CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !

HT. Giác Minh thăm và sách tấn Ni giới GĐ III

Trải qua bảy ngày tu học, hôm nay ngày tu thứ tám (02/4 Nhâm Dần, nhằm ngày 02/5/2022), Ni chúng Giáo đoàn III hân hoan cung đón sự quang lâm của Hoà thượng đạo hiệu Giác Minh, Tri sự phó kiêm Trưởng ban Nghi lễ GĐ III. Mặc dù tuổi cao sức yếu, với rất nhiều bịnh duyên nhưng vì lòng từ bi, thương tưởng đến chư Ni cũng như đàn hậu học, Hoà thượng thăm viếng khóa tu và khuyên răn sách tấn chư hành giả hành trì theo nếp sống giải thoát, mỗi người phải tự kiểm soát tâm và sống khép mình trong giới luật thiền môn.

Hoà thượng dạy: “Một người xuất gia phải nuôi dưỡng lý tưởng xuất gia của mình, nếu sống trong Phật pháp mà không xây dựng cho mình một lý tưởng giải thoát thì chẳng khác nào kẻ ăn bám trong Phật pháp, ăn bám đàn-na tín thí. Người không hiểu được lý tưởng giải thoát thì chẳng khác nào kẻ chăn bò mà không hiểu được bản tính của những con bò mình đang chăn.”

Bài kinh này, đức Thế Tôn giảng giải cho chư Tỳ-kheo khi Ngài hành hóa tại xứ Ukkacela của các bộ lạc Vajjī bên bờ sông Hằng. Đức Thế Tôn lấy ví dụ về hai người chăn bò ở bên bờ sông Hằng, một người vô trí, trong mùa gặt hái vào cuối tháng mùa mưa, người vô trí muốn đưa đàn bò qua sông mà không quan sát hai bên bờ sông Hằng, đuổi đàn bò qua bờ bên kia tại Suvideha ở chỗ không có thể lội qua được đã khiến đàn bò bị tai nạn, tổn thất. Cũng giống như những Sa-môn hay Bà-la-môn không khéo biết đời này, không khéo biết đời sau, không khéo biết ma giới, không khéo biết phi ma giới, không khéo biết tử thần giới, không khéo biết phi tử thần giới, những ai nghĩ rằng cần phải nghe, cần phải tin những vị này, thì họ sẽ gặp bất hạnh đau khổ lâu dài.

Còn người chăn bò có trí thì khi tới mùa gặt hái vào cuối mùa mưa, muốn đưa đàn bò của mình qua sông, người này khéo quan sát hai bên bờ sông, tìm chỗ nào có thể lội qua được mới đưa đàn bò qua từ từ, những con bò già đầu đàn đi trước, qua tới bờ bên kia một cách an toàn, tới những con bò đực lớn mạnh, rồi tới những con bò con, bò cái và đực đã lớn,  cũng qua tới bờ an toàn, sau cùng là những con bò con còn nhỏ, còn bú, thậm chí có con bò con mới sanh chạy theo bò mẹ, vừa chạy vừa kêu cũng qua tới bờ bên kia được an toàn. Cũng giống như các Tỷ-kheo, có những Sa-môn hay Bà-la-môn khéo biết đối với đời này, khéo biết đối với đời sau, khéo biết ma giới, khéo biết phi ma giới, khéo biết tử thần giới, khéo biết phi tử thần giới. Những ai nghĩ rằng, cần phải nghe, cần phải tin những vị này, thì họ sẽ được hạnh phúc, an lạc lâu dài. (Tiểu kinh Người chăn bò, số 34 trong Kinh Trung bộ)

Nếu người xuất gia mà không biết tu tập, không có một sự định hướng nhất định và không tỉnh giác thì sẽ dễ bị những dục vọng thế gian lôi cuốn, đi lầm đường lạc hướng và lang thang trong cõi ta-bà sanh tử vô cùng tận này.

Như vậy, định hướng của một vị xuất gia là hướng đến giải thoát khỏi những khổ đau phiền não muộn phiền, những rắc rối thù hận. Giữa môi trường sống đầy chướng ngại này, người xuất gia phải chiến thắng chính mình. Như trong Kinh Pháp cú, phẩm An lạc, kệ 197, đức Phật dạy: “Vui thay chúng ta sống / Không hận giữa hận thù / Giữa những người thù hận / Ta sống không hận thù.”

Đối với một người xuất gia xuống tóc, ăn chay, tu hành theo đạo Phật thì trước tiên phải thực hành hạnh nhẫn nhục, nhẫn chịu mọi hoàn cảnh thuận nghịch. Người không biết tu sẽ bị các dục vọng thế gian lôi cuốn theo sự mong cầu vật chất thế gian. Hình ảnh đức Phật buông bỏ tất cả dòng tộc, thế lực, quyền uy, lụa là, gấm vóc, đi chân đất, vào làng, ôm bát xin cơm từng nhà, đủ thấy được sự vô chấp, vô ngã của đức Phật. Khi chúng ta sống trên đất già lam thì xin vật chất đủ để tu, để sống. Đức Tổ sư dạy: “Người tu phải ăn, ăn để nuôi thân, nuôi tâm trí cho trọn lành tốt đẹp.” Xin vật chất vừa đủ để thân được duy trì tu tập, không tham lam muốn có, tìm cầu cho nhiều để sinh ra nhiều bất thiện nghiệp khác.

Thật ra, nói rất dễ nhưng việc hành trì vượt qua mọi cám dỗ, thử thách thì thiên nan vạn nan. Để không bị quạ, diều hâu gắp ra khỏi ngôi nhà Phật pháp hay ngôi già lam Giáo hội, hành giả phải thực hành nghiêm túc giới luật trong Giới - Định - Tuệ.” Giới là sự cẩn trọng, giữ gìn, không cho phạm dù là một lỗi nhỏ nhặt. Khi gìn giữ một cách trọn vẹn chúng ta sẽ được giải thoát, gìn giữ giới nào thì giải thoát được giới đó. Thế nên giới là sự giải thoát không phải để trói buộc. Định là chú tâm tỉnh giác, tỉnh giác trên mọi hành vi cử chỉ, cho nên trong bài kệ Ý viết: “Luôn luôn đôi mắt phải kiềm / Đừng nên nhìn liếc kiếm tìm chi chi.” Tuệ là sự quán sát, phân biệt đúng sai, chánh tà, phải quấy, biết điều gì nên làm và điều gì không nên làm. Có Giới - Định - Tuệ, chắc chắn người tu tập không còn bị khổ đau, cố chấp, phân biệt chi phối thân tâm nữa.

Một người tu tập trong giáo pháp phải tuân thủ theo giới luật của thiền môn, nếu không tuân hành theo thì vị ấy phải bị diệt tẩn. Trong Kinh Tạp A-hàm, kinh số 923, Ba cách luyện ngựa, đức Phật dạy ba cách điều phục ngựa dữ, ngựa điên và cách đoạn diệt (loại trừ) nó nếu như không thể điều phục được.

Một hôm, tại vườn Trúc thành Vương Xá, có một người chủ tụ lạc chuyên nghề huấn luyện ngựa đến hầu thăm đức Phật và thưa với Ngài rằng:

Bạch Thế Tôn, đối với con, thế gian này đầy dẫy sự vô thường, thật không đáng chấp thủ, như bọt biển, như dã tràng, chỉ có con mới có khả năng điều phục được ngựa dữ, ngựa điên, ngựa hoang. Con có phương pháp chỉ cần trong giây lát là có thể khiến cho những chứng tật của chúng hiện ra và tùy theo tật đó mà có cách điều phục.

Đức Phật hỏi người huấn luyện ngựa: Ông có bao nhiêu cách để điều phục?

Người huấn luyện ngựa thưa: Bạch Thế Tôn! Có ba cách để điều phục ngựa dữ. Những gì là ba? Một là mềm dịu, hai là thô cứng, ba là vừa mềm dịu vừa thô cứng.

Đức Phật bảo người huấn luyện ngựa: Ông dùng ba phương cách này để điều phục ngựa, nếu không điều phục được thì phải làm thế nào?

Người chủ tụ lạc thưa rằng: Nếu không điều phục được thì nên giết nó. Vì sao? Vì chớ để nó làm nhục mình, tức khi nó sanh chứng sẽ làm hại mình chết.

Người huấn luyện ngựa lại bạch Phật rằng: Thế Tôn là bậc Vô Thượng Điều Ngự Trượng Phu, Ngài đã dùng bao nhiêu pháp để điều ngự trượng phu?

Đức Phật trả lời: Ta cũng dùng ba cách để điều ngự trượng phu. Những gì là ba? Một là một mực mềm dịu, hai là một mực thô cứng, ba là vừa mềm dịu vừa thô cứng.

Bấy giờ, người huấn luyện ngựa bạch Phật: Thế Tôn! Nếu dùng ba phương pháp này để điều phục chúng sanh, nhưng nếu không điều phục được thì phải như thế nào?

Đức Phật bảo chủ tụ lạc rằng: Cũng giống như ông đã cư xử với hạng ngựa bất trị, phải đành đoạn diệt, tức là giết chết nó đi. Vì sao? Vì không nên để họ làm nhục giáo pháp.

Giáo pháp của đức phật tồn tại trên 2500 năm đều dựa trên Giới - Định - Tuệ. Cho nên một người tu theo đạo phật là phải thực hành Giới - Định - Tuệ một cách nghiêm túc. Người tu hành mà không có Giới - Định - Tuệ thì khác nào người không có chân. Người không có chân thì không thể đi đứng làm việc được, người không có Giới - Định - Tuệ thì không thể đi đến bờ giải thoát an vui.

Người tu hành chẳng khác nào người đi tìm lõi cây, phải lấy cho được lõi cây, lõi cây chính là mục đích cứu cách giải thoát, là mục tiêu Phạm hạnh mà người xuất gia phải nghiêm túc hướng tới. Muốn tìm hạnh phúc an lạc không phải mong cầu bên ngoài mà phải tìm nơi chính mình. Tìm nơi nguyên nhân của khổ thì mới diệt được khổ. Ví như Dương tử mất trâu, đi lang thang trong rừng tìm kiếm con trâu đã mất của mình, nhưng vì không xác định được phương hướng của con trâu nên không thể tìm được. Đến khi được một đạo sĩ chỉ điểm hãy tìm xem dấu chân của con trâu đi về hướng nào rồi lần theo hướng đó tìm sẽ thấy trâu. Cũng vậy muốn thoát khỏi khổ đau thì phải tìm ra nguyên nhân của nó. Đức Phật dạy nguyên nhân của khổ là do vô minh. Vì vô minh mới sanh ra mọi thứ biến động, rắc rối, chiến tranh, thù hận trên thế gian. Muốn diệt tận gốc những khổ đau này, chúng ta phải thực hành theo Tứ diệu đế, Bát chánh đạo, Tứ như ý túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất Bồ-đề phần… mà chung quy là Giới - Định - Tuệ.

Với các vị Ni còn mới vào nhà đạo, Hòa thượng đặc biệt nhấn mạnh đến: “Hãy cung kính người Thầy của mình.” Hòa thượng cũng nhắc lại thời khắc viên tịch của Đức Thầy đạo hiệu Giác An – Vị khai sáng Giáo đoàn III, Hệ phái Phật giáo Khất sĩ. Đời sống của Ngài bình dị, độ chúng, giáo hóa Phật tử, kiến tạo tịnh xá, làm mọi việc của một vị Tăng bình thường nhưng Ngài tự tại thong dong, giới hạnh và trí tuệ. Lúc 3 giờ 30 rạng ngày 16 tháng 07 năm Tân Hợi (1971), tại Tịnh xá Ngọc Cát (Phan Thiết, Bình Thuận), sau khi sắp xếp mọi công tác Phật sự chư Tăng Giáo đoàn đâu vào đấy, ngài điềm nhiên kiết-già lưng thẳng, lấy tay vỗ đầu ba cái rồi an nhiên viên tịch. Đức Thầy là tấm gương chói sáng cho tất cả chúng ta noi theo.

Cuối thời pháp thoại, Hoà thượng nhắn nhủ Ni chúng: “Hãy cố gắng thực hành Giới - Định - Tuệ và tu tập theo giáo pháp của Phật - Tổ - Thầy. Hãy tham gia tu tập trong các khoá tu, tuy ngắn ngủi nhưng rất có lợi ích, giúp hành giả định hướng được lý tưởng xuất gia của mình, từ đó tìm cho mình sự an lạc hạnh phúc trong nếp sống thiền môn.

 

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết:

Các bài viết liên quan