CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !

Vài suy nghĩ về giáo dục người xuất gia trẻ

I. Tầm quan trọng của giáo dục đối với người mới xuất gia

Chúng ta thường nghe câu: “Trẻ em hôm nay - Thế giới ngày mai”, câu nói đã cho thấy tầm quan trọng của mầm non trong xã hội hiện tại. Những mầm non ấy, phải được chăm sóc trong điều kiện tốt nhất. Đây không phải là nhiệm vụ của riêng các cấp hay các ngành nào, mà đó chính là nhiệm vụ của toàn xã hội. Những vị mới xuất gia – những mầm non trong giáo pháp Phật-đà – cũng không ngoại lệ. Chắc chắn chúng ta không lạ gì với lời dạy của đức Phật trong kinh Tương Ưng Bộ I: ...Khattiya trẻ tuổi không nên khinh thường hay không nên miệt thị vì họ là trẻ. Con rắn trẻ tuổi không nên khinh thường hay không nên miệt thị vì chúng là trẻ. Ngọn lửa trẻ tuổi không nên khinh thường hay không nên miệt thị vì chúng là trẻ. Tỷ-kheo trẻ tuổi không nên khinh thường hay không nên miệt thị vì họ là trẻ[1]. Vì sao? Vì một thái tử nhỏ sẽ trở thành một hoàng đế dũng mãnh đánh Nam, dẹp Bắc thống nhất sơn hà. Một con rắn nhỏ nhưng nọc độc của nó có thể giết chết nhiều người. Một đốm lửa nhỏ có thể hủy hoại cả một công trình mà người ta phải đầu tư nhiều công sức và tiền của. Một tu sĩ trẻ sẽ trở thành một vị thầy với sứ mạng truyền thừa Phật pháp, đem giáo lý từ bi – trí tuệ có công năng giải trừ nỗi khổ niềm đau cho cuộc đời, là nền tảng Tăng đoàn trong tương lai mà chúng ta có trách nhiệm vun bồi và chớ nên xem thường. 

Tục ngữ có câu: “Tre già măng mọc”. Thế hệ trưởng thành hiện tại rồi sẽ nằm xuống và lớp trẻ nhỏ sẽ lớn lên kế thừa. Trong giáo pháp cũng thế, các vị thầy – người đang đảm nhiệm vai trò “Tác Như Lai sứ, hành Như Lai sự” hiển nhiên cũng thuận theo định luật vô thường của thời gian, những người học trò rồi sẽ đến lúc làm thầy và đảm nhiệm vai trò to lớn mà Thầy mình và các thế hệ tiền bối truyền trao. Cứ thế mạng mạch Phật pháp sẽ được truyền thừa, tiếp nối nhau từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đã hơn 2500 năm, giáo pháp của đức Từ Phụ vẫn rạng ngời tỏ chiếu nhân gian, soi đường cho biết bao chúng sanh tìm về bờ chân hạnh phúc là do công lao không nhỏ của các bậc tiền hiền. Chư vị đã biết tự trang nghiêm giới thân, trau dồi giới đức, khéo léo hoằng truyền chánh pháp bằng cả khẩu giáo lẫn thân giáo, đem lại lợi ích lớn lao cho tất cả chúng sanh. Quá khứ và hiện tại huy hoàng là thế, nhưng những người học trò hiện tại sống trong bối cảnh đất nước đang thay đổi và phát triển về mọi lĩnh vực, kèm theo đó là không ít những tệ nạn và sự suy đồi đạo đức cũng trên đà leo thang, liệu khi làm thầy họ có đủ sức gánh vác sự nghiệp to lớn của đức Thế Tôn chăng? Vì thế, ngay bây giờ họ phải được quan tâm và giáo dục đúng mức.

II. Một vài ý kiến đóng góp

1. Vai trò giáo dục của người Thầy

Với những vị mới xuất gia, vị thầy đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc hướng dẫn họ dần vào cửa đạo. Thời kỳ tập sự là khoảng thời gian họ vừa học tập kinh luật vừa lao động công quả, lập công bồi đức, cũng là thời gian cần được các vị thầy đặc biệt quan tâm chỉ dạy. Việc cho những vị mới xuất gia làm thị giả kề cận thầy có thể xem là một phương pháp hay. Được gần gũi bên thầy, người đệ tử có nhiều cơ hội trong sự học hỏi lời thầy dạy, noi theo lối sống của thầy mình. Ngược lại, vị thầy sẽ dễ dàng nhận rõ tính cách, những sở trường, sở đoản, cách hành xử của đệ tử mà có cách giáo dục phù hợp, kịp thời. Bên cạnh đó, việc chú trọng xây dựng tình thầy trò trong giai đoạn này cũng quan trọng không kém.

Người xuất gia, rời bỏ gia đình để vào chùa, đời sống tinh thần cũng như vật chất đều gửi gắm vào người thầy, nhất là trong giai đoạn buổi đầu. Thầy trở thành điểm tựa của người đệ tử. Nếu điểm tựa đó không vững vàng, không đủ ấm áp thì người đệ tử sẽ bị chao đảo và có khi sẽ rơi ngã. Phong thái oai nghi, đĩnh đạc; đời sống phạm hạnh, chuẩn mực của người thầy sẽ tạo cho người đệ tử có niềm tin kiên cố rằng, đây sẽ là điểm tựa vững vàng để mình phát triển đời sống tâm linh giải thoát. Gần gũi, quan tâm đệ tử được biểu hiện qua sự thăm hỏi, nhắc nhở, đồng thời chịu khó lắng nghe những khúc mắc cũng như tâm tư, nguyện vọng... sẽ làm cho đệ tử ấm lòng. Nắm bắt được tâm lý, hiểu được những nguyện vọng của người đệ tử và làm sao giáo dục để thiết lập một đời sống đạo đức căn bản trong bước đầu tu học trước khi cho các vị thọ giới, và kế đến là gửi họ đi học ở các trường Phật học là điều không thể thiếu, quyết định cả tương lai của người đệ tử. Niềm tin tưởng, lòng thương yêu, sự tôn kính, biết ơn đối với thầy nơi người đệ tử nhờ đó sẽ được thiết lập và ngày càng phát triển bền vững.

Đời sống tu tập của vị thầy tác động không nhỏ đến việc hình thành nhân cách cũng như việc phát triển tâm linh của người đệ tử nói chung mà đặc biệt là người đệ tử mới xuất gia. Nếu xuất gia ở một ngôi chùa chủ trương tụng đám, cúng sao giải hạn, làm kinh tế,… là chính thì xu hướng của người đệ tử cũng bước dần theo ngã rẽ đó; còn nếu xuất gia ở một ngôi chùa lấy vấn đề nghiên cứu kinh luật, tu tập làm đầu thì người đệ tử cũng sẽ có khuynh hướng bước đi theo con đường này. Tuy nhiên, cũng có trường hợp người đệ tử không hoàn toàn đi theo con đường mà thầy mình đi. Có nhiều vị mới xuất gia đã tự ý nghiên cứu kinh sách và chọn riêng cho mình pháp môn hành trì. Thường thì trường hợp vừa nêu, ít khi dẫn đến một kết quả tốt, ngoại trừ một vài trường hợp ngoại lệ. Việc không am hiểu giáo pháp cũng như phương pháp tu tập là một điều khó tránh khỏi nơi người mới xuất gia. Nếu vị thầy thiếu lòng từ bi, không chỉ dẫn rõ ràng chắc chắn dẫn đến việc họ hiểu và thực hành sai. Thực tế cho thấy, không ít vị sau một thời gian xuất gia cảm thấy chán nản và quay trở lại đời sống thế tục với lý do không phát triển được đời sống tâm linh, vì vị thầy sau khi nhận đệ tử đã không có phương pháp dạy đệ tử cho thích hợp. Quả thật, để có thể vun bồi cho một mầm non đạo pháp, đòi hỏi phải có bàn tay của một vị thầy có đủ tâm đức và tuệ đức. Vẫn biết việc bỏ đạo về đời có muôn ngàn lý do, song với những vị có hạt giống tốt, yêu mến giáo pháp, siêng năng tu tập lại không được chăm sóc, tưới tẩm đúng mức để rồi hạt giống ấy không nẩy mầm, bén rễ được mà lại bị thối đi thì thật đáng buồn.

Trong thời đại ngày nay ở Việt Nam, khi mà đời sống của người xuất gia chịu sự chi phối và tác động lớn lao từ những điều kiện xã hội bên ngoài, đáng lẽ trách nhiệm của người thầy đối với đệ tử của mình càng được chú trọng hơn thì thực tế lại cho thấy rằng sự ảnh hưởng của người thầy đối với đệ tử của mình hiện tại lại không còn sâu sắc như ngày xưa. Một số vị thầy nhận đệ tử nhiều nhưng thực chất không quan tâm, lo lắng cũng như không dạy dỗ gì cho đệ tử. Đáng buồn hơn khi có những vị nhận đệ tử trong khi mình chưa thể hiện được phẩm chất của một vị thầy. Những việc làm như thế chắc chắn sẽ tác động xấu đến người đệ tử trong buổi đầu xuất gia và hình thành trong tâm hồn trong sáng của họ một hình ảnh không mấy đẹp đẽ về người đi trước. Nếu tình trạng trên không được quan tâm, chú trọng đúng mức và cứ kéo dài trong tương lai, thiết nghĩ, đây sẽ là một trong những nguyên nhân chính làm đoạn giảm thọ mạng Phật pháp.

2. Xây dựng môi trường tu học

Câu chuyện Mạnh Mẫu phải dọn nhà 3 lần để Mạnh Tử tránh xa môi trường xấu đã trở thành bài học mang tính giáo dục sâu sắc với bao thế hệ phụ huynh. Tất nhiên, ngày nay, tìm một môi trường thích hợp để con cái xây dựng được nhân cách tốt không thể nào liên tục dời nhà như Mạnh Mẫu. Các bậc phụ huynh phải biết cách cho con tiếp xúc với những điều tốt, và tránh xa những điều có thể ảnh hưởng xấu như câu tục ngữ ông bà ta từng dạy “gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”. Giáo dục người xuất gia trẻ ngày nay cũng vậy, người thầy phải làm sao xây dựng được một môi trường tu học lý tưởng, ngăn chặn được các ác pháp, các bất thiện pháp có nguy cơ xâm hại đến đời sống tu học của học trò mình. Đồng thời, nắm bắt được tâm tư, suy nghĩ của đệ tử để kịp thời can thiệp và hướng dẫn họ vượt qua chướng ngại, thăng tiến trên con đường tu tập.

Ngôi chùa đóng vai trò như một tổ ấm tâm linh cho người xuất gia, người thầy và huynh đệ đồng tu chính là nơi nương tựa tinh thần, là tấm gương soi cho họ vào buổi đầu. Từ dáng đi, thế đứng, cách giao tiếp, hành lễ tụng kinh – bái sám cũng như công quả... của người đi trước nhất nhất đều có thể trở thành những bài học giản dị dễ hiểu để người mới xuất gia học theo, và có thể làm định hướng cho tuơng lai của họ sau này.

Việc giáo dục người mới xuất gia không phải lúc nào cũng diễn ra một cách êm xuôi, dễ dàng. Từ đời vào đạo, với vô vàn những tập khí, tâm tính, suy nghĩ, hành động chưa được thuần thục thì việc giáo dục người mới xuất gia quả thật gian nan. Ðôi khi những lời dạy nhẹ nhàng hoặc sử dụng đòn roi đều không có tác dụng, hay tác dụng chẳng là bao. Vì sao vậy? Vì họ cần được “Hiểu và thương”. Hiểu là yếu tố quan trọng để giáo dục, điều chỉnh, định hướng cho từng giai đoạn phát triển tâm sinh lý của họ. Am tường giáo lý, hiểu rõ tâm sinh lý từng lứa tuổi, linh động, uyển chuyển, mềm dẻo là những tố chất cần có nơi vị bổn sư hoặc bất cứ ai có chức năng giáo dục người mới xuất gia. Môi trường tu học lý tưởng với người mới xuất gia, thiết nghĩ vị thầy phải có cả hình ảnh người mẹ hiền với bàn tay ấm áp khi họ thối lòng gục ngã, và có cả cái nhìn uy nghiêm của cha khi họ hư hỏng ngang bướng. Phương pháp giáo dục khoa học, đúng đối tượng, tùy lúc, cần được xem là nền tảng để xây dựng môi trường tu học.

“Hiểu và thương” còn có thể được xem là một biểu hiện khác của “bi và trí”. Bi đóng vai trò tạo nên một mối quan hệ tình cảm cần thiết được biểu hiện bằng tình thương, sự quan tâm với người mới xuất gia. Trí có nhiệm vụ nuôi dưỡng hạt giống Thánh nơi họ, giới thiệu – hướng dẫn pháp môn tu tập, giúp họ giải trừ phiền não hay những vướng mắc trên lộ trình tu tập cũng như những mối bất hòa trong đời sống xuất gia. Bi và trí cần được biểu hiện một cách đúng mức, vì nếu thiếu một trong hai yếu tố này, không thể nào có được một người xuất gia hoàn thiện.

Tháng 2 năm 2012, tuần báo Giác Ngộ đã đăng một bài viết của tác giả mang bút danh Cùng Tử với tựa đề: “Giá mà thầy đừng thương con theo cách đó...”. Nội dung bài viết là lời tự thuật của một cư sĩ đã từng sống đời sống xuất gia. Bài viết là những dòng cảm xúc, những suy nghĩ và cả sự tiếc nuối cho những ngày tháng sống dưới mái già-lam với sự thương yêu đùm bọc của sư phụ. Tuy nhiên, chính sự thương yếu ấy cũng là nguyên nhân lớn nhất dẫn đến việc vị ấy về đời. Trong bài viết có đoạn: Con không trách thầy nhưng con tiếc, con tiếc cho con và cho cả tình thương - vốn dĩ là chất liệu ngọt ngào cho tâm hồn lại vô tình trở thành “con dao hai lưỡi” gây ra những thương tổn cho chính con và huynh đệ của con. Con đã vô tâm lớn lên trong sự thương yêu, bảo bọc “thiên lệch” của thầy nên con càng ỷ lại, càng dựa dẫm bởi con nghĩ đã có thầy thương, là “cây cao bóng cả” che mát cho con. Con dần thối thất tâm ham học như lúc mới vào chùa, con dần biết cách lấy lòng thầy để thầy thương nhiều hơn”[2]. Từ tình thương “thiên lệch” ấy, tác giả đã “hư” dần, “hư” dần cho đến một ngày kịp nhận ra: “Từ ý niệm đi tu là để giải thoát, để diệt trừ tham muốn thì con lại chạy theo cái tham muốn được thầy thương nhiều hơn… Con đã thành công với những “mưu mô, toan tính” ấy của mình, nhưng thầy ơi, con đã thất bại thảm hại trên đường tu. Đường tu là con đường giải thoát, làm an lạc cuộc đời thì con đã biến đường tu của mình thành con đường danh vọng (dẫu không to tát gì, chỉ trong phạm vi chùa mình) nhưng con đã biết cách luồn lách để đi bằng sự khéo léo chứ không phải bằng chất liệu Từ-bi-hỉ-xả (Tứ vô lượng tâm) của người con Phật. Con đã sai, và giá như thầy không cho con cơ hội đó”[3]. Bài viết trên chỉ là một lời chia sẻ trong muôn ngàn những trường hợp tương tự; những trường hợp “Bi mà không Trí” trong môi trường giáo dục người xuất gia. Song cũng có trường hợp “Trí tuệ mà thiếu Từ bi hoặc thậm chí không có Từ bi”. Có nhiều môi trường tu học, vị thầy sau khi nhận đệ tử, dạy họ 2 thời công phu, sơ sơ cách dùng chuông mõ, tán tụng rồi đẩy họ lao vào việc cúng kiến, ma chay; còn có vị lại bắt đệ tử mình quần quật với những công việc như xây dựng, phát triển cơ sở vật chất. Khi đệ tử xin phép đi học các trường Phật học cũng hoan hỷ cho phép, song không có một lời gởi gắm, giới thiệu chỗ ở cho đệ tử có nơi nương tựa để đi học cũng như không trợ cấp cho đệ tử trong những năm tháng ngồi ghế học đường. Những trường hợp trên được những vị đệ tử kém duyên thiếu phước kia, chua chát nói với nhau là “đem con bỏ chợ”. Thỉnh thoảng cũng có vài trường hợp, vì có tâm tu tha thiết, ý chí vươn lên, người đệ tử nỗ lực học tập, phấn đấu rồi cũng thành công. Phần đông các vị thành công ấy không quay trở về với ngôi chùa xưa của mình, đó là một hiện thực đáng buồn hiện nay. Nhiều trường hợp, những vị bị “bỏ chợ” đã buồn phiền, thất vọng, làm tâm tu yếu dần và với hấp lực mãnh liệt của vị ngọt thế gian, những vị ấy đã chấp nhận dừng chân trên con đường giải thoát.

Kế đến, điều cần lưu tâm để những rường cột đạo pháp mai sau có một môi trường tu học tốt là xây dựng đời sống lục hòa. Một cộng đồng tu sĩ sống với nhau bằng tình thương yêu, tính tự giác, tự trọng, sự tôn trọng nhường nhịn và cầu thị cũng như giúp đỡ nhau về cả vật chất lẫn tinh thần những lúc gặp khó khăn, ốm đau, bệnh tật. Đồng thời, biết ngồi lại chia sẻ, phân tích cho nhau bằng ngôn từ hòa ái, lắng nghe, xây dựng và cảm thông khi không may xảy ra những bất hòa là một môi trường vô cùng lý tưởng để người mới xuất gia nương tựa tu học. Ðược huấn luyện trong một môi trường tu học như vậy, người xuất gia sẽ thật sự cảm thấy hạnh phúc và trân quý đời sống xuất gia. Lòng từ bi, trí tuệ cũng như tính cách khiêm hạ, nhẫn nhục sẽ dần thể hiện trọn vẹn nơi họ. Trong thời điểm hiện nay, thiết nghĩ, những vị thầy và bất kì ai mang nhiệm vụ xây dựng và chăm lo môi trường tu học cho người xuất gia càng phải lưu tâm đến việc xây dựng đời sống lục hòa trên.

Không ít các tự viện ngày nay đã không còn hoà hợp trong một hội chúng cùng tu học, nguyên nhân đó xuất phát từ việc bất hòa về thân, khẩu, ý, giới, kiến và lợi. Chỉ vì những thói quen, sở thích hay nói đúng hơn là những tập khí không được khéo tu tập, chuyển hóa đã hình thành những rạn nứt không đáng có trong đời sống xuất gia. Những món lợi về tứ vật dụng cũng là nguyên nhân gây bất hoà. Quyền lợi riêng tư, vị trí trong mắt thầy trụ trì, trong ngôi chùa cũng như những mối quan hệ với cư sĩ Phật tử hộ đạo gây không ít hiềm hận cũng góp phần thúc đẩy việc phân chia, đố kị lẫn nhau giữa người xuất gia thêm phần sâu sắc. Nổi trội hơn, như một trào lưu thời thượng, thế giới thứ ba (hiện tượng đồng tính) đã và đang xuất hiện ngày càng nhiều nơi thiền môn thanh tịnh. Hình ảnh thầy Tỳ-kheo – bậc đại trượng phu, giới tướng trang nghiêm, uy nguy, đĩnh đạc đang bị lấn át bởi những nam nhân trong tướng đầu tròn áo vuông yểu điệu thục nữ, miệng lưỡi đẫy đưa. Chính vì như thế nên đời sống xuất gia giờ đây cũng lắm những hỷ, nộ, ái, ố; đầy những thương, yêu, ưa, ghét, muốn với vô vàn lợi danh. Hòa thượng Thích Trí Thủ từng nói rằng: “Tỳ-kheo có tướng đi nhẹ như mây bay vì không vướng bận tiền trần, nhìn xa thấy đẹp, nhìn gần càng đẹp hơn”, hình ảnh đẹp thuở nào nay còn được đâu! Giờ đây, ngẫm lại lời dạy của Tổ Quy Sơn: “Phát túc siêu phương, tâm hình dị tục” trong Cảnh Sách Văn sao cảm thấy thật buồn. Trau sửa nội tâm, trang nghiêm giới tướng với người mới xuất gia vốn đã lắm khó khăn, lại không may sống trong một môi trường như thế thử hỏi làm sao tu tập tốt được? Không ít trường hợp đã “gần mực thì đen”, một số trường hợp đánh mất lý tưởng quay gót về đời và tệ hơn hết là có một quan kiến không tốt với giáo pháp, xem thường người xuất gia lẫn đời sống xuất gia.

3. Hoàn bị kiến thức Phật học, thế học; khuyến khích nỗ lực hành trì

Là người sẽ đảm nhiệm vai trò “Tác Như lai sứ, hành Như Lai sự” trong tương lai, nên người xuất gia trẻ cần được trang bị nền tảng kiến thức Phật học, thế học vững vàng. Song song đó, nội lực tu tập cũng là vấn đề không thể bỏ ngỏ trong việc giáo dục người xuất gia trẻ ngày nay.

Binh gia có câu: “Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng”. Một chiến sĩ trước khi xung trận để không phải vong mạng, đủ sức vượt qua những hiểm nguy và chiến thắng trở về phải trang bị kỹ lưỡng kiến thức quân sự, kỹ năng tác chiến và am hiểu đối phương. Sứ giả Như Lai cũng thế, để đủ sức đối phó với ngoại duyên, nghịch cảnh, để có được thành công trong công cuộc hoằng pháp, dấn thân đem đạo vào đời, phải trang bị cho mình đầy đủ cả kiến thức thế học lẫn Phật học và kèm theo đó là nội lực tu tập vững vàng.

Ðã là người xuất gia thì điều tiên quyết phải là tinh thông nội điển, tức là am hiểu tường tận về giáo lý của đức Phật được ghi lại Tam Tạng giáo điển hay chí ít cũng phải nắm được giáo lý căn bản cần thiết cho công cuộc độ sanh. Nếu một người mang sứ mệnh truyền bá Chánh pháp mà chính mình mờ mịt về giáo lý cũng như pháp môn hành trì thì làm sao truyền trao chánh pháp, hướng dẫn cho mọi người? Nếu mạo hiểm, chẳng khác nào làm người mù dẫn đường, ắt mang họa rơi xuống vực thẳm. Mà nào có phải một mình mình không đâu mà cả đoàn cùng chung số phận. Như thế, làm sao có thể lường được quả nghiệp nặng nề. Chưa kể, trong công cuộc hoằng pháp không làm sao tránh khỏi việc gặp ngoại đạo đả phá. Nếu không có giáo lý trí tuệ của đức Phật làm vốn thì lấy gì để chống trả, để bảo vệ chánh pháp?

Thiết nghĩ, đối với một sứ giả của Như Lai đúng nghĩa ngày nay, chí ít phải được trải qua quá trình học tập tại các lớp đào tạo Giảng sư hoặc Học viện thì mới có đủ khả năng đi truyền bá chánh pháp. Vì khi được đào tạo ở các cấp học này, một tu sĩ mới sở hữu được một kiến thức Phật học vững vàng, trang bị cơ sở lý luận vững chắc, phương pháp truyền đạt thuyết phục. Thực tế hiện nay cho thấy, nhiều vị thăng tòa thuyết pháp trong khi mức độ am hiểu giáo lý chẳng được là bao, cùng với thiếu sự tu tập. Hệ quả là đã gieo rắc không ít mê tín, tà kiến làm cho người dân có cái nhìn thiên lệch đối với giáo pháp giải thoát. Cũng không ít vị, vì khả năng lý luận, diễn đạt kém làm cho giáo pháp của đức Phật được thuyết ra trở nên khó hiểu, khó hành trì. Trường hợp kể trên cũng góp phần làm lu mờ giáo pháp giác ngộ.

Với một xã hội văn minh, khoa học phát triển, tri thức được nâng cao, việc làm sao truyền bá giáo pháp của đức Phật để mọi người chấp nhận, nghe theo, thực hành theo là một bài toán không dễ tìm ra đáp số. Khéo léo truyền bá giáo pháp phù hợp với khoa học, đúng với hoàn cảnh xã hội để mọi người phát khởi lòng tin và hành theo là yếu tố đòi hỏi cần phải có ở một tu sĩ trong tương lai. Số lượng người dân tri thức luôn chiếm phần không nhiều trong xã hội, nhưng đây chính là thành phần quyết định sự phát triển của xã hội. Giáo lý Phật-đà nếu không hội nhập được vào dòng phát triển của xã hội thì làm sao đảm bảo được sự tồn tại, phát triển lâu dài và bền vững của Phật pháp?

Cách đây hơn 2600 năm, việc am tường ba bộ Veda, tinh thông ngũ minh đã góp phần thành công không nhỏ cho 45 năm hoằng pháp của đức Phật. Ấy vậy mà ngày nay, trong xã hội văn minh phát triển như vũ bão, việc trang bị ngoại điển lại bị xem thường. Gần chùa tôi, có một trung tâm giáo dục thường xuyên. Mỗi tối, nhìn buổi tan trường với đầy những bóng áo nâu, áo lam, áo vàng tôi lại thấy thương và lo cho đạo pháp. Tôi biết, vì quá tuổi học chính quy nên nhiều vị học bổ túc, đó là một nỗ lực đáng ghi nhận, tán thán. Nhưng có không ít những vị đáng lẽ được học chính quy lại bị bắt buộc học bổ túc. Chương trình chính quy, một năm một lớp với 12 môn đào tạo chính khóa và nhiều hoạt động ngoại khóa mà vẫn chưa là gì với hành trang vào đời của một học sinh. Vậy thử hỏi, chương trình bổ túc 2 năm 3 lớp, chỉ với 7 môn chính khóa và không hề có một hoạt động ngoại khóa, liệu có đủ chăng? Các môn học mang tính thời đại và ứng dụng cao như: Tin học, Giáo dục công dân, Giáo dục thể chất, Giáo dục quốc phòng lại không có cơ hội được học. Ðiều này đã tạo một lỗ hổng kiến thức không nhỏ ảnh hưởng trực tiếp đến công cuộc hoằng pháp trong tương lai. Hình ảnh Tăng Ni trẻ xuất hiện nhiều tại các trung tâm giáo dục thường xuyên làm sao thuyết phục được giới trí thức tin và hành theo khi có duyên tiếp xúc với giáo pháp. Ở khoa Anh ngữ Phật pháp ở HVPGVN tại TP. HCM có không ít những vị học chương trình cử nhân năm 2 nhưng trình độ tiếng Anh không khá hơn gì học sinh bậc Trung học cơ sở. Ðiều này chứng minh việc không chú trọng thế học đã gây nên sự thiếu hiệu quả trong công cuộc giáo dục và đào tạo Phật học. Từ đó có thể thấy, việc xem thường chú trọng đào tạo thế học đã làm chậm đi rất nhiều bước tiến của Tăng Ni hiện nay. Trong tương lai, nếu cứ theo đà này, làm sao giấc mơ xã hội hóa Phật giáo trở thành hiện thực?

Bên cạnh hoàn bị kiến thức Phật học và thế học, việc ứng dụng tu tập cũng quan trọng không kém. Vấn đề này ngoài việc đòi hỏi ý thức, tự giác nơi người xuất gia trẻ cần có sự động viên, hướng dẫn của những bậc tiền bối. Thực tế cho thấy, không ít những trường hợp người xuất gia trẻ lại băng hoại đạo đức và phạm hạnh khi tiếp xúc với môi trường học vấn. Mặc dù bản chất của học vấn không làm băng hoại đạo đức, nhưng vì ở đó, họ tiếp thu một lượng kiến thức thế gian và Phật học, nhưng ứng dụng hành trì các điều đã học trong kinh, luật, luận dường như là không. Lỗi không nhỏ ở đây là do chương trình đào tạo quá chú trọng về học thuật mà không chú trọng đến hành trì, khiến cho sau các năm trên ghế nhà trường, những tha thiết nguyện vọng, lý tưởng của một người hảo tâm xuất gia gần như không còn nữa. Hiện trạng tại các trường Phật học hiện nay cho thấy, các Tăng Ni sinh ngày nay thiếu vắng tinh thần tôn sư trọng đạo trong nếp sống thiền môn hoặc của một học trò nơi “cửa Khổng sân Trình” thuở xưa. Thái độ học tập của Tăng Ni sinh ngày nay rất kém. Họ ngang nhiên ra vào lớp học mà không hề quan tâm đến sự hiện diện của giáo thọ sư. Tình hình gian lận, quay cóp xuất hiện ngày càng tinh vi không khác gì sinh viên đời. Tệ hại hơn, vấn nạn kinh doanh tiểu luận, luận văn tốt nghiệp xuất hiện trong thế giới người tu đang là một vấn đề vô phương giải quyết. Các biện pháp khắc phục từ phía nhà trường hiện nay chỉ mang biện pháp nhất thời; bởi lẽ, đã cố ý gian lận thì người gian lận tìm đủ trăm phương ngàn kế để gian lận. Vấn nạn hiện tại là một bài học cho tương lai. Giáo dục ý thức, đạo đức, tu tập của người xuất gia trẻ để trong tương lai họ không đi lại vết xe cũ cần được quan tâm chú trọng. Nếu có duyên được đi học mà học theo lối kể trên có phải là “cái đãy đựng sách” không? Ðừng bao giờ nghĩ rằng, học rồi mới tu. Chẳng phải chư vị tôn túc từng dạy rằng “học đến đâu hành đến đó” hay sao? Ðang được cắp sách đến trường thì dù là cấp học nào, môi trường học nào chúng ta hãy cố gắng học cho thật tốt tại trường, giữ gìn tứ oai nghi, tứ sự phải tri túc, đừng xài phí của đàn na tín thí. Dù ở môi trường trú xứ gốc hay chỉ là nơi nương tựa tu học, Tăng Ni phải tùy thuận với vị Trụ trì và chư vị trong Ban quản chúng của trú xứ đó. Thái độ kính trên nhường dưới luôn cần được đề cao. Ngoài việc lo học bài vở còn phải ổn định các thời khóa tụng niệm, chấp hành nội quy tốt và làm tròn phận sự được giao phó. Ðặc biệt là tinh cần giữ giới. Chính vì công năng tu tập đó sẽ tạo cho người xuất gia trẻ phong thái điềm tĩnh, thanh thoát; tự thân chế tác được nguồn an lạc cho chính mình. Ðây chính là cơ sở cho sự phát khởi niềm tin, sự kính trọng đối với Tăng Ni từ Phật tử tại gia. Nếu người xuất gia trẻ ai cũng ý thức được điều trên chắc chắn họ sẽ vững bước trên con đường tu tập tự thân hoằng dương chánh pháp, lợi lạc tha nhân.

III. Lời kết

Các công tác, hoằng pháp, văn hóa, từ thiện... của Giáo hội ngày nay đang rất được được chú trọng đầu tư. Vẫn biết, mọi hoạt động đều cần thiết và có ý nghĩa riêng của nó, nhưng chúng ta biết rằng mỗi khi giáo dục bị bỏ ngõ, hay sự quan tâm đến giáo dục không được đầu tư đúng mức thì đó là một thiếu sót không nhỏ. Bản thân công tác giáo dục Phật giáo cũng có nhiều lĩnh vực, nhưng việc giáo dục người xuất gia trẻ có thể được xem là quan trọng nhất. Vì nó không chỉ đào tạo nên những tu sĩ đạo đức, chuẩn mực mà còn mang một ý nghĩa to lớn hơn là gìn giữ và xiển dương giáo pháp của đức Phật. Với ý nghĩa trọng đại trên, rất mong giáo dục Phật giáo cho người xuất gia trẻ trong tương lai được chú trọng một cách đúng mức và toàn diện.


[1] VNCPHVN, Tương Ưng Bộ Kinh I, Chương 3 – Tương Ưng Kosala, phẩm I, phần Tuổi trẻ, tr. 159.

[2] Cùng Tử, Giá mà thầy đừng thương con theo cách đó..., http://www.giacngo.vn/phatgiaotuoitre/chuyenthienthanquetla/2012/02/09/17C650/.

[3] Sđd.

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết:

Các bài viết liên quan