CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !

Giáo lý Khất sĩ - Một lẽ sống tương quan

Mọi sự vật được hiện hữu trong cuộc đời này không có gì là ngẫu nhiên, vô tình hay dựa trên một cá thể độc lập nào để hình thành nên, mà phải có rất nhiều và nhiều lắm những nhân tố để tạo nên chính nó. Vì vậy trong kinh Tạp A-hàm, đức Thế Tôn dạy: “Cái này có nên cái kia có, cái này sinh nên cái kia sinh; Cái này không nên cái kia không, cái này diệt nên cái kia diệt”. Sanh diệt, có không của vạn pháp vốn tương tức lẫn nhau, không thể tách biệt. Giáo lý Khất Sĩ vốn được đức Tổ sư tìm học, dung hòa giữa hai truyền thống: Nam và Bắc truyền Phật giáo để hình thành một lối sống theo tâm nguyện: “Nối truyền Thích Ca Chánh Pháp”, thực hiện con đường của Phật Tăng xưa. Vì thấu rõ được lẽ sống tương quan, tương duyên trong cuộc đời, nên Ngài có một cuộc sống du phương hành đạo thật là an tịnh và giải thoát. Ngài nói: “Giáo lý ăn xin là sự chan hòa cho nhau, tức là công lý võ trụ, là pháp bảo, hay chơn lý, triết lý nhiệm mầu. Người này nấu cơm, người kia ăn. Người khác may áo, người nọ mặc. Kẻ này cất nhà, kẻ kia ở. Kẻ khác lo thuốc cho kẻ nọ đau” (Chơn lý “Khất Sĩ”).

Bởi hai chữ “Khất sĩ” đã nói lên được chân lý, triết lý cuộc sống ấy. Trong đời, mỗi người có một hoàn cảnh và thái độ chấp nhận cuộc sống khác nhau, không ai giống ai cả. Nhưng phần nhiều thì ai ai cũng thích có một cuộc sống sung túc về vật chất, tiền tài, danh vọng, quyền thế… để thỏa mãn những ham muốn đã tiềm ẩn bấy lâu trong một con người phàm phu tục tử. Thế mà, lại có những người chọn cho mình một đời sống hoàn toàn trái ngược, đi ngược lại với dòng đời, chối bỏ hết những gì mà thế gian ưa thích, sống đời tri túc thiểu dục. Đó là người Khất Sĩ. Danh từ “Khất Sĩ” là một trong ba nghĩa được dịch từ chữ Tỳ-kheo, nghĩa là một vị xuất gia sống đời phạm hạnh, gìn giữ 250 giới. Trong Chơn Lý “Khất Sĩ”, đức Tổ sư có định nghĩa: Khất có nghĩa là xin, sĩ là người học trò. Khất Sĩ là người học trò khó đi xin ăn để tu học. Có hai thứ xin: (1)   Xin vật chất (vạn vật) để nuôi thân; 2) Xin tinh thần (các pháp) để nuôi trí.

Đồng thời cũng là việc đi xin, nhưng người Khất Sĩ khác với người khất cái. Người khất cái là xin vì lòng tham, ai cho bao nhiêu cũng nhận, chỉ biết tư riêng ích kỷ. Còn người Khất Sĩ đi xin ăn là để làm gương cho đời, giáo hóa những kẻ hữu duyên. Chính vì thế “Giá trị của khất sĩ với khất cái khác nhau rất xa, một trời một vực. Kẻ khất cái tàn tật mới đi xin, tham sân si tội ác chẳng tiêu trừ. Mà trái lại khất sĩ là kẻ thông minh trí thức, hiền lương mạnh khỏe…” (Chơn Lý “Y Bát Chơn Truyền”). Việc đi xin của người Khất Sĩ lạ hơn các cách xin nào hết, đi xin nhưng cho nhiều không nhận, cho tiền không lấy, ăn một ngày một bữa còn dư bao nhiêu cho hết, không cất giữ chứa để. Bởi lẽ, người xin ăn này không phải do lòng tham hay tư riêng ích kỷ mà đi xin, mà vì diệt trừ bản ngã của riêng mình, phá xan tham của người cho mà xin. Hình ảnh người Khất sĩ nghèo là sợi dây vô hình để kết chặt tình thân giữa người và người, đi đến đâu cũng tuyên dương giáo lý từ bi, bình đẳng, làm gương đạo đức cho đời. Từ đó, ai nấy đều cảm nhận niềm vui mà quên đi thân thế, quyền lực của mình. “Chỉ có Khất Sĩ mới là trung đạo giữa vua quan giàu sang, với tội dân nghèo khó”. Rồi nhờ vào sự giữ giới mà thân tướng được trang nghiêm; tánh tình lại nhu hòa đức độ, dễ dàng gần gũi được với mọi người, hầu đem đạo vào đời để giáo hóa chúng sanh. Vì “giáo lý của Khất Sĩ là trung đạo, chánh đẳng chánh giác vô thượng, cốt yếu để đem lại chữ hòa cho muôn loài, xin cái cao ban vào cái thấp, để tạo sự bằng phẳng giữa cõi đời. Đi xin để kêu gọi lòng từ bi hỷ xả, đức từ ái cho nhơn loài,… không phải vì đói khát sợ chết mà xin, người đi xin vật chất là làm cớ sự để bố thí tinh tấn phước lạc, nhắc nhở độ khuyên người. Đi xin tức là bố thí pháp vậy. Mỗi ngày đi xin một lần, lập một công đức dẫn đạo ban hành, dìu dắt chúng sanh, đền ơn chư Phật lưu truyền chánh pháp”. (Chơn lý “Khất Sĩ”)

Muốn thực hành hạnh đi xin như người Khất sĩ, không phải ai ai cũng làm được. Tuy thấy việc thì rất giản đơn, nếu ai đó chịu khó một chút thì cũng có thể làm được, nhưng để hiểu và hành cho thấu triệt hết mục đích, ý nghĩa của việc làm cao quý này thì không phải là việc dễ làm tí nào. Thông thường chúng ta chỉ nghĩ một cách đơn giản rằng ôm bát đi xin là chỉ xin ăn rồi thôi, chứ chúng ta không biết rằng đi xin là một phương pháp quán niệm, tu tập tự thân, dứt trừ tham chấp và còn làm gương tinh tấn, giáo hóa độ đời. “Khất Sĩ đi xin để răn lòng tội lỗi. Đi xin để đền nghiệp cũ, đặng sớm nghỉ ngơi, mau hết vốn lời. Đi xin để nhịn nhường bố thí của cải lại cho chúng sanh. Đi xin để làm gương nhơn quả tội lỗi cho chúng sanh ngừa tránh. Đi xin để đừng phạm tội lỗi mới. Đi xin để có thì giờ ăn học. Đi xin để giáo hoá chúng sanh. Đi xin để không tự cao dốt nát, danh lợi, sắc tài. Đi xin để giải thoát phiền não, và để un đúc tâm hồn, rèn luyện chí hướng, tập sửa bản năng. Có đi xin mới có từ bi hỷ xả, trí tuệ thông minh, cõi lòng mát dịu, rộng mở bao la, lặng yên sạch sẽ”. (Chơn lý “Khất Sĩ”)

Ngoài việc xin vật chất (thức ăn) để nuôi xác thân giả tạm này, người khất sĩ còn xin một điều quan trọng hơn rất nhiều, đó là xin tinh thần (giáo pháp) để nuôi tâm trí. Cái ý nghĩa xin tinh thần tức là sự học hỏi, thực hành và hiểu biết. Bởi vì muốn tồn tại và phát triển một cách thăng bằng ngay trong cuộc sống này, con người ta không phải cứ lo chạy theo vật chất, danh lợi của cuộc đời là được. Bên cạnh đó, tinh thần đạo đức là một phần không kém quan trọng. Cho nên có một triết gia đã từng nói: “Chúng ta có thể sống một ngày không cơm áo, nhưng không thể sống trong một phút bị bế tắc tinh thần”. Như một con chim kia, nó không có thể nào bay đến một phương trời cao rộng hay là muốn đến chỗ nào mà nó cảm thấy muốn, nếu nó chỉ có một cánh hoặc bị mất thăng bằng do thương tích. Người Khất sĩ không xem trọng vật chất, nên mới có thể chuyên tâm tu tập, để phát triển trí tuệ. Người Khất sĩ tuy nghèo nhưng mà ham học, học là để có trí nhận biết đúng sai, thiện ác, nhằm hỗ trợ cho con đường tu tập. Sự học của người Khất sĩ cũng khác lắm, học không phải ở một trường một lớp, một bài vở… mà học “khắp nơi cùng xứ, học nơi thầy, nơi bạn, nơi trò, học với tất cả chúng sanh, vạn vật, các pháp, học với Phật Pháp Tăng ba đời, học từ xóm làng tỉnh xứ, đến khắp các xã hội. Thế giới chúng sanh, học nơi chữ viết, nghe, lời nói, học bằng lo lắng nghĩ ngợi, học nơi sự thực hành, học nơi cỏ, cây, thú, người, trời, Phật, đất, nước, lửa, gió”. (Chơn lý “Khất Sĩ”)

Khất sĩ là người học trò đang học, nên lúc nào trong tâm tưởng cũng phải nhớ bổn phận trách nhiệm của mình. Lúc nào cũng phải biết ngoan hiền và luôn hạ lòng tự cao dốt nát, đặng rèn nuôi chí nhẫn, và xem ai cũng như là người thầy của mình. Nếu có cách nhìn như thế, thì người học trò này sẽ có nhiều kinh nghiệm và sớm thành tựu được hoài bão của mình. Trong việc xin, hay việc học của người Khất sĩ là mối tương quan hết sức mật thiết và đã thể hiện đầy đủ phương pháp tu tập tự lợi và lợi tha ngay trong cuộc sống này. Vì, “xin ấy rồi lại cho. Học đây rồi lại dạy. Xin phẩm thực, để nuôi thân giả tạm, Cho sự thiện lành phước đức, để bảo giữ sự sống dài lâu. Học bằng cách lượm lặt phương pháp khắp nơi, rút nhiều kinh nghiệm. Dạy là đem kết quả thật hành đặc điểm, chỉ lại cho người! Cái xin, cái học, cái dạy, cái cho, hai pháp nương sanh, mở ra một con đường xán lạn cho tất cả kẻ về sau tiến bước”. (Chơn lý “Hòa Bình”)

Nhiều người vì lòng tự ngã quá nặng, hay cái tôi quá lớn, trong một giây phút buồn phiền nào đó, họ đã thốt lên rằng: “Tôi sống không cần ai giúp đỡ, không có mọi người tôi sống cũng được”. Nếu cho họ suy nghĩ lại, thử hỏi: Họ có sống được hay không? Họ không biết rằng, cuộc sống này vốn là duyên sinh. Tất cả chúng ta có mặt ở đây là đang nương tựa vào nhau để tồn tại và phát triển, dù đó là trực tiếp hay gián tiếp. Vậy mà ta đâu có biết rằng: “Lẽ sống ở đời không ai duy kỷ được: nào ai có thể tự sống riêng biệt lấy mình, mà không cần nhờ nơi tất cả? Chính thân ta đây, đã do biết bao người tạo sanh và nuôi dưỡng: Một điểm tinh cha, một chút huyết mẹ, hòa hiệp thành hình, từ lúc lọt lòng, đã chịu ơn muôn loại: Thức ăn, sự mặc, chỗ ở thuốc men, các việc nhu cầu .v..v há phải chỉ một đôi người đảm nhận? Vạn vật chung quanh ta lúc nào cũng đỡ nâng đùm bọc, ta là kẻ quá nhỏ nhen, đang xin nhờ nơi tất cả, mà mỗi chúng ta không ai tự mình có sẵn món chi được vậy”. (Chơn lý “Hòa Bình”)

Nếu nhìn qua giáo lý duyên sinh thì chúng ta thấy rằng, ngay chính trong hình hài bé nhỏ của ta, đã có sự tiềm ẩn những tế bào của cha, của mẹ và tất cả mọi người. Thân thể của ta là một phần của cha mẹ, không phải từ thân của mẹ mà có ta hay sao? Đó là nhân tố trực tiếp và còn nhiều nhân tố gián tiếp đã hỗ trợ cho ta trong cuộc sống này, không sao kể hết được. Cho nên có nhà thơ đã cảm xúc và thốt lên rằng: “Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy, ta có thêm ngày nữa để yêu thương”. Thế mà có những lúc ta lại vô tình phủ nhận tất cả những gì mà mọi người và cuộc sống đã ban tặng cho ta.

Cho nên giáo lý Khất Sĩ thể hiện một cuộc sống tương quan một cách triệt để, xem ta và mọi người không khác, luôn sống với tinh thần vô trụ, vô chấp, không ta, không của ta. “Ta sống giúp cho tất cả, và tất cả sống giúp cho ta, như là một thân thể to lớn liền lạc, như bàn tay làm việc chùi lau cho cả cơ thể, chớ nó không tự rờ rẫm săn sóc lấy nó được, con mắt ngó xem ra khắp nơi, mà không hay thấy nó, miếng ăn cho bao tử nuôi thân, chớ không bao giờ giữ lại miếng ăn nơi mồm ngậm…” (Chơn lý “Khất Sĩ”).

Với những ai hiểu rõ giáo lý duyên sinh, cuộc sống tương quan của người Khất Sĩ với đại đồng vũ trụ rồi, thì sẽ có một cuộc sống an lành, giải thoát cái tôi ngay trong hiện tại. Luôn thấy rằng, mọi vật, mọi việc đều do nhiều nhân, nhiều duyên kết hợp mà thành. Từ đó sẽ không còn thấy rằng sự việc này, sẽ không bao giờ hoàn thành được, khi thiếu sự có mặt của mình. Hay nói rằng: Việc đó là do một mình tôi làm nên… Chúng ta luôn nhớ rằng: Cuộc sống chỉ vui và có ý nghĩa, khi ta thấu hiểu được cuộc sống và có sự cảm thông với mọi người chung quanh.

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết:

Các bài viết liên quan