CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !

Lâm Đồng: ĐĐ. Giác Tuyên thăm và chia sẻ giáo lý tại khóa “Sống chung tu học” Ni giới Giáo đoàn III

Ngày tu thứ 5 (29/4/2024 - 21/3/Giáp Thìn) khóa “Sống chung tu học” lần thứ 18 của Ni giới GĐ.III được tổ chức tại tịnh xá Ngọc Ninh (Đức Trọng, Lâm Đồng), đã cung đón ĐĐ. Giác Tuyên - Phó Thư ký GĐ.III, Trụ trì tịnh xá Ngọc Y (Cam Ranh, Khánh Hòa), thăm và chia sẻ pháp thoại với chủ đề: “Tìm hiểu cách học đạo trong Chơn lý của Tổ sư qua khái niệm Tam học”.

Khi bước chân vào đạo, chúng ta tâm niệm rằng từ bỏ cuộc sống thế tục, người xuất gia có hai việc quan trọng là tu và học, học mà không tu thì như cái đãy đựng sách, tu mà không có kiến thức thì cũng rất là khó khăn, mò mẫm, cũng như người không có bản đồ. Do đó, cái nào cũng quan trọng nhưng cốt lõi là học như thế nào, tu như thế nào.

Học đơn giản đó là một hoạt động để tiếp thu kiến thức, tiếp thu những điều phụ giúp vào đời sống của mình, qua đó chúng ta có kiến thức, có phương pháp, có cách ứng xử. Học là một khả năng thiên bẩm, một tố chất có sẵn của tất cả mọi loài hữu tình chúng sanh. Đối với một người xuất gia hay tại gia thì việc học là luôn có sẵn với mình. Học là cách tiếp thu kinh nghiệm góp phần thay đổi đời sống tinh thần, đời sống trí tuệ và chuyển hóa những điều người tu chúng ta đang cần làm.

Đạo là con đường chuyển hóa, tịnh hóa thân tâm. Đức Phật khẳng định: “Đạo là con đường thấy rõ nguyên nhân của khổ, con đường đưa đến sự diệt khổ. Tóm lại, đạo là chân lý”.

Trong Chơn lý - Nhập định, Tổ dạy như sau: “Sự tu hành cũng như ăn cơm để sống, điều ấy vốn không mau chậm hay là đường quanh nẻo tắc gì cả. Vậy nên chúng ta hãy nên chậm rãi mà đi”. Con đường đi tu, con đường học đạo là một con đường thênh thang, chúng ta cần đi đúng con đường đó, với một tâm thái rộng mở để sẵn sàng nhận diện con đường học sao cho phù hợp.

Như vậy, học đạo giúp cho mình chuyển hóa khổ đau. Tổ sư dạy trong Chơn lý - Học chơn lý: “Chơn lý như mặt trời, pháp lý như đèn sao, thế sự như hang tối. Vậy cái học của chúng ta là học chơn lý mới gọi rằng là thật học.” Chơn lý ở đây là nhận diện khổ, thấy được con đường đưa đến sự diệt khổ, đó là đạo.

Ở đây chia ra là hai cấp độ: (1) Cấp độ học: Văn học, tư học và tu học. (2) Cấp độ tu: Văn tuệ, tư tuệ và tu tuệ. Trong Kinh Kalama thuộc Kinh Tăng chi bộ, khi đi đến vương quốc Kosala và đi ngang qua vùng Kesaputta, Đức Phật đi đến và dạy cho những người dân Kalama. Khi những người dân hỏi Đức Phật rằng nghe Gotama xuất thân từ dòng tộc Sát-đế-lợi, từ bỏ đời sống như thế thì có nên tin hay không tin. Đức Phật liền dạy: “Đừng có tin bất kỳ điều gì là tin đồn, là truyền thuyết, là truyền thống và chỉ tin khi bản thân của chúng ta kiểm nghiệm có lợi cho mình, có lợi cho số đông, được các bậc Thánh ngợi khen, điều đó hãy tin.”

Cấp độ thứ nhất, văn học ở đây không phải là danh từ. “Văn” là trong tiếng Hán, còn trong tiếng Việt dịch là “nghe”. Cho nên các vị đệ tử của Đức Phật, học giáo lý ngang qua lời dạy của đức Phật. Đức Phật dạy rằng nghe rồi tu học theo, cho nên gọi là Thanh văn, bởi việc nghe này các vị tu tập đều chứng quả, do đó nói bậc Đa văn Thánh đệ tử qua sự nghe học, tu tập. Văn là chúng ta tiếp nhận bằng nghe nhưng chúng ta có thể tiếp nhận bằng mắt, rộng hơn nữa là chúng ta có thể nghe và thấy bằng hai giác quan phối hợp, chúng ta cũng có thể cảm nhận. 

Như trong cuộc sống chúng ta được thân cận các Sư trưởng, có đức hạnh, có đời sống đạo lực thì chắc chắn cũng không cần nghe các vị ấy nói nhiều, hơn nữa chư Tôn túc cũng rất ít nói. Việc tiếp nhận một kinh nghiệm, kiến thức và năng lượng tu học, nghe và thấy đều được, cũng có thể tiếp nhận bằng tất cả các giác quan. Đối với bậc trí là người thân cận các bậc Thánh thì học và thuần thục được nhiều hơn, hiệu quả hơn khi đơn thuần chỉ là tai, mắt. Như vậy, việc học khá là quan trọng và tu cũng là quan trọng. Đó là đạo lộ tương đối an toàn cho chúng ta.

Trong Chơn lý - Võ trụ quan Tổ sư có viết: “Biết quý báu hơn không biết, có biết mới hết mê lầm chấp chặt khổ sở nạn tai, cái biết là ta, là một đức của chúng sanh, là chơn lý của cuộc đời, là tinh ba của võ trụ. Muốn biết thì chúng ta phải tu học”. Tổ khẳng định rằng việc tu học là việc quan trọng. Như vậy, việc học là việc tiên quyết đối với Tăng Ni. 

Trong Chơn lý - Khất sĩ, Tổ có dạy: “Người không học như người mù đôi mắt, như xác chết không hồn, dầu có bị lửa đốt co que, cử động như nói, như ăn, như đi, như làm, thì vị ấy có khác nào hình đất khúc cây, có biết vui chi, hay mùi vị của cái sống”. Do đó, việc học là khá quan trọng, học đạo, học để giúp ích cho việc chuyển hóa khổ đau của mình.

Tuy nhiên, người học cũng có hai thái cực: (1) Cho rằng việc học là việc quan trọng, cố chấp, ôm chặt, cho rằng đó là quan trọng tuyệt đối, điều đó là sai lầm; (2) Chúng ta hời hợt, không có tâm huyết, không có sự dụng công và không có chánh niệm.

Tổ dạy trong Chơn lý - Có và không: “Có để đặng đến chơn như, không để đặng đến chơn như, tu để đặng đến chơn như, chấp vô ba pháp cũng đến chơn như, không chấp cũng đến chơn như, mới thiệt là có, mới thiệt là không, mới thiệt là ta. Vậy ta cần biết chơn như là đủ”. Từ bỏ hai thái cực chấp và hời hợt, mà chúng ta cần phải nỗ lực. Vì vậy trong Chơn lý - Võ trụ quan, Tổ dạy: “Người mà giác ngộ chơn lý mới biết đường đi, mới đi đến cảnh cao siêu tốt đẹp của tâm hồn vĩnh viễn, chắc thiệt yên vui mới gọi là ta, là của ta, mới có nghĩa lý, mới có lợi ích, hết mê lầm không loạn vọng, không sợ chấp chi nữa hết”. Giác ngộ ở đây là thấy rõ chơn không diệu hữu, cái có phải có trong sự diệu dụng là không có chơn, chứ không phải không có hời hợt.

Do đó, việc học là việc cần thiết chúng ta phải học, học với tâm thức cởi mở. Học ở mọi nơi, học đạo, học chuyển hóa khổ đau thành tựu chánh trí, học phải kèm với tu.

Sau khi học bằng tai, mắt, chúng ta có một khối lượng kiến thức, học gì cho sự giải thoát của mình. Chúng ta cần tư duy, quán chiếu, đó là một quy trình cần thiết. Nếu chúng ta tích lũy kiến thức cho thật nhiều mà không tư duy quán chiếu để chuyển hóa nó, có ngày chúng ta sẽ bội thực bởi khối kiến thức này. Kiến thức như thế trở thành một sự chướng đạo. Do đó, chúng ta cần phải tư duy, cần phải thẩm sát đời sống thực tế của mình. Đó gọi là “tư”, là những trải nghiệm nơi tự thân ngang qua những điều giúp cho mình có thể tấn hóa trong sự tu tập. Kết quả của tư học là mình thấy rõ cái gì phù hợp, thích ứng với mình để mình ứng dụng.

Đối với giáo lý Tứ đế, mỗi một người sẽ có một trải nghiệm khác nhau, tùy vào căn cơ trình độ mà sẽ có trải nghiệm khác nhau, bằng tư duy phân tích, chứng nghiệm tự thân sẽ tìm thấy được cái phù hợp giác ngộ với mình.

Tu học là giai đoạn thứ ba, sau khi có được kiến thức, kiểm soát tự thân, tìm cho mình một con đường phù hợp với mình để có một đời sống tu học thật sự có giá trị. Trong Chơn lý - Có và không, Tổ sư có viết: “Có giữ giới vạn vật mới tốt đẹp, có thiền định chúng sanh mới sống đời, có trí tuệ các pháp mới trọn lành trong sạch”. Lắm lúc tưới cây, quét lá lại trở thành giây phút thiền tập, tâm vui: “Xin nguyện cho hoa trái hiến tặng cho cuộc đời”. Khi có trí tuệ rồi thì các pháp trở nên trọn lành, trong sáng. Khi một người tu giới - định - tuệ mà không học thì cũng không thành tựu, do đó chúng ta cần phải học. Học cách hành trì giới, học cách để nhiếp tâm. Việc tu tập giới - định - tuệ cũng bắt đầu từ việc văn - tư - tu.

Cuối cùng, Đại đức thành kính niệm ơn sự lắng nghe của quý Ni trưởng, Ni sư và chư Tôn đức Ni, nguyện chúc lành đến toàn thể đại chúng và được sống trong chánh pháp của chư Phật.

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết:

Các bài viết liên quan