CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !

HT. Giác Pháp thăm và sách tấn Ni giới GĐ III

Mở đầu buổi nói chuyện, HT. Giác Pháp - Chánh Thư Ký Hệ phái Khất sĩ, Tri sự Trưởng GĐ. V, Trụ trì Tịnh xá Ngọc Hiệp (Gò Công, Tiền Giang) gửi lời thăm hỏi đến Ban Quản sự Ni giới GĐ III trong khoá tu, lần thứ 14 này.

Tiếp đến, Hòa thượng cảnh tỉnh cho đại chúng rằng ngày nay nhờ phương tiện công nghệ mà chúng ta có nhiều phương tiện thuận lợi gặp nhau ở mọi noi, mọi lúc để nghe pháp và tu học. Cụ thể như khóa tu online của chư Ni lần thứ 14 này. Tuy nhiên, chỉ những ai có tâm đạo và phát triển Bồ-đề tâm mới có thể thấy niềm vui trong cuộc sống tu hành, nếu không thì chính vật chất thịnh hành này lại biến thành trở ngại lớn cho việc xuất gia.

Trong buổi nói chuyện chia sẻ kinh nghiệm tu học đến chư Ni GĐ III sáng hôm nay, Hòa thượng nhấn mạnh đến ý pháp: YẾU TỐ HỶ LẠC TRONG ĐỜI SỐNG XUẤT GIA. Niềm hỷ lạc trong việc xuất gia được đặt trên nền tảng 3 bước: Xuất thế tục gia, xuất phiền não gia và xuất tam giới gia. Xuất thế tục gia là việc dễ trên mặt bằng chung của người đang trong hình thức đầu tròn, áo vuông. Nghĩa là vượt qua mọi thử thách, theo từng trường hợp mà hôm nay chúng ta đã trải qua quá trình ban đầu để trở thành Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, dù khó hay dễ cũng đã đạt được. Việc xuất thế tục gia không tính là lâu hay mau, mà quan trọng là có niềm hỷ lạc hay không? Yếu tố này đưa ta đến bước thứ hai là xuất phiền não gia. Yếu tố này dựa trên khả năng giác ngộ, ý chí tu hành, giữ gìn tâm hạnh, nuôi dưỡng mục tiêu giải thoát của đời mình. Những điều căn bản này chính là lộ trình ra khỏi phiền não. Trong khóa tu, chúng ta cần phải tự hỏi lòng mình đã thực hiện việc chuyển hóa phiền não được bao nhiêu phần? Tự xem đau khổ của đời mình đã trở thành hỷ lạc được bao nhiêu phần? Hãy tìm sự giải thoát trong hiện tại mới hướng đến bước cuối cùng là xuất tam giới gia.

Hỷ lạc là một khái niệm căn bản trong Phật giáo. Hỷ là niềm vui, lạc là sự an lạc của thức thứ sáu (theo Duy thức học). Thông thường hỷ lạc được định danh cho trạng thái chứng và trú các tầng thiền của hành giả. Hôm nay, tôi không dẫn dắt đại chúng vào các tầng thiền mà chỉ nói đến niềm an vui trong cuộc sống đời thường. Chúng ta xuất gia làm sao đạt được niềm an vui nơi tịnh xá với Thầy, với bạn, với các bổn phận mình cần làm với đại chúng. Đôi khi, có nhiều vị không tìm được niềm vui này nên rời xa hội chúng, tìm nơi sơn dã ở ẩn hoặc thành lập tịnh thất, am cốc riêng để sống nhàn hạ. Tôi xem đây là việc sai lầm vì các vị ấy sẽ không thể nào thoát khỏi khổ ách. Hoặc giả do không hiểu đúng lời Phật dạy, Tăng Ni trẻ ngày nay tìm đến các niềm vui tạm bợ như: nấu ăn, uống trà, làm thơ, viết văn, học thư pháp, cắm hoa, chăm sóc cây kiểng, nuôi cá, chó mèo… Tất cả các điều này chỉ là tinh thần nhàn hạ của giới trí sĩ ngày xưa, không phải là niềm vui chánh pháp phù hợp với tinh thần giác ngộ.

Niềm hỷ lạc trong cuộc sống tu hành tôi muốn nói ở đây phải vượt lên trên các niềm vui nhàn hạ tạm bợ trên. Niềm hỷ lạc này là niềm vui chủ động giữ gìn tâm ý không bị dính mắc vào thế tục. Niềm vui ấy không bị mất đi sau các thăng trầm của cuộc sống. Đó là cả một quá trình nghe pháp học kinh, tư duy quán chiếu dựa trên lời Phật dạy. Chính thiền quán mới có thể mang đến niềm hỷ lạc lâu dài cho bản thân của người xuất gia. Nếu không tận dụng thời gian thiền quán để tìm hiểu bản chất của các pháp sinh diệt trên thân hành này thì mãi mãi chúng ta không thể nào vượt ra khỏi phiền não. Người không đủ sức thiền định sẽ mãi điên đảo sống trong mộng tưởng, khi hết thời thiền các chuyện ập vào mắt thấy, tai nghe, tuy không thật, chỉ là giả cảnh nhưng vẫn đủ sức làm ta đau khổ.

Trong kinh điển, chúng ta thường nghe lời Phật dạy rằng hàng ngày người xuất gia cần phải thu thúc lục căn. Chư vị Tổ sư cũng hay dạy ta đừng để tâm ý chạy theo trần cảnh. Tâm ý không kiểm thúc, khi căn trần xúc đối, phiền não dễ dàng dấy khởi. Đức Tổ sư Minh Đăng Quang cũng cảnh tỉnh chúng ta: “Tuy không thấy ý chỗ nào / Nhưng khi động tác ý xao ra ngoài.”

Ý ở đây gom đủ thọ, tưởng, hành, thức của ngũ uẩn. Khi tiếp xúc trần cảnh, ba loại cảm thọ sinh khởi gồm khổ, vui và vô ký đưa đến tưởng tri. Chính cái tưởng này nhìn nhận đó là mình, mình là như vậy, như vậy, tạo thành các dòng tâm thức vận hành theo nghiệp thiện ác, đây gọi là hành. Nếu không khéo tu, các hành này thực hiện ý nghĩa không phù hợp, lời nói không phù hợp và hành động không phù hợp. Cuối cùng, chúng ta không có hỷ lạc khi trong hình thức xuất gia.

Để định hướng cho việc tu hành chuẩn mực, khi mới vào tu chúng ta được dạy dỗ nghe học các bài kinh luật căn bản đến nâng cao, tham học trường lớp trong nước cho đến nước ngoài. Nhưng dù học ở tầm vóc nào cũng phải chú ý soi rọi tự thân trước hành nghiệp của mình. Trong nghĩa “đa văn” của Phật giáo, chứ không phải việc học nhiều mới gọi là “đa văn.” 

Một thời, Phật ở tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, có một Tỳ-kheo kia, đi đến chỗ Phật, làm lễ Phật, rồi đứng qua một bên, bạch Phật rằng:

“Như Thế Tôn nói ‘đa văn’. Vậy thế nào là đa văn?” 

Phật bảo Tỳ-kheo: 

“Lành thay! Lành thay! Nay ngươi muốn hỏi Ta về nghĩa của đa văn phải không?”

Tỳ-kheo bạch Phật rằng: 

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”

Phật bảo Tỳ-kheo: 

“Hãy lắng nghe và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ vì ngươi mà nói! Tỳ-kheo, nên biết, nếu nghe pháp mà đối với sắc phát sanh yểm ly, ly dục, diệt tận, tịch tĩnh, thì đó gọi là “đa văn.” Cũng vậy, nếu nghe pháp mà đối với thọ, tưởng, hành, thức phát sanh yểm ly, ly dục, diệt tận, tịch tĩnh, thì gọi đó là đa văn. Này Tỳ-kheo, đó gọi là đa văn mà Như Lai nói.”

Tỳ-kheo kia sau khi nghe những lời Phật dạy, phấn khởi vui mừng, làm lễ mà lui ra.

(Tạp A-hàm, Kinh Đa văn, số 25. Hán dịch: Tống, Tam Tạng Cầu-na-bạt-đà-la, Việt dịch: Thích Đức Thắng, Hiệu đính & chú thích: Thích Tuệ Sỹ).

Như vậy, người nghe pháp phải dựa trên việc tư duy, quán chiếu ngũ uẩn đưa đến ly dục, ly tham trên ngũ uẩn chứ không phải việc tham học nhiều trường lớp, đạt nhiều học vị. Các việc học này chỉ là phương tiện bên ngoài hỗ trợ cho tâm tu mà thôi.

Trong Tạp A-hàm, Kinh La-hầu-la sở vấn, số 23, Tôn giả A-nan bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, biết như thế nào, thấy như thế nào để cho thân thức này của con cùng tất cả những tướng trạng thuộc cảnh giới bên ngoài không có các kiết sử trói buộc là ngã, ngã sở kiến, ngã mạn?”

Đức Phật dạy La-hầu-la: “Lành thay! Lành thay! Phải chăng ngươi hỏi Như Lai rằng, biết như thế nào, thấy như thế nào để cho thân thức này của con cùng tất cả những tướng trạng thuộc cảnh giới bên ngoài không có các kiết sử trói buộc là ngã, ngã sở kiến, ngã mạn?”

La-hầu-la bạch Phật rằng: “Đúng vậy, bạch Thế Tôn.”

Phật dạy La-hầu-la: “Lành thay! Hãy lắng nghe, lắng nghe và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ vì ngươi mà nói! Này La-hầu-la, hãy quán sát, những gì thuộc về các sắc, hoặc quá khứ, hoặc hiện tại, hoặc vị lai; hoặc trong, hoặc ngoài; hoặc thô, hoặc tế; hoặc xấu, hoặc tốt; hoặc xa, hoặc gần. Tất cả những thứ đó đều chẳng phải ngã, không khác ngã, không ở trong nhau. Nên bằng tuệ bình đẳng mà quán sát như thật như vậy. Cũng vậy, thọ, tưởng, hành, thức, hoặc quá khứ, hoặc vị lai; hoặc trong, hoặc ngoài; hoặc thô, hoặc tế; hoặc xấu, hoặc tốt; hoặc xa, hoặc gần. Tất cả những thứ đó đều chẳng phải ngã, không khác ngã, không ở trong nhau. Nên bằng tuệ bình đẳng quán sát như thật như vậy. Như vậy, này La-hầu-la, Tỳ-kheo nên biết như vậy, thấy như vậy. Người nào biết như vậy, thấy như vậy, thì đối với thức thân này cùng tất cả những tướng trạng thuộc cảnh giới bên ngoài không có kiết sử trói buộc là ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn. Này La-hầu-la, Tỳ-kheo nếu như vậy đối với thức thân này cùng tất cả những tướng trạng thuộc cảnh giới bên ngoài không có kiết sử trói buộc là ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn, thì Tỳ-kheo đó được gọi là người đoạn ái dục, chuyển đi các kiết sử, chân chánh hiện quán đạt đến biên tế của khổ."

La-hầu-la sau khi nghe những lời Phật dạy, hoan hỷ phụng hành. (Hán dịch: Tống, Tam Tạng Cầu-na-bạt-đà-la, Việt dịch: Thích Đức Thắng , Hiệu đính & Chú thích: Thích Tuệ Sỹ).

Tóm lại, việc tu hành là cả một qua trình dài lâu đòi hỏi phái có chí khẩn cầu và tha thiết với mục tiêu thành tựu Phạm hạnh. Đối với quan niệm cho rằng: tu hành mà bệnh hoạn nhiều là chưa biết tu, quan niệm này chưa chính xác. Còn quan niệm: tu hành mà cứ đau khổ là chưa biết tu thì quan niệm này có phần chính xác. Việc vô thường già bệnh là quy luật tự nhiên, còn việc chuyển hóa khổ đau là do khả năng chúng ta dụng công thiền quán nhiều hay ít mà thôi. Mong mỏi chư hành giả gìn giữ tâm Bồ-đề, phát tâm nghe kinh học pháp, thường xuyên tư duy quán chiếu tính không thật của vô ngã để phiền não không dính mắc, khổ đau không phát sinh. Từ đó, các vị đạt được niềm hỷ lạc trong việc xuất gia, trưởng thành lớn mạnh trong giáo pháp. Cầu chúc khóa tu Ni giới Giáo đoàn III thành công tốt đẹp và mang đến nhiều an vui cho chư hành giả tham dự.

 

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết:

Các bài viết liên quan