Tìm hiểu tính chất giáo dục trong Chơn Lý
- TK. Giác Chinh
- | Thứ Bảy, 13:28 22-06-2013
- | Lượt xem: 8331
Khoảng giữa thế kỷ hai mươi (năm 1944), phong trào khôi phục và chấn hưng Phật giáo diễn ra trên toàn thế giới. Trong bối cảnh ấy, Phật giáo Việt Nam cũng từng bước chuyển mình để cùng hòa chung vào dòng chảy Phật giáo quốc tế. Tại miền Nam Việt Nam, đức Tổ sư Minh Đăng Quang với chí nguyện “Nối truyền Thích Ca chánh pháp” đã kế thừa cả hai truyền thống Phật giáo lớn là Nam Tông (Theravāda) và Bắc Tông (Mahāyāna), đã khai sáng “Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam”, quyết chí đi theo con đường Trung đạo mà đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã vạch ra. Bằng bổn nguyện độ sanh và lòng từ bi, cả cuộc đời hoằng dương chánh pháp của Ngài không có một giây phút ngưng nghỉ. Có lúc Ngài dạy đạo, khuyến tu cho chư đệ tử Tăng Ni, thuyết pháp cho cư gia bá tánh. Muốn lưu truyền được những đề tài giáo lý đã giảng cho thế hệ mai sau được lợi lạc, Người đã tóm gọn lại và cho in ra từng quyển để lưu hành rộng rãi. Cho đến nay, chư Tôn đức Giáo phẩm Hệ phái đã kết tập các bài tiểu luận thành bộ Chơn Lý với 69 đề tài. Bộ Chơn Lý của Tổ sư ngoài giá trị triết lý Phật giáo, còn mang giá trị giáo dục sâu sắc.
Tư tưởng giáo dục của Tổ sư
Tổ sư Minh Đăng Quang cho rằng: “Cái sống là phải sống chung – Cái biết là phải học chung – Cái linh là phải tu chung”... Con đường Phật giáo Khất Sĩ là con đường của giáo dục bằng phương pháp “Học và Tu”: “Bởi có sắc thân, mới sanh thọ cảm, bởi thọ cảm mới sanh tư tưởng, bởi có tư tưởng mới sanh hành vi, bởi có hành vi mới sanh thức trí. Loài người có học là học mưu sống, học nơi vật chất, để tô đắp cho sắc thân, chớ không cần biết đầu đuôi, trước sau, thật giả ra sao? Tuy nuôi thân mà chẳng đặng sống lâu là bởi loài người lúc nhỏ không có đủ trí, cùng phải lắm sự thái quá bất cập cho nên thân ấy chẳng bền dai. Lắm khi tranh ăn vì tham vui sướng, mà họ lại giết hại với nhau, dữ hơn ác thú. Do đó người ta mới bày ra đạo lý, thiện ác phân biệt và tập sống bằng tinh thần, không không của linh hồn, để cho được khoái lạc nhẹ nhàng hơn. Và bắt đầu từ đây người ta cho rằng thiện để sống là cần, vì có sống rồi mới có ăn được. Như thế nghĩa là người ta học nơi tinh thần lý trí, mà người ta dứt bỏ cái học trước kia, cái học ác, học nơi vật chất, nơi sự của thân. Tức là người ta đã đến cái học thứ hai vậy. Người ta cho rằng: nuôi tinh thần, cũng như nuôi hột giống, là đúng hơn.”[1]
Học để tu, đi đến giác ngộ giải thoát theo Tổ sư là phải thực hành trung đạo: “Trước kia loài người học nuôi sắc thân, đối với vật chất như thế nào, thì bây giờ loài người học nuôi tinh thần lý trí cũng y như vậy. Họ so sánh cách tương đối đó, mà họ sống và thật hành. Bên vật chất có bao nhiêu phương pháp thì bên tinh thần cũng có bao nhiêu phương pháp. Mà loài người lại cho là: Đời sống, việc làm, theo lý trí tinh thần, là nhanh nhẹ khỏe sướng hơn, và là: ở trên cao bay khỏi mặt đất địa ngục rồi vậy. Hai hạng nầy đều ở trong giáo lý, phương pháp của thiện ác, có không, thân trí, vật chất tinh thần, chớ chưa biết chi là lẽ thật, chơn lý của sự đời. Thiện và ác là sự phải và trái, hai bờ lề hai bên, của sự thái quá và bất cập. Tuy nhiên hai bờ lề thiện ác, là ở hai bên chớ chưa phải là đạo tuyệt đối nơi chính giữa, nhưng bờ lề ấy, cũng cặp hai bên đường, kêu là tiểu đạo (đường nhỏ). Và nếu không có đường nhỏ hai bên ấy, thì con đường lớn đại đạo nơi chánh giữa, cũng không sao có được. Vậy nên thiện và ác là đời, còn đạo là ở giữa nơi thiện ác sống chết, vui khổ, thiên đường, địa ngục.”[2]
Thấu hiểu Chơn Lý đã khó, hành theo để đạt Chơn Lý tuyệt đối lại càng khó hơn. Tiến trình giáo dục ấy được Tổ sư khẳng định: “Đạo là chơn lý, vì loài người sanh sau, nên không hiểu chơn lý, lẽ thật của đuôi đầu, họ chỉ nhắm mắt đánh liều, lần mò bước đi theo hiện tại, vì thế mà loài người chỉ chấp theo giáo lý. Từ ác khổ trược, đến được giáo lý thiện vui thanh, đủ cho họ ăn hưởng no ngon hạnh phúc rồi, và là miễn cho được yên sướng, chớ họ không muốn tìm chơn lý lẽ đạo chi cả. Sau khi thật hành theo chơn lý trung đạo, đã được kết quả, và con đường đã khai vạch đi đó, còn để lại dấu vết về sau, chúng sanh đều được thấy gặp để đi theo, đến nơi Cực lạc, con đường ấy càng ngày càng rộng lớn tỏ rõ, trở nên con đường cái của chúng sanh, chừng ấy tức là thành đạo, hay là đạo đã hoàn thành vững chắc rồi. Từ giáo lý đến chơn lý tuyệt đối, hay là từ pháp lý đến đạo lý tuyệt đối, tức là từ tương đối đến tuyệt đối. Vì giáo lý pháp lý là tương đối có hai bên, mà hễ có hai bên, là chúng sanh hay nhảy qua nhảy lại, khổ sở cho cái ta không định. Vậy nên chỉ có chơn lý lẽ đạo tuyệt đối có một, mới là chỗ đứng yên vui đứng vững lâu dài, mới là con đường của người giác ngộ.”[3]
Quả thật, sở chấp chính là rào cản con người đến với giải thoát tối hậu. Vì chấp ngã, chấp pháp mà còn người cứ chìm nổi trong bể khổ sinh tử luân hồi. An vui, hạnh phúc tuyệt đối chỉ đến khi con người hoàn toàn chuyển hóa được nhận thức và thực hành rốt ráo giáo lý trung đạo; biết tự lợi và lợi tha; vô ngã, vô tham, vô sân và vô si để đi đến lẽ tuyệt đối an tịnh của đạo, đó là Niết Bàn.
Giáo dục xét trên phương diện ý nghĩa của danh từ “Khất Sĩ”
“Khất là xin, Sĩ là học, sống là xin, ai ai cũng là đang sống xin, để cho được cái học cái biết. Xin sống là để cho nên cái biết, biết ấy là học, cho biết lẽ thật, để thấy ra mục đích đặng thật hành theo, cho được sự giải thoát khổ não của vô thường, và tạo nên cái ta của ta an vui bền thật, hầu tránh xa sự nô lệ không công, tham sân si vô nghĩa lý”[4]. Khất Sĩ chính là hoạt động dạy - học lẫn nhau về đạo đức nhân sinh; xin nhau các pháp để dưỡng nuôi tâm trí; xin được chia sẻ cùng nhau những điều tốt lành, những kinh nghiệm hóa giải phiền não trên lộ trình xây dựng đạo đức và an vui trong cuộc sống: “Khất Sĩ là cái sống của chơn lý võ trụ, mà tất cả chúng sanh đều là học trò cả thảy. Bởi chúng sanh là cái biết, từ chưa biết đến đang biết, và cái biết sẽ hoàn toàn ngơi nghỉ.”[5]
Đạo Phật Khất Sĩ mang chức năng giáo dục xã hội
Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam từ những ngày đầu thành lập với sự thân hành của Tổ sư Minh Đăng Quang và Giáo đoàn Du Tăng Khất Sĩ do chính Ngài lãnh đạo, đã đi sâu vào lòng những người dân Việt. Quá trình phát triển của Hệ phái được ghi nhận như sau:
1. Thành lập Tăng đoàn
Tổ Sư đã thành lập được 2 Giáo đoàn (Giáo đoàn Tăng và Giáo đoàn Ni) sinh hoạt theo truyền thống của Phật Tăng xưa (không giữ tiền, ăn ngọ, du phương hành đạo, trì bình khất thực…). Sau khi Tổ sư vắng bóng, 2 Giáo đoàn này đã phát triển thành 5 Giáo đoàn Tăng[6]; về phía Ni giới, ngoài Giáo đoàn Ni ban đầu xuất hiện thêm 3 phân đoàn. Theo thống kê tại lễ Tự Tứ năm 1960 tại Vĩnh Bình, Giáo hội có hơn 500 Tăng Ni[7].
2. Đào tạo Tăng tài
Tổ Sư đã đào tạo được một đội ngũ Tăng Ni Khất Sĩ có đủ khả năng gánh vác trách nhiệm duy trì và truyền bá Phật Pháp. Khi Tổ Sư vắng bóng, giáo hội đã có hơn 2.000 Tăng Ni[8].
3. Thành lập hệ thống Tịnh xá, Tịnh thất
Xây dựng các cơ sở tôn giáo để làm nơi thờ phượng trang nghiêm Tam Bảo. Là nơi cho cư giá bá tánh đến lễ bái và nghe chư Tăng giảng giải đạo lý, là nơi cho chư Tăng nghỉ ngơi, lưu trú sau thời gian du phương hóa độ, nơi thực tập các pháp môn trong Phật giáo.
4. Chắt lọc tinh hoa giáo lý của cả hai truyền thống Nam tông và Bắc tông
Tuyển chọn để biên tập, biên soạn, biên dịch hệ thống giáo lý Tam tạng kinh điển thành hệ thống đặc trưng tiêu biểu sử dụng cho Tăng đoàn Khất Sĩ và phục vụ cho việc hoằng pháp phổ biến giáo lý Phật giáo.
Xét về phương diện tổ chức giáo dục, Tổ sư Minh Đăng Quang đã tiến hành nghiên cứu theo lý tánh thực hành để tạo dựng mối quan hệ giữa dạy và học, đưa ra những giải pháp rèn luyện về tinh thần, và làm chủ được các mặt như: ngôn ngữ, tâm lý, tình cảm, tinh thần, cách ứng xử trong xã hội, v.v… Những cơ sở của nền giáo dục được Tổ Sư nhấn mạnh, đó là: Tam tạng Kinh điển chính là nền tảng giáo dục, ba môn học chính yếu là Tam học: Giới - Định - Tuệ; trường học là vũ trụ. Theo quan điểm này, Tổ sư đã chỉ rõ: “Học chơn lý để biết rõ chúng sanh, vạn vật và các pháp ”[9]; người thầy dạy học chính yếu là Phật, Tăng là học trò; và nêu rõ ý nghĩa của giáo dục: “Chính Phật là Vô Thượng Sĩ, là ông thầy giáo có sự học không ai hơn! Còn Tăng là Khất Sĩ, là học trò đang đi du học khắp nơi cùng xứ, học nơi thầy, nơi bạn, nơi trò, học với tất cả chúng sanh, vạn vật, các pháp, học với Phật Pháp Tăng ba đời, học từ xóm làng tỉnh xứ, đến khắp các xã hội. Thế giới chúnh sanh, học nơi chữ viết, nghe lời nói, học bằng lo lắng nghĩ ngợi, học nơi sự thực hành, học nơi cỏ, cây, thú, người, trời, Phật, đất, nước, lửa, gió…Trường học là võ trụ, chúng sanh là học trò, các pháp đổi thay tiến hóa là bài vở, vạn vật là món tạm dùng. Có học để thi đậu đắc quả an vui, đặng tránh cái dốt nát vô minh, chết khổ điên cuồng của cỏ cây loài thú. Có học mới biết đầu trên chân dưới, sự sống của khắp thân mình, mới có mắt sáng thấy đường, biết điều ăn mặc. Học là quý nhất, trúng đường, hơn là sự ăn chơi nô đùa lêu lỏng.”[10]
Những lời chỉ dạy trên cho thấy Chơn Lý không những đưa ra phương pháp để chúng sanh tu học mà còn khẳng định lợi ích việc dạy - học trên hai phương diện thế giới quan và nhân sinh quan, hình thành nơi con người nhãn quan mới mẻ hơn khi tiếp cận tới các hiện tượng xã hội, sự kiện xã hội và quá trình xã hội vốn rất gần gũi, quen thuộc. Qua đó, giúp chúng ta nhận thức đầy đủ sức mạnh và vị trí của con người trong hệ thống xã hội, góp phần nâng cao tính tích cực xã hội của cá nhân và hình thành nên tư duy chân chánh, khách quan, khoa học trong khi xem xét, phân tích, nhận định, dự báo về các sự kiện, hiện tượng và quá trình xã hội.
[1] Tổ Sư Minh Đăng Quang, Chơn Lý 19, Hà Nội, Nxb. Tôn Giáo, 2009.
[2] Sđd.
[3] Sđd..
[4] Chơn Lý 58 – Đạo Phật Khất Sĩ.
[5] Chơn Lý 11- Khất Sĩ.
[6] Tính đến năm 1960. Hiện nay là 6 Giáo đoàn Tăng.
[7] Hàn Ôn, Minh Đăng Quang Pháp Giáo, TP. Hồ Chí Minh, Chúng Minh Đăng Quang tái bản lần hai, 2001, tr.36
[8] Sđd, Hàn Ôn , Minh Đăng Quang Pháp Giáo, tr. 49.
[9] Chơn Lý 11- Khất Sĩ.
[10] Sđd..
Các bài viết liên quan
- TP.HCM: Phát học bổng Huỳnh Liên cho chư Ni sinh Ni giới Phật giáo Khất sĩ - Thứ Năm, 14:23 17-04-2025 - xem: 1058 lần
- TP.HCM: Quỹ “Pháp học Khất sĩ” trao gần 200 suất học bổng cho Tăng Ni Hệ phái - Chủ Nhật, 14:55 22-12-2024 - xem: 1628 lần
- Học viện Phật giáo VN tại TP.HCM thông báo tuyển sinh cử nhân Phật học khóa XVIII (năm 2023) - Thứ Sáu, 19:41 10-03-2023 - xem: 5649 lần
- Lễ Khai giảng Lớp Trung cấp Ni giới Hệ phái Khất sĩ tại Tịnh xá Ngọc Uyển - Khóa XI (2023-2026) - Thứ Tư, 19:13 15-02-2023 - xem: 6841 lần
- Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM: Trang nghiêm Lễ Tốt nghiệp 2022 - Chủ Nhật, 18:47 24-04-2022 - xem: 8869 lần
- Kết quả tuyển sinh Cử nhân Phật học khóa XVI (2021) Học viện Phật giáo VN tại TP.HCM - Thứ Năm, 16:10 09-09-2021 - xem: 9455 lần
- Học viện Phật giáo VN tại TP.HCM thông báo tuyển sinh cử nhân Phật học khóa XVI (2021) - Thứ Sáu, 17:10 07-05-2021 - xem: 11366 lần
- TP.HCM: Lễ phát học bổng khuyến học Ni giới Hệ phái Khất sĩ năm 2021 - Thứ Sáu, 23:03 30-04-2021 - xem: 10646 lần
- Lễ Cấp phát học bổng của Hệ phái Khất sĩ năm 2020 - Chủ Nhật, 09:47 24-01-2021 - xem: 11853 lần
- Học viện Phật giáo VN tại TP.HCM: Thông báo tuyển sinh Thạc sĩ và Tiến sĩ Phật học - Thứ Năm, 16:00 19-11-2020 - xem: 12972 lần
- Trang nghiêm Lễ tốt nghiệp và Tổng khai giảng tại HVPGVN tại TP. HCM - Chủ Nhật, 23:14 25-10-2020 - xem: 8027 lần
- Kết quả thi tuyển vào Học viện Phật giáo VN tại TP.HCM - Thứ Ba, 23:27 22-09-2020 - xem: 11965 lần



