CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !

Tư cách và trách nhiệm của vị trụ trì trong việc thâu nhận và giáo hóa đệ tử xuất gia

Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Kính bạch Chư Tôn đức,

Nhân mùa an cư kiết hạ PL.2555 – DL.2011, Hệ phái tổ chức khoá “Trao đổi kinh nghiệm trụ trì”, và dành cho Ni giới một buổi để trình bày những tâm tư nguyện vọng và kinh nghiệm tu học hành đạo của mình, đây thật là một niềm vinh dự cho Ni giới. Xin thành kính cảm niệm ơn đức quý Ngài và xin phép được trình bày đề tài TƯ CÁCH VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA VỊ TRỤ TRÌ TRONG VIỆC THÂU NHẬN VÀ GIÁO HOÁ ĐỆ TỬ XUẤT GIA như sau:

1. Trụ Pháp Vương gia, trì Như Lai tạng

Trụ trì là danh từ của Phật giáo, vốn có nghĩa là an trụ, duy trì, nắm giữ, hộ trì Phật pháp, sau đó có nghĩa là vị Tăng hay Ni đứng đầu một cơ sở tự viện, có trách nhiệm giữ gìn, quản lý cơ sở sinh hoạt tu hành vừa gánh vác trách nhiệm hộ trì vừa truyền bá Phật pháp.

Với ý nghĩa đã trình bày ở trên, vị trụ trì là những người nhận lãnh vai trò quan trọng trong sứ mạng tiếp Tăng độ chúng, hoằng dương Chánh pháp, khiến cho mọi người được thấm nhuần trong giáo pháp của Đức Phật và chuyển hoá tâm linh trên con đường tu học giải thoát, tạo dựng một đời sống an lạc và hạnh phúc cho muôn loài.

Vị Trụ trì phải lấy tinh thần phụng sự Đạo Pháp, dân tộc, hộ trì Tam bảo làm động cơ thúc đẩy trên bước đường tiến tu đạo nghiệp, như lời dạy của Đệ nhất Ni Trưởng:

Nguyện xin hiến trọn đời mình

Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương

Hoặc như cổ đức nói:

“Nguyện đem thân tứ đại này

Tô bồi Đạo Pháp dựng xây Đạo tràng

Cúng dường Tam bảo nghiêm trang

Làm cho Đời Đạo ngày càng đẹp tươi”.

Trụ trì là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn, trách nhiệm rất nặng nề, phải nỗ lực tu học tinh chuyên mới hoàn thành sứ mạng cao cả của đức Thế Tôn giao phó là “Trụ Pháp Vương gia, trì Như Lai tạng” hoặc “Tác Như Lai sứ, hành Như Lai sự”. Có an trụ trong ngôi nhà Phật Pháp, giữ gìn hộ trì Chánh pháp của Như Lai mới có thể làm cho Phật pháp được xương minh trường tồn.

Trong bối cảnh đất nước hội nhập và phát triển, Phật giáo đang đứng trước những thể thức đổi mới, thì vị trụ trì càng phải chú trọng trách nhiệm của mình hơn để thích ứng với hoàn cảnh xã hội mới.

Vị trụ trì hiện nay phải có trình độ nhất định về Phật học và thế học, như cổ đức nói “tu có học mới rạng ngời chánh pháp, học có tu mới lợi đạo ích đời”. Sự học rất quan trọng trên bước đường hoằng dương chánh pháp trong thời đại xã hội đang phát triển, và quan trọng hơn nữa là sự tu tập, trau dồi đạo đức, phẩm hạnh của mình, nên cổ đức có câu : “Người học đạo thì giữ gìn tùng lâm, tùng lâm thì giữ gìn đạo đức. Người trụ trì nếu không có đạo đức, thì tùng lâm sẽ suy tàn vậy”.([1])

2. Thượng cầu Phật đạo, hạ hoá chúng sanh

Một trong những bổn phận của người xuất gia là “Thượng cầu Phật đạo, hạ hoá chúng sanh”, phải phát Bồ đề tâm rộng lớn mạnh mẽ, luôn nỗ lực trau dồi đời sống phạm hạnh thanh tịnh, để thăng hoa về mặt tâm linh trên bước đường tu học, giải thoát và làm nơi quy hướng cho đệ tử tại gia và xuất gia. Lúc nào cũng tâm tâm nguyện nguyện vì lợi ích chúng sanh, phụng sự chúng sanh là cúng dường chư Phật. Muốn thực hiện bổn phận ấy, vị Tỳ kheo phải có đủ tư cách làm thầy. Do đó, Đức Phật quy định Tỳ kheo phải đủ 10 hạ, Tỳ kheo ni phải đủ 12 hạ mới được thu nhận đệ tử, độ người xuất gia.

3. Tư cách và điều kiện làm Thầy

Nói một cách cụ thể, một vị Tỳ kheo có đủ tư cách làm thầy khi vị ấy hội đủ 5 điều kiện mà các Luật bộ quy định như sau:

1. Tuổi đạo phải đủ mười hạ.

2. Phải am tường giới luật, biết rõ các trường hợp trì và phạm, khinh và trọng.

3. Phải có kiến thức văn hoá rộng rãi.

4. Phải có kinh nghiệm tu tập đủ khả năng giải quyết những tâm tư khúc mắc của đệ tử.

5. Phải có khả năng đoạn trừ tà kiến cho đệ tử.([2])

Nói tóm lại, làm thầy phải biết giáo dục dạy dỗ đệ tử về các mặt giới, định và tuệ, là 3 môn học quan trọng trong quá trình tu tập giác ngộ giải thoát. Do tu tập Giới định tuệ mà được dứt trừ vô minh phiền não, không còn đọa lạc trong 3 cõi, thành tựu được trí huệ giải thoát. Người xuất gia nếu không tu tập 3 môn học này không xứng đáng là người xuất gia. Giới định tuệ là ba điều không thể tách rời mỗi khi đề cập đến giáo lý Phật giáo. Cho nên, Đức Phật dạy:

Trí huệ được giới hạnh làm cho thanh tịnh, giới hạnh được trí huệ làm cho thanh tịnh. Chỗ nào có giới hạnh, chỗ ấy có trí huệ; chỗ nào có trí huệ, chỗ ấy có giới hạnh; người có giới hạnh nhất định có trí huệ; người có trí huệ nhất định có giới hạnh. Giới hạnh và trí huệ được xem là tối thắng ở trên đời. ([3])

Một câu kinh Pháp Cú do Đệ nhất Ni trưởng phổ thơ đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của Giới định huệ

Không thiền định, không sanh trí tuệ,

Trí tuệ không, chẳng thể định thiền.

Người nào gồm đủ nhơn duyên,

Định thiền, trí tuệ, gần bên Niết bàn.

(Kinh Pháp Cú, 372)

Tổ sư dạy: “Vậy thế thì giới luật là y bát, là Khất Sĩ. Khất Sĩ là định huệ. Nếu Khất Sĩ không có tu về định huệ dầu mà có trì giới không đi nữa, cũng chưa gọi được trọn là Khất Sĩ, vì chữ “sĩ” đây là sự học đạo lý với quả linh, bằng pháp tu định huệ. Tu tức là học, hay học tức là tu, bởi tại hành mà dạy sanh ra học. Tu học định huệ là do giới y bát Khất Sĩ. Như vậy là trong tiếng Khất Sĩ, đủ gồm cả giới định huệ”. ([4])

Giới định tuệ quan trọng như vậy, cho nên nếu thấy yếu kém về các mặt đó thì bản thân vị trụ trì cần phải tự nỗ lực tinh tấn tu tập thêm giới hạnh, thiền định và trí huệ, chứ không nên chỉ vì mong muốn có người quét chùa, tụng kinh, bái sám, làm công tác phục dịch trong tịnh xá… mà thâu nhận đệ tử một cách cẩu thả vội vàng, vô trách nhiệm, tạo thành sự rối loạn trong chúng đệ tử, mất kỷ cương, nề nếp trong ngôi đạo tràng tịnh xá, làm tổn thương Đạo pháp.

Người đệ tử khi từ bỏ tình thương yêu của cha mẹ, người thân trong gia đình, bước chân vào đạo phát tâm xuất gia, nương theo thầy học đạo, là gởi trọn cả cuộc đời của mình cho thầy, đặt tất cả niềm tin của mình vào thầy:

Bước đầu bổn phận làm trò

Cả thân tâm trí dâng cho người thầy

Mặc người uốn nắn chuyển xoay

Đặng mình diệt hẳn riêng tây ý xằng.

                                                            (Kệ Ý – Luật Nghi Khất Sĩ)

Chính vì vậy, vị thầy phải đem hết tâm từ bi, vị tha, dùng đủ phương tiện thiện xảo để giáo dưỡng hướng dẫn dạy dỗ đệ tử trên con đường tiến tu giới thân huệ mạng. Người trò có hư hay nên, một phần lớn là do sự giáo dưỡng của người Thầy. Người xưa nói: “nghiêm sư xuất cao đồ”, hoặc “minh sư xuất cao đồ”, người thầy dạy dỗ nghiêm túc, khéo léo thì sẽ đào tạo những người đệ tử đạo hạnh giỏi giang. Cho nên, bổn phận và trách nhiệm của người thầy thật vô cùng quan trọng vậy.

Như Ngài Viễn Công nói: “Trụ trì có ba điểm cần thiết là “Nhân”, “Minh” và “Dũng”.

Nhân nghĩa là thực hành đạo đức, phát triển việc giáo hoá, an trên dưới, làm đẹp lòng người đi kẻ lại.

Minh là giữ lễ nghĩa, biết an nguy, xét hiền ngu, biện phải trái.

Dũng nghĩa là phải quả cảm với công việc, trừ kẻ gian, bỏ kẻ nịnh.

Nhân mà không có minh, như người có ruộng chẳng cày. Minh mà không có dũng, như có lúa non chẳng làm cỏ. Dũng mà chẳng có nhân, cũng như chỉ biết cắt cỏ mà chẳng biết gieo hạt giống. Ba điểm thiết yếu như trên mà đầy đủ, thời chốn tùng lâm hưng thịnh, thiếu một thời suy, thiếu hai thời nguy, thiếu tất cả thời cái đạo của trụ trì tất hỏng vậy ([5])

Viễn Công nói:

“Phận trụ trì,

Nhân, Minh và Dũng khắc ghi trong lòng.

Nhân là đạo đức thực hành,

Hoằng khai giáo pháp nhơn sanh đẹp lòng.

An trên thuận dưới thong dong,

Dưới trên vui vẻ tâm không nhẹ nhàng.

Minh là lễ nghĩa nghiêm trang,

Xét xem phân biệt nguy an dở hiền.

Biện minh phải trái nghịch duyên.

Tâm an thanh tịnh não phiền tránh xa.

Dũng là trừ kẻ gian tà,

Tâm hồn quả cảm yêu ma đoạn trừ.

Nhân không Minh, lỗi đạo tu,

Có ruộng chẳng cấy lu bù cỏ hoang.

Minh mà không đúng, lỗi đàng,

Lúa non mới lớn không ngăn cỏ đầy.

Dũng không Nhân, uổng sức dày,

Như người cắt cỏ chẳng hay gieo trồng.

Ba điều thiết yếu thành công,

Từng làm rạng rỡ hưng long với đời.

Cả ba khi thiếu một rồi,

Tức là suy yếu đạo thời lung lay.

Thiếu hai nguy hiểm tràn đầy,

Thiếu ba thì đạo trụ trì đã hư”.

4. Quan tâm vừa tinh thần lẫn vật chất

Người thầy phải hướng dẫn người đệ tử cả hai mặt vật chất lẫn tinh thần. Trong luật có nói: “Bậc thầy phân làm bốn hạng:

1.     Có pháp lại có cơm áo.

2.     Có pháp mà không có cơm áo.

3.     Có cơm áo mà không có pháp.

4.     Không có pháp cũng không có cơm áo.

Vị thầy lý tưởng dĩ nhiên là vị thầy đã có pháp để học, lại có cơm áo để dùng. Đệ tử theo hầu dưới toà của vị thầy ấy chẳng nên ly khai. Nếu như vị thầy có Phật pháp để học mà không có cơm áo để dùng cũng không nên ly khai, vì Phật pháp khó được, cơm áo dễ được. Nếu như vị thầy chỉ có cơm áo nhưng không có Phật pháp thì chẳng đủ tư cách làm thầy. Đến như vị Thầy không có Phật pháp cũng không có cơm áo, quyết không nên theo thờ người ấy làm thầy.([6])

Trong Kinh Trung bộ, Đức Phật dạy: Chư Tỳ-kheo, ở đây, Tỳ-kheo sống gần một người nào, Tỳ-kheo sống gần người ấy, các niệm chưa được an trú được an trú… chưa được chứng đạt được chứng đạt, và những vật dụng cần thiết cho đời sống mà một người xuất gia cần phải sắm đủ, như y phục, đồ ăn khất thực, sàng toạ, dược phẩm trị người bệnh, những vật dụng này kiếm được một cách không khó khăn…. Chư Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ấy phải trọn đời theo sát người này, không được bỏ đi, dầu cho có bị xua đuổi.”([7])

Người xuất gia thời nay không giống thời xưa, do hoàn cảnh tu học khác với lớp người trước. Có thể là xã hội càng ngày càng hiện đại hoá, điện tử hoá. Vi tính, điện thoại di động, mạng lưới internet giúp cho việc thông tin trên thế giới càng ngày càng phổ cập, nhanh chóng, cũng giúp cho việc hoằng pháp càng phổ biến được sâu rộng và tiện lợi hơn, nhưng cũng chính vì đó làm cho một số Ni trẻ càng ngày càng đắm sâu vào những tiện nghi vật chất mà quên đi việc tu học cần phải thanh bần đơn giản. Vị thầy phải biết khế thời, khế lý, khế cơ trong việc giáo dưỡng để giúp cho Ni chúng vừa tiếp cận với những thành quả của khoa học kỹ thuật, vừa nhắc nhở đệ tử đừng quên phương châm "Tam thường bất túc", nghĩa là ba sự ăn, mặc và ngủ không được quá thừa thãi, sung túc. Phải ít muốn, biết đủ, sống giản dị nhằm đoạn trừ lòng tham, dốc tâm tu học hầu đạt đến an lạc thật sự.

Hai phương diện tinh thần và vật chất, vị trụ trì đều quan tâm lo lắng cho đệ tử, sẽ tạo cho mối quan hệ thầy trò trong nếp sống thiền môn trên nền tảng giải thoát giác ngộ càng có ý nghĩa hơn.

Như Ngài Diễn Tổ nói: “Việc lớn của trụ trì cần ở “Huệ” và “Đức”, phải đầy đủ cả hai phương diện, không thể bỏ thiếu một. Có ơn huệ mà không có đạo đức thời người chẳng kính, có đức mà không có ơn thời người chẳng nhớ. Nếu biết làm ơn tất có sự mong nhớ, lại thêm có đức để cùng giúp lẫn nhau, thời cái ơn đã toả ra, tất đủ để an trên dưới, dụ dẫn bốn phương. Nếu thấy đức là đáng kính, lại thêm vào đó ơn để giúp lẫn nhau, thời cái đức sẵn có đủ để nối dõi bậc tiên giác, chỉ đạo kẻ ngu mê. Cho nên người khéo trụ trì phải nuôi đức để làm ơn huệ, tuyên ơn huệ để giữ đạo đức. Đức mà hay nuôi thời chẳng khuất, ơn huệ mà hay làm thời có ân. Bởi thế, đức và ơn cùng súc tích, ơn và đức cùng thực hành với nhau, như thế thời đức chẳng cần phải tu, mà được sự kính mến ngang với Phật Tổ, ơn chẳng cần thực thi mà được nhớ như là cha mẹ. Vậy nên, những kẻ có chí với đạo khắp chốn hồ hải, ai là chẳng qui tụ. Người trụ trì truyền đạo đức, phục hưng giáo hoá, nếu chẳng rõ điều cốt yếu này, thời không thể thi thố trọn vẹn được”.([8])

5. Thời gian cho xuống tóc, thọ giới, đi học:

- Phát tâm xuất gia:

Khi có một vị Phật tử phát tâm xuất gia học đạo, vị trụ trì phải xem xét căn cơ và nguyện vọng của người này. Nếu là người Phật tử thuần thành đã có nhiều năm gắn bó với Tam bảo, ý thức và giác ngộ sự vô thường của cuộc đời, phát tâm Bồ-đề mong cầu sự giải thoát thì có thể thâu nhận ngay, còn nếu không phải là Phật tử thuần thành, chỉ là buồn chán gia đình, thất vọng trong cuộc đời, hay đi tu chỉ vì thấy vui vui mà đi, hay chỉ là mong muốn bốc đồng thì vị trụ trì có thể khuyên nhắc sự cao quý cũng như sự khó khăn gian khổ của sự tu hành cho người đó nghe, nếu thấy được thì mới thâu nhận.

Như trong Chơn Lý, Sư Tổ dạy:

“Thế nên khi xưa có kẻ cư sĩ ít duyên gần Tam Bảo, mà muốn xin nhập đạo, các Ngài lại bảo rằng: Khoan, hãy nên học nghiệm rộng khắp giáo lý xã hội, gia đình, tông giáo, cư gia cho thông trước đã, rồi mới sẽ nên vào; vì khi vào đạo rồi, là phải chịu bó buộc sự học tu theo giới luật chương trình cho đến ngày đắc đạo, cũng giống như học trò lớp dưới, hết bài học rồi mới sẽ lên trên, hay như cư sĩ đứng ngoài, là phải nên lựa chọn, chớ vào lớp rồi, là không được dòm ngó hai bên do dự nữa, và đợi cho đến khi đã trở nên bậc thầy là Phật Thánh, thì trí học mới sẽ ngó ra ngoài xa kia được. ([9])

- Thế phát xuất gia:

Theo quy định hiện nay của Ni giới Hệ phái, người Phật tử phát tâm xuất gia phải ở trong tịnh xá một thời gian để vị thầy xem tâm niệm xuất gia có kiên trì hay không, rồi mới đem về Tổ đình Ngọc Phương xuống tóc. Kể từ ngày xuống tóc mới được gọi là ngày chính thức xuất gia. Thời gian xuống tóc nhanh hay chậm tuỳ theo căn cơ của người Phật tử.

- Công quả tại Tịnh xá trú xứ:

Trong thời gian đầu tiên xuất gia, vị trụ trì hay vị thầy phải hướng dẫn đệ tử những việc chấp tác lao động ở trong tịnh xá để lập công bồi đức.

- Học oai nghi tế hạnh:

Học những oai nghi tế hạnh của một vị xuất gia, có uy đáng kính, có nghi đáng sợ. Những oai nghi tế hạnh này, người đệ tử sẽ nhận được từ thân giáo, khẩu giáo, ý giáo của vị thầy trong thời gian tập sự ở gần thầy và đây cũng là thời gian được thầy đặc biệt quan tâm chỉ dạy. Từ những oai nghi đi đứng nằm ngồi, ăn cơm, uống nước, chắp tay lễ lạy, tụng kinh, mỗi mỗi đều phải hướng dẫn trong thời gian này. Nếu thời gian đầu tiên mà không cho đệ tử học những uy nghi phép tắc thuở ban đầu của người xuất gia thì sau này sẽ khó kiềm chế tâm của người đệ tử trên con đường trau giồi phẩm hạnh giải thoát giác ngộ.

Ngoài những uy nghi phép tắc hàng ngày, vị thầy phải cho đệ tử học “Bài học Khất sĩ” và “Bài học Sa di”, để đệ tử được thấm nhuần hơn những bài học của Sa di.

- Học kinh kệ, sám hối:

Trong thời gian này, hai thời công phu sớm tối, nghi thức sám hối và những bài kinh kệ cần được học thuộc lòng. Có những vị thầy quá thờ ơ trong việc hướng dẫn đệ tử học kinh kệ, thậm chí bài kinh cúng dường, tu cả năm rồi mà vẫn chưa thuộc. Khi đi học xa, nếu học tại Tổ đình Ngọc Phương thì cũng có thể thuộc những nghi thức tụng niệm của Hệ phái, còn nếu nội trú tại các Phật học viện khác thì e rằng sau này tốt nghiệp trở về bổn xứ những nghi thức tụng niệm của Hệ phái chắc sẽ không còn nhớ nữa, đừng nói chi những truyền thống khác.

Sau thời gian một năm hoặc hơn nữa, người đệ tử dưới sự hướng dẫn của bậc thầy đã nếm được chút cơm thiền sữa pháp, lúc này mới có thể rời xa thầy đi học, hoặc cho thọ giới pháp Sa di để tiến tu trên bước đường tu tập.

Đức Tổ sư dạy: “Từ xưa đến nay kẻ nào được chơn sư xét xem chọn lựa, trên hai năm kỹ lưỡng, đủ thiện căn phước đức nhân duyên, mới chịu dạy truyền cho giáo lý y bát ấy, để tách khỏi xa thầy, một mình đi ra tu học thành công”.([10])

“Thế nên những ai muốn được y bát, thì phải tập học giữ gìn giới hạnh, có đủ giới hạnh mới được thọ trao giới luật y bát, và cần phải nhờ thầy chỉ dạy thêm cho trúng cách tu theo định huệ, sau lại mới sẽ tự mình đi tới, đi tới chỗ ý muốn của tự mình”.([11])

Theo lời dạy của Đức Tổ sư, phải hai năm dạy dỗ tại trụ xứ trước khi cho đi xa tu học hành đạo, nhưng nay thời đại có thay đổi, quý vị trụ trì thâu nhận đệ tử có thể tự dạy dỗ tại tịnh xá trú xứ từ một năm trở lên, tuỳ theo tuổi tác, rồi sau mới cho đệ tử đi học các lớp giáo lý Sơ cấp, Trung đẳng… Không nên mới thâu nhận đệ tử, mới cho xuống tóc, đạo tâm chưa vững đã cho đi học xa thầy, xa huynh đệ.

Sau khi học xong, người đệ tử phải trở về tịnh xá trụ xứ của thầy phụ giúp công việc Phật sự, mới có thể đền trả công ơn tế độ giáo dưỡng của thầy.

Theo truyền thống tu học của Hệ phái, các giới tử Ni phải về Tịnh xá Ngọc Phương an cư 3 tháng để quý Ni Trưởng xét dò đạo hạnh mới được thọ giới, nhưng nói chung việc giáo dưỡng là do thầy bổn sư của người đệ tử đó chịu trách nhiệm, vì “Dưỡng bất giáo, phụ chi quá. Giáo bất nghiêm, sư chi đoạ”, nghĩa là “Nuôi con mà không dạy bảo là lỗi của người cha. Dạy dỗ đệ tử không nghiêm là lỗi của người thầy”. Ngoài ra có câu “Phụ giáo, sư nghiêm, lưỡng vô ngại, Học vấn vô thành, tử chi tội”, nghĩa là, cha dạy bảo, thầy nghiêm khắc, cả hai đều đem hết tâm hướng dẫn, dạy dỗ, mà không thành đạt trên đường học vấn, tu tập là tội của người con, người đệ tử. Lại có câu “Giáo bất tín tội ư nhân”, nghĩa là, hướng dẫn, dạy dỗ mà đệ tử không nghe là lỗi ở người đệ tử.

Việc giáo dục dạy dỗ đệ tử của những bậc làm thầy có liên quan mật thiết đối với sự thịnh suy của Phật pháp. Trong kinh Đức Thế Tôn đã từng răn nhắc: nuôi đệ tử mà không biết dạy dỗ để họ làm tổn thương đến đạo pháp thì tội lỗi còn nặng hơn một người đồ tể sát sinh. Vì người đồ tể gây nghiệp ác chỉ làm hại đến bản thân mình, còn một người xuất gia mà làm trái giáo pháp sẽ khiến cho chánh pháp vì thế mà sớm bị diệt vong.

Vì thế mong rằng quý vị trụ trì, nhất là các vị tân trụ trì, nên chú ý đến điều này.

Kết luận

Trách nhiệm “Trụ Pháp Vương gia, trì Như Lai tạng”, “Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh” của vị Trụ trì rất quan trọng, có liên quan đến sự thịnh suy của Đạo pháp. Cho nên quý vị trụ trì cần phải trang nghiêm tự thân trong việc tu học giới định tuệ, khéo léo áp dụng tinh thần từ bi, trí huệ, vô ngã, vị tha trong việc thâu nhận và giáo hóa đệ tử xuất gia.

Các vị trụ trì nên cố gắng sắp xếp thời gian về tham dự khoá trao đổi kinh nghiệm trụ trì một tuần trong mỗi mùa an cư kiết hạ. Các ngày giỗ, kỷ niệm của Hệ phái cũng nên về Tổ đình để tham dự các phiên họp của Hệ phái, nắm bắt được đường lối tu học hành đạo chung trong Hệ phái. Phải tu học hành đạo dưới sự hướng dẫn của bổn sư và các bậc thầy trong Hệ phái. Phải ghi nhớ Pháp bảo (Tam tàng) của chư Phật từ xưa là:

“Nên phải tập sống chung tu học

Cái sống là phải sống chung.

Cái biết là phải học chung.

            Cái linh là phải tu chung.([12])

Trên đây là đôi lời nhắc nhở các vị trụ trì, nhất là tân trụ trì, mong các vị ghi nhớ lấy những lời tôi vừa nói để tiến tu trên con đường tu học và hành đạo.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.


[1] Thiền Lâm Bảo Huấn

[2] Ngũ phần 17 (Đại 22, tr. 114c); Tăng kỳ 28 (Đại 22, tr.457c); Tứ phần 34 (Đại 22, tr. 806b); Thập tụng 21 (Đại 23, tr. 149b); Căn bản xuất gia sự 3 (Đại 23, tr. 1031b); (Tăng Chi Bộ Kinh III B, 73-79). Trích dẫn từ Yết Ma Yếu Chỉ của Hoà thượng Trí Thủ giảng.

[3] Hoà thượng Minh Châu dịch, Trường Bộ Kinh-Kinh Sonadanda (Chủng Ðức).

[4] Chơn Lý.

[5] Thiền Lâm Bảo Huấn, lời của Ngài Viễn Công

[6] HT. Thánh Nghiêm (Tuệ Đăng dịch), Cương yếu Giới Luật.

[7] HT. Minh Châu dịch, “Kinh Trung Bộ” tập 1, Viện NCPHVN ấn hành, năm 1992, trang 239-246.

[8] Thiền Lâm Bảo Huấn.

[9] Chơn Lý.

[10] Chơn Lý.

[11]Sđd.

[12] Chơn Lý.

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết:

Các bài viết liên quan