CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !

TP.HCM: TT.Minh Lực chia sẻ về duyên khởi tại trường hạ Pháp viện Minh Đăng Quang

Ngày 07/6/2024 (02/5/Giáp Thìn), TT.Minh lực - UV ban TTTW, Trưởng Ban Thường trực GHPGVN tỉnh Bình Dương, lần đầu tiên có buổi chia sẻ thời pháp tại trường hạ Pháp viên Minh Đăng Quang (TP.Thủ Đức, TP.HCM), với đề tài duyên khởi - nguyên nhân hình thành kinh Duy Ma Cật.

Thượng tọa cho biết, trong xuyên suốt chiều dài lịch sử hình thành và phát triển của Phật Giáo, ghi nhận có 4 lần kiết tập kinh điển chính thống, được chấp nhận rộng rãi. Lần đầu tiên khoảng 3 tháng sau khi Đức Phật nhập Niết-bàn, lần 2 diễn ra khoảng 100 năm sau khi Phật nhập diệt, lần 3 khoảng 200-300 năm sau khi Phật nhập diệt, lần 4 là khoảng 400 năm sau khi Phật nhập Niết-bàn.

Theo đó, có 3 nền tảng kinh điển chính của Phật giáo được công nhận, gồm bộ kinh tạng Nikaya (Trung bộ kinh, Trường bộ kinh…), bộ A hàm (Trường A hàm, Trung A Hàm…) và bộ gồm các kinh Đại thừa phát triển (Kinh Pháp Hoa, Kinh Lăng Nghiêm, Kinh Bát Nhã…).

Đặc biệt, nói về việc xác định sự chính thống trong kinh điển Phật giáo, Thượng tọa cho rằng, ngoài lục chủng thành tựu (Văn, Tín, Thời, Chủ, Xứ, Chúng), thì dùng tam pháp ấn làm pháp đo để xác định. Trong đó, tam pháp ấn của các trường phái kinh điển vừa có sự tương đồng, vừa có sự khác biệt. Có thể nhận thấy như sau:

  • Trong hệ thống kinh điển Nikaya (Nguyên thủy), tam pháp ấn là: Vô thường tất cả các pháp không ngừng biến đổi sanh trụ dị diệt, chúng sanh thì sanh lão bệnh tử; Khổ chúng sanh trong vòng duyên sanh này đều là khổ; Vô ngã các pháp không có chủ thể thường hằng bất biến, tất cả pháp đều do duyên sanh mà có.
  • Trong kinh A hàm (nhất thiết hữu bộ) tam pháp ấn là: Khổ không (bản thể của khổ là không thật có, không có thật tuớng, khổ cũng là vọng tưởng, vọng chấp); Vô Thường & Vô ngã.
  • Trong hệ thống Kinh đại thừa phát triển, tam pháp ấn là: Không không ở đây có nghĩa là rỗng không, không có tự ngã riêng biệt. Không ở đây không có nghĩa là không đối với có, mà gần giống nghĩa vô ngã ở trên; Vô tướng là tướng không, bản thể của các pháp là tướng không. Như Kinh Kim Cang nói: “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng, nhược kiến chư tướng phi tướng tức kiến Như Lai”, dịch: hễ cái gì có tướng đều là không thật, nếu thấy các tướng chẳng phải tướng, tức thấy Như Lai. Vô tác tất cả các pháp không có tác giả tạo tác ra mà do duyên sanh mà hình thành, gần giống nghĩa vô ngã ở trên.

Cuối buổi giảng, Thượng tọa tổng kết lại hai luồng tư tưởng tồn tại trong xuyên suốt quá trình hình thành và phát triển Phật giáo, cũng là hai luồng tư tưởng tưởng chừng như xung đột nhau giữa các hệ phái, các tông phái, các cá nhân tu sĩ, hay đặc biệt hơn là xung đột ngay trong chính nội tâm tư tương của mỗi vị tu sĩ Phật giáo, đó là tư tưởng xuất thếtư tưởng nhập thế.

Tư tưởng xuất thế chủ trương lìa bỏ tất cả những gì về phàm tục, sống một cuộc sống tách biệt với thế tục. Thường các vị tu tập theo tư tưởng này, sống trong rừng sâu núi thẩm, không tiếp xúc, hoặc tiếp xúc rất ít với người đời. Định hướng tu tập theo con đường giới - định - tuệ, từ phàm phu tới bậc Thánh toàn giác. Mục tiêu tối hậu là tự độ mình giải thoát. Đây cũng là tư tưởng chính trong 300 năm đầu sau khi Phật nhập diệt.

Tư tưởng nhập thế lại có con đường thực hành trái ngược hoàn toàn. Các vị theo tư tưởng này lấy việc vào đời giúp đỡ chúng sanh thoát khỏi khổ đau làm chủ đạo. Từ đó không ngừng rèn luyện tâm tánh trở nên thuần tịnh, tức lấy pháp độ tha làm pháp tự độ. Đó là tư tưởng Bồ-tát đạo phổ độ chúng sanh: “Độ tất cả chúng sanh thành Phật, ta mới thành Phật”, tức lấy việc vào đời hoá độ chúng sanh làm công hạnh tu tập nơi mình để trở thành bậc giác ngộ hoàn toàn đầy đủ tự độ, độ tha và giác hạnh viên mãn.

Qua những lời chia sẻ của Thượng tọa có thể thấy, cả hai tư tưởng đều không sai hoàn toàn hay đúng hoàn toàn. Thượng tọa nhấn mạnh: “Cần nhận biết rõ khi nào, ở đâu và những ai, nên áp dụng tư tưởng nào cho hợp lý trong tu tập mới là đúng hơn hết. Đơn cử như những vị nào còn chưa bỏ các tập khí phàm tục, tham - sân - si còn quá nhiều, việc dùng pháp tránh duyên giống tư tưởng xuất thế là hợp lý hơn hết. Đối với vị nào đã thành tựu lớn trong việc tu tập, đoạn trừ 5 triền cái (tham, sân, trạo cử, hôn trầm, nghi ngờ), việc xuất thế sẽ cản trở sự viên mãn trong công hạnh, vì vị Phật toàn giác phải đủ cả 3 hạnh (tự độ, độ tha và giác hạnh viên mãn), nên tư tưởng nhập thế độ đời, độ chúng sanh là hợp lý, hợp giáp pháp nhất”.

 

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết:

Các bài viết liên quan