[6] Charles E. Skinner, "Educational Psychology", Ninth Printing in India, 1992, p. 529.

[7] Thích Chơn thiện, Lý thuyết Nhân tính qua Kinh tạng Pali – Luận án tiến sĩ.

[8] Kinh Pháp Cú, Thích Minh Châu (dịch), Trường Cao cấp Phật học Việt Nam cơ sở II ấn hành, 1990, tr.205

[9] "Long Discourses", tr. by Maurice Walshe,..., 1987, p. 335.

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết:

Các bài viết liên quan