CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


HT. Giác Toàn thăm và sách tấn Ni giới GĐ III trong Khóa “Sống chung tu học” lần thứ 13

Vào sáng ngày thứ 7, ngày 11/09/Tân Sửu (nhằm 16/10/2021), HT. Giác Toàn - Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, Trưởng ban Thường trực Hệ phái thăm và sách tấn Ni giới GĐ III trong khóa tu “Sống chung tu học” lần thứ 13.

Trước khi giảng pháp, Hòa thượng có lời tán thán: “Thật hoan hỷ với đại chúng Ni, dưới sự hướng dẫn của chư Tôn đức Giáo phẩm, dù trong hoàn cảnh khó khăn cũng cố gắng tổ chức khóa tu để nhắc nhở chăm sóc tinh thần tu tập hành trì giáo pháp của chư Ni.” Đồng thời Hòa thượng khuyến nhắc chư Ni tích cực hưởng ứng và ủng hộ bằng chính tự thân đối với phương cách phòng bệnh trong cộng đồng để hỗ trợ các cơ quan chức năng cũng như bên y tế, nhằm đem lại bình yên cho dân chúng.

Hòa thượng dạy: “Trong buổi gặp hôm nay, nhà Sư không nói gì mới ngoài hai ý pháp thông qua hai bài kinh “Cây Trú Độ” và kinh “Đại Câu-hy-la”. Chính bản thân nhà Sư đã tu tập và hành trì theo ý pháp trong hai bài kinh này, thấy rất hoan hỷ. Bởi vì, tâm của chúng ta sống trong thời đại xa Phật, xa Pháp, chỉ còn lòng thành hướng đến giáo pháp của đức Thế Tôn, đến các vị Tổ sư, đặc biệt là Tổ sư Minh Đăng Quang…”. 

Kinh Cây Trú Độ

Bài kinh này nằm trong phẩm Bảy pháp thuộc Trung A-hàm. Bài kinh nói về 7 giai đoạn của cây Trú Độ ở cõi Tam Thập Tam thiên, ngang qua đó, đức Phật dạy về tiến trình chứng bốn tầng thiền của một Tỳ-kheo tu tập thiền định.

Hòa thượng giảng trạch các giai đoạn tu tập của một hành giả từ xuất gia (lá cây rụng), chứng tứ thiền (lá cây mọc lại, kết mạng lưới, nở nụ như mỏ chim, nở hoa như cái bát), đạt tâm giải thoát, tuệ giải thoát, và cuối cùng là chứng đắc quả vị A-la-hán (nở hoa tròn trịa).

Đọc bài kinh, chúng ta tưởng chừng như đang đọc câu chuyện ngày xưa. Dù không có chuyện gì cao siêu, nhưng ý đạo rất sâu sắc, thâm trầm. Vì sao vậy?

“Nếu lá cây Trú Độ Tam Thập Tam thiên úa vàng, lúc đó thiên chúng ở Tam Thập Tam thiên vui mừng hớn hở, cho rằng lá cây Trú Độ chẳng bao lâu nữa sẽ rụng. Rồi thì lá cây ở Tam Thập Tam thiên đã rụng. Lúc đó, chư thiên ở Tam Thập Tam thiên vui mừng hớn hở cho rằng lá cây Trú Độ chẳng bao lâu nữa sẽ mọc lại. Rồi thì lá cây Trú Độ ở Tam Thập Tam thiên đã mọc lại. Lúc đó, chư thiên ở Tam Thập Tam thiên vui mừng hớn hở cho rằng cây Trú Độ chẳng bao lâu nữa sẽ kết mạng lưới. Rồi thì cây Trú Độ ở Tam Thập Tam thiên đã kết mạng lưới. Lúc đó, chư thiên ở Tam Thập Tam thiên vui mừng hớn hở cho rằng cây Trú Độ chẳng bao lâu nữa sẽ nở nụ giống như mỏ chim. Rồi thì cây Trú Độ ở Tam Thập Tam thiên đã nở nụ giống như mỏ chim. Lúc đó, chư thiên ở Tam Thập Tam thiên cho rằng cây Trú Độ chẳng bao lâu nữa sẽ nở hoa giống như cái bát. Rồi thì cây Trú Độ ở Tam Thập Tam thiên đã nở hoa như cái bát. Lúc đó, chư thiên ở Tam Thập Tam thiên hớn hở cho rằng cây Trú Độ chẳng bao lâu hoa sẽ nở tròn trịa. Nếu cây Trú Độ nở hoa tròn trịa thì nó chiếu ra ánh sáng, màu sắc và tỏa ra mùi thơm trong chu vi trăm do-diên. Lúc bấy giờ, vào tháng Tư mùa hạ, các vị Tam Thập Tam thiên vui đùa với năm món dục lạc cõi trời. Đó là chư thiên ở Tam Thập Tam thiên tập trung dưới cây Trú Độ mà hưởng thọ sự hoan lạc”.

Và rồi:

“Theo ý nghĩa như thế, vị Thánh đệ tử cũng vậy. Khi suy nghĩ đến việc xuất gia, lúc đó, vị Thánh đệ tử như là chiếc lá úa vàng, cũng giống như lá cây Trú Độ ở cõi Tam Thập Tam thiên vàng úa”.

Đây là điều mà chúng ta cần phải suy ngẫm. Khi lá cây úa vàng, lẽ ra chư thiên phải buồn, nhưng ở đây chư thiên lại vui vì biết rằng lá cây úa vàng rồi sẽ rụng xuống. Lá úa rụng xuống là dấu hiệu cho thấy sẽ có một chồi non mới sanh lên, từ chồi non ấy sẽ nở hoa, và hoa mới nở ấy khoác trên mình tất cả sự đẹp đẽ.

Cũng như vậy, chúng ta, khi xin cha mẹ đi xuất gia cũng giống như chiếc lá úa kia. Rũ bỏ tất cả tình, tiền, danh, lợi, vật chất… ở đời để đến với một cuốc sống mới, tươi đẹp hơn. Một cuộc sống không còn những lợi dưỡng, không còn những dục lạc thế gian, không còn những khổ đau phiền muộn. Đó là cuộc sống của một người “Khất sĩ”.

Sau khi đã giác ngộ đời thì nhận thấy tâm mình giờ đây như lá úa vàng. Bây giờ, đối với sự hưởng thụ ở đời, mình không còn tranh chấp, hơn thua… Kiểm lại chính mình, từ ngày đi tu tới giờ, tâm mình diễn biến thế nào, có đi thuần thục trong đạo không, có buông bỏ được sự ưa thích dục lạc ở đời không?

Chư Ni, nhất là chư Ni tân học, khi đọc bài kinh này, tự cảm nhận xem tâm thức của mình có như vậy hay không? Trước kia, ta xem mọi sự vận hành trong cuộc sống xã hội, cái ăn, mặc, ở, tình, tiền, danh, lợi, vật chất… thật nhẹ nhàng, tự nhiên. Khi đi tu rồi, thấy những thứ ấy không còn ham muốn, giống như lá úa vàng. Vì nghĩ như vậy, nên ta  không bị sự hưởng thụ ở đời chi phối.

Mình giống như lá trong cây đời và mình rụng xuống khỏi cây đời, rụng khỏi cây sinh hoạt với gia đình. Ví như khi cha mẹ chia gia sản cho những người con, chúng ta không nhận phần đó và chúng ta xin đi tu, không còn muốn hưởng thụ những gì trong gia đình cho.

Trước khi đi tu, mình mang thân do cha mẹ sinh ra. Thân, khẩu, ý mang nếp quen nhiều đời, thân quen làm điều ác, miệng quen nói lời ác, ý quen nghĩ điều xấu ác. Khi đi tu rồi, ta phải làm cho những cái đó “rụng xuống”, từng bước từng bước thể nhập chánh pháp. “Vị Thánh đệ tử ly dục” giống như lá đã rụng xuống. Mọi điều xấu ác đều buông hết, gọi đó là “ly pháp ác bất thiện”.

Khi vào cửa đạo, ban đầu, ta có thể sẽ bị các pháp thế gian chi phối, còn sân giận, buồn vui. Nhưng khi được Thầy tổ dạy cho pháp hành thiền, trong mọi sinh hoạt hàng ngày, tâm thức ta luôn “có giác có quán”, chúng ta sẽ ngộ ra được: “Ah, cái này có đẹp thì cũng thuộc về vật chất, nó cũng vô thường, khổ não, vô ngã và bất tịnh”. Nhờ giác quán như vậy mà chúng ta “ly dục, ly ác pháp bất thiện”, tâm thức càng mạnh mẽ, không ham muốn gì, do đó mà “thành tựu và an trụ sơ thiền” một cách dễ dàng. Lúc đó, “Vị Thánh đệ tử được gọi là sanh trở lại, giống như lá cây ở Tam Thập Tam thiên sanh trở lại”.

Tiếp tục như vậy, sau một thời gian, chúng ta sẽ lần lượt chứng đắc nhị thiền, tam thiền và tứ thiền. Cho đến khi các lậu đã đoạn tận, tâm giải thoát, tuệ giải thoát, tự tri, tự giác, tự tác chứng, thành tựu an trụ, trở thành Tỳ-kheo lậu tận A-la-hán. Lúc đó, “vị Thánh đệ tử được gọi là hoa nở tròn trịa, cũng giống như cây Trú Độ ở Tam Thập Tam thiên nở hoa tròn trịa” và biết đúng như thật rằng “Sanh đã hết, Phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa”, như cây Trú Độ nở hoa sung mãn nhất, “hoa nở tròn trịa”.

Nếu chúng ta đi trên con đường đúng chánh pháp, xa lìa những gì mà đời ham muốn, thì việc chứng đắc Thánh quả không phải là khó, cũng không phải là dài. Ngược lại, nếu ta đi tu rồi mà tâm vẫn ngóng trông về đời thì việc tu tập quả thật rất khó.

Kinh “Đại Câu-hy-la”

Bài kinh “Đại Câu-hy-la” nằm trong phẩm Tương Ưng Xá-lợi-phất thuộc Trung A-hàm. Ở đây, Tôn giả A-nan thuật lại câu chuyện giữa Tôn giả Xá-lợi-phất và Tôn giả Câu-hy-la, về các điều kiện nhận biết của một vị Tỳ-kheo tu tập thiền định, thành tựu chánh kiến, thể nhập chánh pháp, chứng đắc tứ thiền.

Một vị hành giả tu tập là phải thấy biết bất thiện và căn của bất thiện. Vậy:

 “Thế nào là bất thiện? Thế nào là căn của bất thiện? Thân ác hành, khẩu và ý ác hành, đó là bất thiện vậy. Tham, nhuế, si, đó là căn của bất thiện vậy”.

Chúng ta, hàng ngày ăn cơm Như Lai, ngồi tòa Như Lai, mặc áo Như Lai. Vậy mà hàng ngày tay chân hành động còn làm điều xấu ác; miệng vẫn còn hơn thua, phải quấy; trong tâm tánh còn nghĩ vị này xấu, vị kia quấy… còn để vui buồn, tham, sân, si chi phối như ở đời thì thật tội nghiệp.

Ví như, đồ ăn để qua đêm, bị chuột, gián bò vào; khi nhìn thấy vậy, ta giận dữ, lấy cây đánh đập chúng. Đây là những việc làm xấu ác.

Và rồi:

“Thế nào là thiện? Thế nào là căn của thiện? Thân diệu hạnh, khẩu và ý diệu hạnh, đó là thiện vậy. Không tham, không nhuế, không si, đó là căn của thiện vậy. Đó là thiện và căn của thiện”.

Một người nữ ở đời còn phải công-dung-ngôn-hạnh, huống chi chúng ta bây giờ đã là một Ni cô ở chùa, ở tịnh xá mà không hiền, thì tội nghiệp mình quá.

Một vị Ni tân học hãy so với một vị Tỳ-kheo đã tu được 10 năm, 20 năm… xem đó như một chuẩn mực để hướng tới. Do đó, vị này phải ráng học oai nghi, bài học Khất sĩ, bài học Sa-di cho thật kỹ; từ từ tập cho tâm tánh được thuần thục, rồi tiến đến tìm đến cái thiện, cái căn của thiện.

Đi tu thì phải dằn lòng mình, phải giữ được hiền thiện, tâm tánh lúc nào cũng vui vẻ, hoan hỷ. Ví như, khi một người lạ hay quen đến chùa, mình đều nhẹ nhàng niệm “Mô Phật” chào.

Chư Tăng, chư Ni, trong ý thức luôn luôn thấy biết chính mình, giữ được tâm mình, không để cái xấu ác của thân khẩu ý chi phối. Phải tự mình loại trừ 3 căn của bất thiện khỏi tâm tánh, giữ cái hiền thiện, giữ cái bất hoại tịnh. Đó chính là thành tựu kiến, thể nhập chánh pháp.

Điều kiện để vị Tỳ-kheo thành tựu kiến, được bất hoại tịnh và thể nhập chánh pháp, đó là: “Biết như thật về hành, tập của hành, diệt của hành, và diệt đạo của hành”. Đây là nền tảng của tứ diệu đế.

Biết như thật về hành, tức là biết có ba hành: Thân hành, khẩu hành và ý hành. Biết như thật về tập của hành, là biết “do vô minh mà có hành”. Biết như thật về diệt của hành, là biết “vô minh diệt tức hành diệt”. Biết như thật về diệt đạo của hành, là biết “tám chi Thánh đạo, từ chánh kiến cho đến chánh định là tám”. Đó là “Tỳ-kheo đã thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh và thể nhập chánh pháp. Nếu có thầy Tỳ-kheo vô minh đã dứt, minh đã phát sanh, vị ấy không còn gì phải làm nữa”.

Chánh kiến là chi phần đầu tiên của Tám chi Thánh đạo, là nấc thang đầu tiên để một hành giả tu tập Giới-Định-Tuệ, từ đó có thể tiến xa trên lộ trình giải thoát. Khi thành tựu chánh kiến, hành giả có được niềm tin bất hoại, đó là đức tin kiên cố, trong sáng, không lay chuyển đối với Phật, Pháp, Tăng và Thánh giới.

Ý pháp của hai bài kinh trên cần phải được ứng dụng vào đời sống tu tập hằng ngày của giới xuất gia Tỳ-kheo, đệ tử Đức Phật nói chung và đặc biệt làTăng Ni của Hệ phái Khất sĩ Việt Nam.

Mong rằng qua những khóa tu, chư Ni tự mình thể nghiệm về nhân sinh quan và thế giới quan quanh ta; về căn bản của sự có mặt của con người; về thập nhị nhân duyên. Khi thấy rõ từ vô minh, hành cho đến sanh tử, rồi chúng ta tu tập quán ngược lại, chuyển từ vô minh thành trí tuệ. Cho đến khi đạt được trí tuệ, thì Đạo - Quả viên thành.

Sau khi Hòa thượng thời chia sẻ giáo pháp, NT. Hiệp Liên - Trưởng ban Quản sự Ni giới GĐ III đại diện chúng Ni dâng lời tri ân và khánh tuế đến Hòa thượng 74 tuổi.

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết:

Các bài viết liên quan