CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !

Tinh thần Việt hóa Phật giáo

Phật giáo khởi nguồn từ Ấn Độ vào thế kỷ thứ VI trước Tây lịch và bắt đầu lan rộng ra khỏi bờ cõi đất nước huyền bí này từ thế kỷ thứ III trước Tây lịch dưới triều đại vua Asoka. Đến đâu, Phật giáo cũng hòa quyện vào nền văn hóa của xứ sở ấy và qua hiện tượng giao thoa này, Phật giáo ít nhiều thay đổi và trở nên đa dạng ở các quốc gia. Một cách tự nhiên, Đạo Phật được thẩm thấu qua màng lọc của nền văn hóa bản địa tùy theo phong tục tập quán, cách nhận thức và cách thực hành của con người được sinh ra và nuôi dưỡng trong nền văn hóa ấy. Chính vì thế, Phật giáo mỗi nước đều có những nét đặc trưng riêng.


Ba con đường truyền giáo

Như con sông cái từ thượng nguồn Ấn Độ tuôn chảy qua nhiều lưu vực khác nhau, từ châu Á đến các châu lục khác, đạo Phật hòa quyện vào đời sống, tâm hồn và nhận thức của con người trên suốt chặng đường lan tỏa của mình. Mặc dù môi trường văn hóa bản địa làm cho đạo Phật khúc xạ và có những sắc thái đặc trưng khác nhau ở từng quốc gia, nhưng triết lý căn bản của Phật giáo vẫn là một. Do đó, Phật giáo Việt Nam được du nhập từ Ấn Độ và Trung Quốc, lại mang những đặc điểm khác biệt so với Phật giáo Ấn Độ và Phật giáo Trung Quốc cũng như Phật giáo ở các nước chịu ảnh hưởng từ Phật giáo hai quốc gia này. Trong quá trình Việt hóa, triết lý Phật giáo hòa quyện với văn hóa Việt để tạo thành một nền ‘văn hóa Phật giáo Việt Nam’ với bản sắc riêng của mình. Chính vì hòa nhập được vào nền văn hóa bản địa, Phật giáo đã bám rễ sâu chắc trong lòng người dân Việt và tồn tại qua phép thử của thời gian. Như dòng nước mềm mại và linh động, Phật giáo đã chuyển mình khi chảy qua dải đất hình chữ ‘S’ vốn tiếp giáp với nhiều nước để hội nhập và thấm nhuần trong lòng người, hồn người, phong tục tập quán và cách nghĩ, cách sống của người Việt.

Phật giáo có khả năng hòa nhập và giao thoa với văn hóa các vùng miền dễ dàng nhờ vào các đặc tính mở, linh động và dung hợp của văn hóa Phật giáo. Đúng như nhận định của giáo sư Thái Kim Lan, “Phật giáo là một nền văn hóa mở, ở đó dân tộc ta có thể tìm thấy những điều phù hợp cho mình, và sáng tạo đóng góp vào hệ thống giá trị đó.”[1] Chính vì vậy, khi Phật giáo đã thực sự bắt rễ tại mảnh đất này, người Việt nhanh chóng tiếp thu và phát triển Phật giáo theo cách của riêng mình trên cơ sở hiểu biết triết lý căn bản của Phật giáo và vận dụng các triết lý này một cách linh hoạt vào đời sống thường nhật của mình. Theo tài liệu lịch sử, những người Phật tử Việt Nam xưa nhất hiện biết được tên tuổi là Chử Ðồng Tử và vợ là công chúa Tiên Dung, tiếp nhận Phật pháp từ một vị Tsăng Ấn Ðộ có tên là Phật Quang, sống vào khoảng thời Hùng Nghị Vương thứ nhất, tức khoảng thế kỷ thứ III-II trước dương lịch.[2] Ở đây, chúng ta biết được tư tưởng mà các Phật tử này tiếp thu là tư tưởng Phật giáo quyền năng.[3] Quan niệm quyền năng này được khẳng định rõ hơn với sự ra đời của tín ngưỡng Tứ Pháp thịnh hành vào thế kỷ thứ II.[4] Điển hình của tín ngưỡng Tứ Pháp là hình tượng Ðức Phật Pháp Vân, biểu hiện của sự kết hợp hài hòa giữa văn hóa đồng bằng sông Hồng và Phật giáo đến từ Ấn Ðộ. Như vậy, ngay từ rất sớm, với sự ra đời của tín ngưỡng Tứ Pháp, Phật giáo đã bắt đầu hòa mình vào nền văn hóa Việt. Có thể nói tính linh động của văn hóa Phật giáo tạo nên sức mạnh nội tại để đạo Phật ngay từ khi du nhập Việt Nam đã không còn là một yếu tố văn hóa ngoại lai, mà trở thành nguồn văn hóa tâm linh bản địa, gần gũi với đại đa số quần chúng.

Mặc dù có một bề dày lịch sử phát triển lâu dài, các truyền thống Phật giáo Nguyên thủy cũng như Phật giáo Phát triển khi du nhập vào Việt Nam đã thay đổi rất nhiều để trở thành đạo Phật của người Việt, gọi là đạo Phật Việt Nam. Dù với tinh thần cởi mở thông thoáng hay truyền thừa nghiêm ngặt, Phật giáo không thể sao chép nguyên bản từ Phật giáo gốc, mà Phật giáo có mặt ở Việt Nam là kết quả của quá trình hội nhập, tiếp nhận và vận dụng sáng tạo triết lý Phật giáo trong môi trường xã hội, văn hóa, kinh tế và chính trị đặc trưng tại đất Việt. Trong suốt chiều dài lịch sử, đạo Phật hòa nhập và đồng hành cùng dân tộc Việt Nam từ khi du nhập đến nay và đã có những đóng góp đáng kể cho dân tộc, nhất là trong các triều đại Lý - Trần. Ðiều này cho thấy triết lý căn bản của Phật giáo hoàn toàn khế hợp với nền tảng đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục và mục đích hướng thiện của ngừời Việt chúng ta. Sự hòa quyện giữa triết lý Phật giáo và văn hóa Việt càng nhuần nhuyễn, đạo Phật Việt Nam càng thuần Việt và càng chứa đựng ít dần yếu tố ngoại lai. Một đạo Phật như thế thật gần gũi với quần chúng, có khả năng đáp ứng tâm tư nguyện vọng thiết thực của con người và mang tinh thần nhập thế rất cao.


Chùa Dâu - Ngôi chùa đầu tiên của Phật giáo Việt Nam

Trên bước đường truyền bá và hội nhập, Phật giáo luôn nương vào văn hóa bản địa để đi vào lòng người một cách tự nhiên nhất và hướng dẫn đời sống tinh thần và tâm linh để tự mỗi người nếm được hương vị giải thoát. Nếu không làm được điều này, Phật giáo sẽ không còn là Phật giáo với các tính chất thoáng mở và linh động nữa. Tuy nhiên, quá trình bản địa hóa Phật giáo cũng thăng trầm theo vận mệnh đất nước. Phật giáo vào nước ta được các thiền sư người Việt tiếp hóavà dân chúng tiếp nhận trên nền tảng của văn hóa, lịch sử và chính trị trong từng giai đoạn.Từ những năm đầu Công nguyên đến sau thế kỷ thứ X, do điều kiện lịch sử chính trị, Phật giáo Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng nề của văn hóa Trung Quốc. Các yếu tố ngoại lai bàng bạc trong các sinh hoạt của Phật giáo Việt Nam. Giữa lúc đó, dòng thiền Trúc Lâm mang đậm văn hóa Việt xuất hiện vào thế kỷ thứ XIII, như một nhu cầu tất yếu, là sự ‘Việt hóa’ Phật giáo rõ nét nhất trong lịch sử Phật giáo Việt Nam. Ðây là một ví dụ cho sự hòa quyện giữa Phật giáo và văn hóa bản địa một cách nhuần nhuyễn chưa từng thấy trước đó ở Việt Nam. Dòng thiền Trúc Lâm đã làm thay đổi diện mạo Phật giáo, góp phần làm cho Phật giáo trên đất Việt giai đoạn này trở nên hưng thịnh nhất trong lịch sử.

Dòng thiền Trúc Lâm nhìn chung có ba đặc điểm nổi bật. Thứ nhất, thiền Trúc Lâm là sự kết hợp của các dòng thiền đã có mặt ở Việt Nam từ trước đến thời điểm đó như Tỳ-Ni-Ða-Lưu-Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Ðường. Lần đầu tiên trong lịch sử, một dòng thiền phát sinh giữa lòng đất Việt đã thay thế các tông phái thiền có nguồn gốc nước ngoài. Như vậy, dòng thiền Trúc Lâm đã thống nhất được các phái thiền du nhập vào Việt Nam và hòa các phái thiền đó về một mối.[5]

Ðặc điểm thứ hai, dòng thiền Trúc Lâm đánh dấu đỉnh cao của Phật giáo trong việc phát huy tính mở, độc lập và sáng tạo trên con đường hội nhập của Phật giáo nhằm đem Phật giáo đến gần quần chúng hơn. Nói cách khác, Phật giáo ở giai đoạn này là Phật giáo quần chúng chứ không phải một tôn giáo chỉ dành cho giới Tăng sĩ. Sách Tam Tổ thực lục (năm 1304) ghi rằng “Ðiều Ngự (tức Tổ Trúc Lâm – vua Trần Nhân Tông) đi khắp mọi nẻo thôn quê, khuyên dân phá bỏ các dâm từ và thực hành giáo lý Thập thiện.”[6] Ở đây, chúng ta thấy Điều Ngự Trần Nhân Tông đã phát huy được tính linh động và nội lực của văn hóa Phật giáo. Điều này đúng như nhận định của giáo sư Thái Kim Lan rằng Ở đây, ta xét đến tính nội tại của văn hóa Phật giáo. Đó là tính độc lập rất cao. Nó phá vỡ mọi lệ thuộc, đưa con người đến đỉnh cao của chân lý và sáng tạo.”[7] Thật vậy, dòng Thiền Trúc Lâm đã phát huy được khả năng nội tại của người Việt, đem tinh túy của Đạo áp dụng vào đời để có được cuộc sống an vui hạnh phúc. Qua các tác phẩm của mình, các thiền sư thuộc dòng thiền Trúc Lâm đã đưa người thực hành tiếp cận chân lý giải thoát một cách hiệu quả nhất qua sự diễn bày bằng ngôn ngữ thuần Việt giản dị và dễ hiểu.


Phật Hoàng Trần Nhân Tông - Sơ tổ dòng thiền Trúc Lâm

Điểm nổi bật thứ ba của dòng thiền Trúc Lâm là đưa đạo Phật đi vào cuộc sống đời thường và được đông đảo quần chúng đón nhận và thực hành. Theo dòng thiền này, tu là thực hành chân lý giải thoát trong mọi cảnh ngộ, nơi những hành động bình thường của cuộc sống. Tôn chỉ tu tập của vua Trần Nhân Tông được đúc kết trong bài kệ cuối bài phú nổi tiếng ‘Cư trần lạc đạo’ rằng: “Cư trần lạc đạo thả tùy duyên, / Cơ tắc xan hề khốn tắc miên.” (Lê Mạnh Thát dịch: Ở đời vui đạo, hãy tùy duyên, / Đói cứ ăn đi, mệt ngủ liền.)

Đường lối tu tập của Ngài là coi trọng cuộc sống thực tại, cảnh tỉnh lối tu hành cực đoan, cố chấp. Ý tưởng này có thể nhận thấy rõ nét trong bài ‘Sơn phòng mạn hứng’ khi Ngài viết:“Thùy phọc cánh tương cầu giải thoát, / Bất phàm, hà tất mịch thần tiên”. (Đỗ Văn Hỷ dịch: Ai trói buộc chi, tìm giải thoát, / Khác phàm đâu phải kiếm thần tiên.) Như vậy, với những nét độc đáo của dòng thiền Trúc Lâm, các thiền sư đã sáng lập và xiển dương dòng thiền thuần Việt này với mục đích đem đạo vào đời một cách tự nhiên. Đạo Phật trong thời kỳ này mang tính hài hòa giữa các truyền thống Phật giáo đã du nhập vào Việt Nam cùng với văn hóa Việt lâu đời.

Sau triều đại nhà Trần, dòng thiền Trúc Lâm tiếp tục phát triển, mặc dù không còn hưng thịnh như trước. Song song với thiền phái thuần Việt này, các tông phái Phật giáo Phát triển có nguồn gốc Trung Quốc cũng tiếp tục tồn tại ở Việt Nam nhiều thế kỷ sau đó. Đến những năm cuối thập niên ba mươi của thế kỷ XX, Phật giáo Nguyên thủy du nhập Việt Nam góp phần tạo nên một Phật giáo Việt Nam đa sắc thái hơn. Đến giai đoạn này, trên dòng chảy lịch sử, Phật giáo Việt Nam tiếp nhận cả hai truyền thống, một có nguồn gốc từ phương Bắc (Phật giáo Phát triển) và một từ phương Nam (Phật giáo Nguyên thủy). Mặc dù đã được phần nào bản địa hóa, cả hai truyền thống này đều mang chất ngoại lai ở nhiều phương diện.

Trong bối cảnh văn hóa xã hội thời bấy giờ, Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam do Đức Tổ sư Minh Đăng Quang sáng lập vào những năm bốn mươi của thế kỷ XX là một nỗ lựcViệt hóa Phật giáo trong thời hiện đại. Sự ra đời của Đạo Phật Khất Sĩ là biểu hiện của sự phát huy tinh thần thuần Việt trong quá trình xiển dương triết lý Phật giáo. Tôn chỉ của Đạo Phật Khất Sĩ là khôi phục pháp hành du phương giáo hóa, nhằm tìm lại các giá trị truyền thống của Phật Tăng xưa để ứng dụng trong môi trường văn hóa xã hội của người Việt thời hiện đại. Đạo Phật Khất Sĩ là đạo Phật thuần túy Việt Nam, do người Việt khai sáng, nhằm hướng đến cộng đồng người Việt trên cơ sở văn hoá truyền thống bản địa. Sự nỗ lực Việt hóa Phật giáo của Đạo Phật Khất Sĩ có thể được tìm thấy qua những đặc điểm nổi bật riêng của tông phái này, cụ thể ở các điểm sau.


Tổ sư Minh Đăng Quang - Tổ sư khai sáng Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam

Thứ nhất, trong Đạo Phật Khất Sĩ, chúng ta tìm thấy sự Việt hóa về ngôn ngữ và phong cách. Khất Sĩ sử dụng tiếng Việt làm phương tiện truyền bá Chánh pháp để giáo pháp dễ dàng đi vào lòng quần chúng. Sử dụng “địa phương ngữ, chớ có đi quá xa ngôn ngữ thường dùng[8] là lời Đức Phật khuyến tấn các hàng đệ tử trong công việc hành đạo. Tùy quốc gia, địa phương, phong tục văn hóa bản địa mà chúng ta thích ứng và tuyên dương Chánh pháp bằng ngôn ngữ bản xứ, giúp mọi người có thể hiểu được giáo lý mầu nhiệm của Đức Phật.

Đặc điểm thứ hai, Đạo Phật Khất Sĩ thể hiện sự nỗ lực tích hợp những ưu điểm của hai truyền thống Nguyên thủy và Phát triển vào trong pháp hành của mình cũng như trong nội dung giáo lý. Đạo Phật Khất Sĩ duy trì hạnh khất thực theo truyền thống Phật Tăng xưa mà chư Tăng Nguyên thủy các nơi vẫn đang hành trì; đồng thời thọ dụng thức ăn chay theo Phật giáo Phát triển là một nỗ lực trong sự kết hợp những điểm ưu việt của hai truyền thống Phật giáo đang có mặt tại Việt Nam. Về giáo lý, Đức Tổ Sư Minh Đăng Quang kết hợp giáo lý giữa hai truyền thống, vận dụng triết lý Phật giáo một cách linh hoạt, sáng tạo, cùng với các yếu tố văn hóa bản địa được thể hiện trong các bài giảng của Ngài được kết tập trong bộ Chơn Lý.

Đặc điểm nổi bật thứ ba trong Đạo Phật Khất Sĩ là Đức Tổ sư nỗ lực chấn hưng Tăng đoàn, khuyến khích người xuất gia nghiêm trì giới luật, sống đời phạm hạnh, nêu cao gương giải thoát cho đời, hướng dẫn quần chúng sống đời đạo đức, dần dần bước lên từng nấc thang giải thoát bằng hạnh ‘khất sĩ.’ Đức Tổ sư nhấn mạnh rằng chỉ có chấn chỉnh Tăng đoàn thì mới phục hưng được Phật giáo – “Chỉ có tất cả chư Tăng hiệp lại, mới lập đại đồng cứu thế nổi thôi.[9]

 

tsmdq38

Tổ sư Minh Đăng Quang cùng chư Trưởng Lão trên đường hành đạo

Với ba đặc điểm nổi bật căn bản vừa nêu, lấy hạnh khất thực du phương làm phương tiện để thực hiện nguyện độ sanh, Đạo Phật Khất Sĩ cố gắng đưa một đạo Phật thuần túy Việt Nam vào lòng người Việt trên nền văn hóa đặc thù của người Việt. Phát huy giá trị nội tại của văn hóa Phật giáo, dung hòa những giá trị nền tảng có sẵn của văn hóa bản địa, Đạo Phật Khất Sĩ đã giới thiệu một đạo Phật Việt Nam với hình thức và nội dung mới trên sự tích hợp các truyền thống vốn có và đưa vào đời sống người Việt một cách tự nhiên.

Như vậy, nhìn lui về quá khứ, chúng ta nhận thấy khi Phật giáo du nhập vào một quốc gia nào đó, Phật giáo không còn thuần nhất tính chất ban đầu như đạo Phật tại Ấn Ðộ mà đã được khúc xạ khi thẩm thấu qua nền văn hóa bản địa. Nhờ phát huy các đặc tính của văn hóa Phật giáo như tính mở, linh động, dung hợp và sáng tạo, Phật giáo thuần Việt như dòng thiền Trúc Lâm gần 10 thế kỷ trước hay Đạo Phật Khất Sĩ trong thời hiện đại đã góp phần đáng kể trong việc đưa triết lý Phật giáo thâm nhập sâu rộng trong quần chúng. Tinh thần Việt hóa này là giá trị văn hóa nội tại và là giá trị văn hóa phi vật thể của dân tộc Việt Nam, của đạo Phật Việt Nam, có khả năng đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần và tâm linh của quần chúng ở từng thời đại, trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể.

Thư mục tham khảo:

Di Linh. Luy Lâu, Thượng Nguồn Dòng Sông Phật Giáo Đông Á.http://www.sugia.vn/index.php?mod=news&cpid=2&nid=141&view=detail (28/12/2009).

Lê Mạnh Thát. Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam, tập I. Huế: Nxb. Thuận Hóa, 1999.

Minh Đăng Quang. Chơn Lý. TP. Hồ Chí Minh: Nxb. Thành Phố Hồ Chí Minh, 1998.

Nguyễn Lang. Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, tập I. Hà Nội: Nxb. Văn học, 1979.

Thái Kim Lan. Văn Hóa Phật Giáo Là Nền Tảng Của Văn Hóa Việt Nam. http://www.lieuquanhue.com.vn/index.php/60/4046.html (28/12/2009)

Thích Minh Châu. Trung Bộ Kinh, tập III. TP. Hồ Chí Minh: Viện Nghiên Cứu Phật học Việt Nam, 1992.

Thích Nguyên Tạng. Phật Giáo Tại Việt Nam. http://www.daophatngaynay.com/viet/pgvn/su/001-pgvn1.htm (17/10/2000)

Trần Lan Chi. Tín Ngưỡng Thờ Tứ Pháp Tại Đồng Bằng Bắc Bộ. http://phapluanonline.com/index.php?option=com_content&view=article&id=1142:tin-ngng-th-t-phap-ti-ng-bng-bc-b-&catid=53:kientruc-nghethuat&Itemid=90(26/12/2009)



[1]Thái Kim Lan, Văn hóa Phật Giáo Là Nền Tảng Của Văn Hóa Việt Nam, http://www.lieuquanhue.com.vn/index.php/60/4046.html

[2] Lê Mạnh Thát, Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam, tập 1 (Huế: Nxb. Thuận Hóa, 1999).

[3]Lĩnh Nam Trích Quái ghi lại ‘Nhất dạ trạch truyện’ rằng, “thời Hùng Vương, núi Quỳnh Vi, có Đồng Tử lên thảo am. Trong am có nhà sư tên Phật Quang. Đó là người Thiên trúc, tuổi hơn 40, truyền pháp cho Đồng Tử một cái nón và một cây gậy, nói rằng: “Linh dị và thần thông ở đây cả”. Đồng Tử đem đạo Phật truyền cho Tiên Dung. Vợ chồng Tiên Dung bèn học đạo. Đến buổi chiều ngày trở về, giữa đường cần làm nơi tá túc, bèn dựng gậy che nón, đến canh ba thì thành quách lâu đài, màn gấm màn the, kim đồng ngọc nữ, tướng sĩ thị vệ đầy cả sân chầu...”. (Xem Lê Mạnh Thát, Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam, tập 1, Nxb. Thuận Hóa, 1999).

[4]Trần Lan Chi, Tín Ngưỡng Thờ Tứ Pháp Tại Đồng Bằng Bắc Bộ,

http://phapluanonline.com/indexphp?option=com_content&view=article&id=1142:tin-ngng-th-t-phap-ti-ng-bng-bc-b-&catid=53:kientruc-nghethuat&Itemid=90; Di Linh. Luy Lâu, Thượng Nguồn Dòng Sông Phật Giáo Đông Á,http://www.sugia.vn/index.php?mod=news&cpid=2&nid=141&view=detail

           

[5] Điều này cũng đã được Thích Nguyên Tạng phát biểu trong Phật Giáo Tại Việt Nam, http://www.daophatngaynay.com/viet/pgvn/su/001-pgvn1.htm

[6]Nguyễn Lang, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, tập I (Hà Nội: Nxb. Văn học, 1979)

[7] Thái Kim Lan, Văn Hóa Phật Giáo …, http://www.lieuquanhue.com.vn/index.php/60/4046.html

[8] Thích Minh Châu. Trung Bộ Kinh, tập III ( TP. Hồ Chí Minh: Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, 1992), 536.

[9] Minh Đăng Quang. Chơn Lý (TP. Hồ Chí Minh: Nxb. Thành Phố Hồ Chí Minh, 1998), 323.

 

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết:

Các bài viết liên quan