CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !

Pháp an cư và lợi ích thiết thực

Từ những ngày đầu, Tăng đoàn được hình thành và sau đó đi khắp nơi giáo hóa chúng sanh. Chính mục tiêu giáo hóa rộng rãi này mà nhóm lục quần Tỳ kheo đã đi du hành nhiều nơi, ngay cả mùa mưa, giẫm chết nhiều côn trùng và cây cỏ. Chứng kiến cảnh tượng này, nhiều cư sĩ đã không được hoan hỷ cho việc làm ấy và thường hay than phiền rằng: “Những tu sĩ ngoại đạo hằng năm vẫn có ba tháng cố định tại một chỗ, ngay đến các loài cầm thú vẫn còn có mùa trú ẩn của chúng; huống chi những người Sa môn Thích tử lại không biết nghỉ chân vào mùa mưa, trái lại du hành bất cứ mùa nào”[1]. Khi sự việc này đến tai Thế Tôn, Ngài liền gọi nhóm lục quần Tỳ-kheo để khuyên răn và chế định pháp an cư.

Cũng từ đó, ngay khi Thế Tôn còn tại thế, Tăng đoàn đã y giáo phụng hành và lưu truyền pháp an cư cho đến nay. Theo truyền thống Bắc tông, cứ mỗi độ hạ về, chư Tăng Ni đã, đang, sẽ hành trì lời Ngài dạy qua pháp an cư, đặc biệt theo thời tiết Việt Nam từ 16 tháng 4 đến 16 tháng 7 hằng năm.

Mùa an cư bao giờ cũng có giá trị và mục đích quan trọng trong đời sống Tăng già và sự nghiệp truyền bá Chánh pháp, thể hiện tinh thần hòa hợp, sống chung tu học của cộng đồng Tăng lữ tại một trú xứ được quy định nhằm sách tấn cho nhau. Có 3 phương diện lợi ích:

A. Lợi ích cá nhân:

1. Hành trì giới luật.

2. Tu tập thiền định.

3. Tụng kinh bái sám.

4. Thảo luận và trao đổi giáo pháp để giúp nhau cùng tiến bộ về tâm linh.

5. Tăng hạ lạp phước điền.

B. Lợi ích Tăng già:

1.Chánh pháp lưu bố rộng rãi.

2. Thực hành các pháp: Yết ma, Thọ giới, Vu lan...

3. Trưởng dưỡng nếp sống hòa hợp và trí tuệ của Tăng đoàn.

4. Làm thanh tịnh và cường thịnh Đại chúng.

5. Cây cỏ, côn trùng không bị giẫm chết.

C. Lợi ích cho Phật tử tại gia và xã hội:

1. Thân cận học hỏi giáo lý.

2. Gieo duyên phước điền.

3. Quy y và tu tập theo giáo pháp.

4. Noi gương gia đình, xã hội.

5. Tụng kinh, bái sám và tổ chức lễ Vu lan Báo hiếu.

Định mệnh của Tăng đoàn hay Chánh pháp được duy trì và tồn tại là do hành trì giới luật, đó chính là những điều kiện hưng thịnh của hội chúng Tỳ-kheo. Vì vậy trong Kinh Đại Bát Niết Bàn, Thế Tôn đã dạy về 7 pháp bất thối.

“Này các Tỳ kheo, khi nào chúng Tỳ- kheo:

1. “Thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo với nhau, thời này các Tỳ-kheo, chúng Tỳ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm”.

2. “Tụ họp trong niệm đoàn kết, giải tán trong niệm đoàn kết và làm việc Tăng sự trong niệm đoàn kết...”.

3. “Khi nào chúng Tỳ-kheo không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được ban hành, sống đúng với học giới được ban hành, thời này các Tỳ-kheo, chúng Tỳ kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm”.   

4. “Khi nào chúng Tỳ-kheo tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường đảnh lễ các bậc Tỳ kheo Thượng tọa, những vị này là những vị giàu kinh nghiệm, niên cao lạp trưởng, bậc cha của chúng Tăng, bậc thầy của chúng Tăng và nghe theo lời dạy của những vị này, thời này các Tỳ-kheo, chúng Tỳ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm”.

5. “Khi nào chúng Tỳ-kheo không bị chi phối bởi tham ái, tham ái này tác thành một đời sống khác, thời này các Tỳ kheo, chúng Tỳ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm”.

6. “Khi nào chúng Tỳ-kheo thích sống những chỗ nhàn tịnh, thời này các Tỳ-kheo, chúng Tỳ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm”.

7. “Khi nào chúng Tỳ-kheo tự thân an trú chánh niệm, khiến các bạn đồng tu thiện chí chưa đến muốn đến ở và các bạn đồng tu thiện chí đã đến ở, được sống an lạc, thời này các Tỳ kheo, chúng Tỳ kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm”.

Này các Tỳ-kheo, khi nào bảy pháp bất thối này được duy trì giữa các vị Tỳ-kheo, khi nào các vị Tỳ kheo được dạy bảy pháp bất thối này, thời các Tỳ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm”[2].

Thế Tôn luôn tán thán ca ngợi đời sống trầm lặng của các Tỳ-kheo sống xa lánh nơi ồn ào náo nhiệt. Tuy vậy, không có nghĩa là một Tỳ-kheo sống tách biệt ngoài cộng đồng Tăng lữ. “Đời sống của vị Tỳ-kheo là đời sống không bị ràng buộc gia đình. Tùy thuận không cố định vĩnh viễn tại một trú xứ nào, phải được nối kết thành một cộng đồng thống nhất bằng Giới bổn mà chúng Tỳ-kheo nửa tháng một lần phải tụ họp tụng đọc, được cũng cố hơn nữa trong ba tháng an cư”[3]. Tăng đoàn thanh tịnh và hòa hợp là tiêu biểu sức sống cụ thể của giáo pháp Thế Tôn đã dạy:

“Vui thay, Đức Phật ra đời.

Vui thay, Giáo pháp giảng lời sâu xa,

Vui thay, hòa hợp Tăng già.

Lành thay, Tứ chúng vui mà đồng tu”[4].      

Như trong Kinh Pháp Trang Nghiêm thuộc Kinh Trung Bộ, vua Pasenadi nước Kosala đã ca ngợi tán thán các Tỳ-kheo: “Sống với nhau hòa thuận, thân hữu, không cãi lộn nhau, hòa hợp như nước với sữa, nhìn nhau với những cặp mắt ái kính”[5]. Đó là chỗ nương tựa tinh thần vững chắc và niềm tin chân chánh cho những người Phật tử tại gia luôn hộ trì Tăng đoàn trong vấn đề tứ sự, tạo điều kiện để chư Tăng, Ni an tâm tu học. Qua câu chuyện cổ Phật giáo, hình ảnh bà lão dị kỳ ở Mã Đề thôn, xứ Kiều Tất La, trong một mùa an cư đã hộ trì đắc lực cho 61 vị Tỳ-kheo khi Thế Tôn còn tại thế. Bà lão đã đáp ứng bất cứ một điều kiện gì khi các vị Tỳ-kheo ước muốn, kết quả trong đó có một vị Tỳ-kheo chứng được A-la-hán.

Như vậy, mùa báo hiếu của những người con Phật, cùng về với mùa hoan hỷ của mười phương chư Phật, tán thán giới hạnh của chư Tăng Ni đã tròn tuổi hạ qua ba tháng an cư. Chúng ta cần phải duy trì pháp an cư, vì mỗi mùa an cư nào cũng đều có giá trị và lợi ích thiết thực trong đời sống Tăng đoàn và Phật tử tại gia cũng như lan rộng ra xã hội: Chánh pháp lưu bố rộng rãi; cây cỏ, côn trùng không bị giẫm chết; long thần, hộ pháp ủng hộ; hành trì giới pháp, an trú thiền định; chung sống hòa hợp thanh tịnh trong tinh thần đoàn kết... làm đẹp mãi và rạng rỡ hình bóng Như Lai.

Ngàn đóa hoa nở thơm tươi trong nắng hè. Ôi! Đẹp biết bao qua hình ảnh chư Tăng Ni an cư kiết hạ, trau dồi hạnh đức. Hình ảnh ấy đã thắp sáng trong quá khứ qua từng dòng tâm niệm. Dòng tâm niệm ấy đã trở thành một chất sống cho hiện tại và miên viễn trong cuộc đời.         

Mỗi mùa hạ đến như khiến tôi nhớ lại bao hình bóng áo vàng thanh thoát của chư tôn đức Tăng Ni cũng như bao chiếc áo lam thân quen của các Phật tử cùng nhau hân hoan, đón mừng ngày Phật đản, sau đó lễ vào hạ, mỗi vị đều có trách nhiệm riêng của mình. Chư Tăng tinh tấn tu tập trau dồi thân tâm, làm phước điền vô lậu cho chúng sanh. Nhớ những năm tháng trước đây, một thời tôi còn học ở mái trường Cao cấp Phật học (nay là Học viện Phật giáo) được an cư, tu học với chư huynh đệ tại đạo tràng tịnh xá Trung Tâm nên có đôi dòng cảm xúc:

“Thành phố trời vào hạ

Bình Thạnh khóa an cư

Trung Tâm nơi trú xứ

Chư Tăng thanh tịnh tu.

Hơn trăm vị quy tụ

Chung nhau sống lục hòa

Trong niềm vui đạo pháp

Rừng thiền trổ trăm hoa.

Trên con đường lá đổ

Lòng bỗng nhớ cảnh xưa”.


[1] Thích Trí Thủ, Luật Tỳ Kheo, tập 1, Yết Ma Yếu Chỉ, Trường Cao cấp Phật học Việt Nam 1991, trang 215.

[2] Đại Tạng Kinh Việt Nam, Kinh Trường Bộ, tập I, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam 1991, trang 547 – 549.

[3] Thích Trí Thủ, Luật Tỳ Kheo, tập 1, Yết Ma Yếu Chỉ, Trường Cao cấp Phật học Việt Nam 1991, trang 218.

[4] Kinh Pháp cú, kệ 194.

[5] Đại Tạng Kinh Việt Nam, Kinh Trung Bộ, Kinh Pháp Trang Nghiêm, tập II, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam 1992, trang 618.

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết:

Các bài viết liên quan