CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !

Chia sẻ kinh nghiệm tu học

Hôm nay, ngày tu thứ 8, trên diễn đàn tu học online của khoá “Sống chung tu học” lần thứ 13, dành cho Ni giới GĐ III, cung đón sự hiện diện cao quý của Hoà thượng đạo hiệu Giác Minh, Giáo phẩm Hệ phái, Tri sự Phó kiêm Trưởng ban Nghi lễ và Phó ban Tăng sự, Trụ trì Tịnh xá Ngọc Đà, TP. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

Đến với hội chúng, Hoà thượng chia sẻ kinh nghiệm tu tập của mình và những ý pháp vô cùng hữu ích, thiết thực ứng dụng trong đời sống tu hành để được an lạc và hạnh phúc.

Đầu tiên, Hòa thượng ôn lại với đại chúng về đạo Phật là đạo giác ngộ, trong đó Ngài giải thích ý nghĩa việc tu tập trên nền tảng Giới - Định - Tuệ. Giới là phương tiện để những ai thực tập đều có sự an lạc và hạnh phúc. Đức Phật đã dùng ví dụ chiếc bè để làm sáng tỏ ý pháp này. Chiếc bè chỉ dùng để qua sông, sau khi qua đến bờ nên bỏ bè, không nên cõng bè theo. Đây là hình ảnh sống động được nhiều kinh mô tả để khuyến khích những người tu tập không nên cố chấp vào một pháp môn nào hay một vị thầy nào, cho dù pháp môn đó hay vị thầy đó có siêu việt đến đâu. Điểm này cũng được chư Tổ Thầy cảnh báo:

Y kinh giảng nghĩa tam thế Phật oan.

Ly kinh nhất tự tức đồng ma thuyết.

Tạm dịch: Cứ chiếu theo văn tự mà giảng giải, thì lời dạy của ba đời chư Phật đều oan ức, nhưng nếu lìa kinh mà giải thích thì như lời của ma.

Cho nên, người tu Phật phải biết ứng dụng pháp Phật đúng lúc, đúng thời và đúng người. Có như thế thì lời Phật dạy mới đem lại lợi lạc cho người hành trì. Do đó, đức Phật nói: “Suốt 49 năm, Ta không nói một lời nào.”

Một ví dụ khác được Hoà thượng đưa ra cho những vị trì giới nhưng chấp giới. Có hai vị Tỳ-kheo đi khất thực, trên đường rừng gặp phải thú dữ tấn công. Một vị bỏ chạy trèo lên cây để tránh, một vị khác chấp vào giới đã học “không được chạy nhảy, leo trèo…” nên đã bị chết vào miệng thú dữ. Cho nên, người trì giữ giới luật phải có trí tuệ để phân biệt và ứng dụng đúng lúc đúng thời thì lời Phật dạy không bị oan ức.

Yếu tố thứ hai để đưa đến giác ngộ là tu Định. Định là cột tâm vững chắc vào đối tượng, không cho tâm lang thang rong ruổi. Để đạt được định, hành giả thực hành hằng ngày trong bốn oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi, sao cho tâm sống trong hiện tại mà trong kinh mô tả là “hiện tại lạc trú”, trú tâm trong giây phút hiện tại. Nhờ trụ tâm trong giây phút hiện tại mà tâm được an lạc.

Hoà thượng dẫn ví dụ về một vị tu sĩ qua sông. Khi ngồi trên đò vị ấy nhìn cô lái đò nên khi qua đò vị ấy phải trả tiền gấp đôi người khác. Vị ấy thắc mắc và được giải thích vì vị ấy đã nhìn cô gái. Lần sau vị ấy không nhìn mà cúi gầm mặt xuống nhưng cô gái lại lấy tiền gắp bốn lần. Vị ấy bất bình thì được bảo là do vị ấy đã nhìn cô gái bằng tâm. Vì ấy buồn bã về am thất cố gắng hành trì thiền tập. Lần này, vị ấy bình thản nhìn sông nước, nhìn mọi người trên đò và có lúc nhìn cô lái đò nhưng trong tâm vị ấy không có dính mắc, không có nắm giữ các tướng ấy. Khi qua khỏi sông, cô gái không lấy tiền và nói rằng lần này ngài có nhìn nhưng không chấp giữ.

Chính vì vậy, Tổ dạy “người có định thì thân-khẩu-ý mới trong sạch, tuy ít nói mà nói hay, tuy ít làm mà làm nên, tuy ít nhớ mà nhớ phải. Và nhờ định mà mắt-tai-mũi-lưỡi-thân-ý mới trọn lành hữu dụng, tốt đẹp trang nghiêm, mới ra con người có giá trị, xứng đáng để noi gương.”

Tu định là để được tâm định tĩnh, nhờ định tĩnh mà tuệ nương đó phát sinh chứ không phải tu định để cầu thần thông như định của ngoại đạo. Cho nên nói con thiên nga có thể bay lên tận trời xanh, người có thần thông có thể bay lên khỏi mặt đất, nhưng duy chỉ có người có trí tuệ mới bay ra khỏi thế gian. Vào ngôi nhà thiền định để thắp lên ngọn đèn trí tuệ, nhờ tu định nên tuệ từ đó khởi sanh. Người có trí tuệ là người có thể phân biệt được đúng sai phải quấy.

Câu chuyện được mô tả trong bộ Ngũ đăng hội nguyên: Ngài Văn Thù Sư Lợi đang thuyết pháp trong hội chúng, bên cạnh có Thiện Tài Đồng Tử đang đứng hầu. Ngài bảo Thiện Tài Đồng Tử ra ngoài xem cỏ cây đất nước sông núi xa gần như thế nào? Thiện Tài Đồng Tử ra xem rồi vô thưa với Ngài Văn Thù Sư Lợi là mọi vật bên ngoài xấu xa hư tệ. Lần sau, Ngài bảo ra xem thì Thiện Tài Đồng Tử xem xong vào thưa lại là mọi vật rất tốt đẹp. Ngài Văn Thù Sư Lợi liền khen: Lành thay! Như vậy, tốt đẹp hay xấu tệ là do sự cảm nhận của người xem, tuỳ theo tâm trạng hay trí tuệ phân biệt mà ra. Một người có trí tuệ sáng suốt nhìn mọi vật đều tốt đẹp, người có tâm tư sai biệt thì nhìn mọi vật sai biệt. Cho nên muốn nhìn các pháp như thật như chúng đang là thì người ấy phải sống trong Giới Định Tuệ. Nhờ Giới Định Tuệ soi sáng thân khẩu ý và thắp lên ngọn đèn chân lý thì sẽ thấy rõ các pháp. Ở đây chính là chỗ giác ngộ của hành giả tu tập.

Thứ hai, đạo Phật là đạo giải thoát. Đối với thế gian ra khỏi tù tội, gông cùm, xiềng xích là được giải thoát, như câu nói “nhứt nhật tại tù như thiên thu tại ngoại”. Còn giải thoát trong đạo Phật là thoát khỏi tham sân si, mạn, nghi, tật đố, kiêu căng,… những phiền não này trói buộc chúng sanh trong sanh tử luân hồi vô tận. Giải thoát trong đạo Phật là thoát ra khỏi ba đường sáu nẻo (lục đạo tam đồ).

Giải thoát là không bị trói buộc bởi danh vọng, lợi dưỡng, tiền tài, sắc dục. Ngày xưa, các vị tu hạnh đầu-đà ngày đi khất thực, đêm ngủ dưới gốc cây, chòi trống, bãi tha ma, không dính mắc với bất cứ vật dụng gì, sống tự do tự tại, an lạc, giải thoát. Nên ở thế gian, có câu thơ rằng “thu ăn măng trúc, đông ăn giá, xuân tắm hồ sen hạ tắm ao” hay câu “ta dại ta tìm nơi vắng vẻ, người khôn người thích chốn lao xao”. Thế nên, đức Phật nói liễu sanh Niết-bàn mới là chân thật giải thoát.

Thứ ba, đạo Phật là đạo từ bi. Suốt 49 năm thuyết pháp độ sanh, đức Phật luôn luôn chú trọng sự ban vui và cứu khổ cho chúng sanh. Đi tới đâu, nói cái gì, làm việc gì, Ngài đều nuôi dưỡng tâm từ bi và dạy pháp từ bi cho các đệ tử xuất gia cũng như tại gia. Vì chúng sanh cùng chung bản thể đại bi như nhau.

Từ bi nằm trong Tứ vô lượng tâm là từ bi hỷ xả. Đức Phật chính là hình ảnh sống động nhất về việc thực hành lòng từ bi. Ngài tự bỏ xuống lưỡi gươm quyền lực và mang lên mình chiếc bát đất đi xin ăn khắp mọi hang cùng ngõ hẹp, nhận thức ăn thanh đạm của từng nhà và không phân biệt giàu nghèo, ngon dở, tốt xấu. Hình ảnh mỗi sáng mang bát khất thực của đức Phật cũng là bài thuyết pháp không lời về lòng từ bi; Ngài thứ lớp khất thực không phân biệt. Đi khất thực sống để tu, để tránh trồng trỉa, cấy cày làm hại chúng sinh dưới đất, trên khô, hay là chặt cây phá núi rừng, làm tổn giảm lòng từ bi.

Thứ tư, đạo Phật là đạo bình đẳng. Bình là bằng, đẳng là đẳng cấp. Bình đẳng là ngang hàng về cấp bậc. Không phải bình đẳng là phá bỏ mọi ranh giới coi cha như con, anh như em, tất cả đều ngang hàng nhau. Trong Giới Phật tử có điều: “Người xuất gia trước đi trước, người xuất gia sau đi sau, không được tranh giành như hung nô, mọi rợ”.

Cả cuộc đời hành đạo, thuyết pháp, đức Phật không phân biệt đối xử, Ngài luôn bình đẳng thuyết pháp cho tất cả mọi người từ vua quan đến giai cấp cùng đinh trong xã hội, hay nhận sự cúng dường của tất cả mọi người không phân biệt sang hèn, giàu nghèo. Theo Ngài, không có giai cấp khi máu cùng đỏ và nước mắt cùng mặn. Đức Phật cật lực phản đối chế độ giai cấp đang chia rẽ sâu sắc trong xã hội Ấn Độ thời đó. Ngài cho rằng một người sinh ra không phải do giai cấp mà do hành nghiệp của chính họ.

Trong Tăng đoàn của đức Phật có đầy đủ các hạng người trong xã hội từ bậc đa văn trí tuệ như Ngài Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, Ca-diếp, A-nan… cho đến giai cấp nghèo khổ như Ngài Ưu-ba-li hay người hốt phân tên Ni-đề, hoàng hậu cao quý hay kỹ nữ mạt hạng, Ngài thấy tất cả chúng sanh đều bình đẳng như nhau, đều có tánh Phật, đều có khả năng thành Phật, nếu thực hành đúng theo giáo pháp của Ngài. Vì theo Ngài, con người có sự phân biệt cao thấp, sang hèn nhưng giải thoát không có sự phân biệt. Giống như nước của các nguồn sông có thể khác nhau nhưng khi chảy vào biển rồi, đồng hoá một màu và cùng một vị là vị mặn với nước biển. Cũng vậy, trong giáo lý của đức Phật, chỉ có một vị đó là vị giải thoát. Cho dù, người có những tập khí bất thiện như Vô Não - kẻ giết người không gớm tay hay cả đến kỹ nữ Liên Hoa Sắc, khi vào trong giáo pháp và thực hành đúng pháp cũng có được sự an lạc và giải thoát.

Điểm cuối cùng là đạo phật là đạo trí tuệ. Người có trí tuệ là người sáng suốt thấy rõ thật tướng của các pháp, sự sanh diệt của mọi sự vật trên đời, nghĩa là mọi vật tồn tại tuỳ theo nhân duyên, do đó không cố chấp, bám chặt để tránh khỏi tội lỗi. Trí tuệ chân thật có thể nắm chắc vận mệnh của chính họ, không hoang mang sợ hãi trước mọi đổi thay của cuộc sống, thậm chí đối mặt với sanh tử cũng vẫn an nhiên tự tại. Họ không chú trọng đến vấn đề sống chết sẽ đi về đâu và làm gì, họ chỉ quan tâm đến lời nói và việc làm trong giây phút hiện tại. Hiện tại hành động nói năng như thế nào sẽ là kết quả trong tương lai, ví như cây nghiêng về hướng nào thì khi chặt gốc nó sẽ đổ về hướng nghiêng đó.

Tóm lại, giáo lý của đức Phật cũng ví như biển cả bao la rộng lớn không ngằn mé. Biển cả ở đây, Hoà thượng giải thích sự dung chứa không phân biệt của nó, vì trong biển có rất nhiều loài khác nhau cùng chung sống trong ấy. Biển thì có chỗ thấp, chỗ cao có nơi dùng để thuyền bè qua lại, có nơi để em bé chơi đùa… Giáo pháp của đức Phật cũng vậy, không phân biệt cao thấp, tuỳ căn cơ của mỗi người mà thích ứng. Cho nên nói rằng, biển giáo pháp này vô cùng vô tận không có ranh giới, giới hạn. Đặc biệt, đại dương dung chứa các dòng sông khi chảy vào biển thì hoà cùng một vị với nước biển đó là vị mặn, cũng vậy, dù cho chúng sanh có nhiều khác biệt đến đâu, khi vào trong giáo pháp ấy, cũng tìm được cho mình một phương pháp phù hợp để tu tập và vui sống.

Mỗi loại chúng sanh tương ưng với một pháp môn nào đó, vì vậy Phật dạy tám vạn bốn ngàn pháp mà chung quy lại gồm trong Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, Tứ như ý túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất bồ-đề phần và Bát chánh đạo. Vì mỗi người được sinh ra không dựa vào xuất thân mà chính vì sở hành của người đó tạo nên hình dáng và tâm tính khác nhau, nhưng cho dù họ có khác biệt đến đâu thì chung cuộc họ cũng có một điểm chung là “ai cũng mong cầu hạnh phúc và chán ghét khổ đau”. Chính vì thấy rõ được tập khí của mỗi người mà đức Tổ sư dạy chúng ta phải tập “sống chung tu học”. Nhờ sống chung và tu học, mỗi người tự hoàn thiện mình và hoàn thiện người khác. Cuối cùng Hoà Thượng dẫn lời của Tổ: “Thân trong sạch ấy là xứ Phật, miệng trong sạch ấy là pháp Phật, ý trong sạch ấy là con Phật, tâm trong sạch ấy là đức Phật”.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết:

Các bài viết liên quan