CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !

Trường hạ Pháp viện Minh Đăng Quang PL.2570: Thượng tọa Minh Lực thuyết giảng chủ đề "Bối cảnh hình thành Đại thừa phát triển"

Trong khuôn khổ khóa ACKH PL.2570 tại Trường hạ Pháp viện Minh Đăng Quang (phường Bình Trưng, TP.HCM), sáng 24/07/2026 (11/06/Bính Ngọ), TT. Minh Lực – Phó Ban Trị sự GHPGVN TP.HCM, Giáo phẩm Hệ phái PGKS, trụ trì Tịnh xá Ngọc An (TP.Dĩ An, TP.HCM), đã quang lâm thuyết giảng với chủ đề “Bối cảnh hình thành Đại thừa phát triển”, kết hợp giữa sử liệu và giáo lý, phác họa tiến trình vận động của lịch sử Phật giáo từ thời kỳ Nguyên thủy, trải qua giai đoạn Bộ phái đến sự hình thành và phát triển của tư tưởng Đại thừa, giúp chư hành giả có cái nhìn hệ thống về sự tiếp nối của dòng chảy Phật pháp.

Theo đó, Thượng tọa chỉ rõ, lịch sử Phật giáo có thể khái quát qua ba thời kỳ lớn: Phật giáo Nguyên thủy, Phật giáo Bộ phái và Phật giáo Đại thừa phát triển. Sự xuất hiện của tư tưởng Đại thừa không phải là một hiện tượng tách rời, hay phủ nhận giáo pháp ban đầu, mà là kết quả của những điều kiện lịch sử, văn hóa và tư tưởng đã dần hình thành trong quá trình phát triển của Tăng đoàn.

Phân tích nguyên nhân dẫn đến sự phân chia bộ phái sau khi Đức Thế Tôn nhập Niết-bàn, Thượng tọa cho biết, trong thời kỳ Phật giáo Nguyên thủy, toàn thể Tăng đoàn cùng nương tựa một giáo pháp và một giới luật thống nhất, chưa hề tồn tại sự phân chia thành các trường phái. Tuy nhiên, tại các kỳ kiết tập kinh điển đầu tiên, kinh điển vẫn chủ yếu được truyền khẩu, trong khi chữ viết chưa được sử dụng phổ biến để ghi chép và lưu hành rộng rãi. Việc bảo tồn giáo pháp hoàn toàn dựa vào trí nhớ và khả năng tụng đọc của các vị Trưởng lão. "Chính vì sở trường và khuynh hướng tu học khác nhau, mỗi vị thường chuyên sâu ghi nhớ những phần kinh điển mà mình tâm đắc, có vị thiên về Giới luật, có vị chuyên trì các bài kinh thiền quán, có vị chú trọng pháp nghĩa. Khi trở về các trú xứ khác nhau để giáo hóa, sự khác biệt trong truyền thừa và diễn giải giáo pháp dần hình thành. Khoảng một thế kỷ sau ngày Đức Phật nhập Niết-bàn, những khác biệt ấy phát triển thành nhiều bộ phái, mỗi bộ phái đều nỗ lực bảo lưu hệ thống lý giải và lập trường học thuật của mình", Thượng tọa giảng giải.

Theo Thượng tọa, một trong những yếu tố góp phần thúc đẩy sự hình thành tư tưởng Đại thừa là xu hướng thu hẹp phạm vi tu học của một bộ phận Tăng sĩ trong thời kỳ Bộ phái. Khi mục tiêu giải thoát cá nhân được đặt lên hàng đầu, đời sống tu tập có khuynh hướng tập trung nhiều vào việc chứng đạt quả vị A-la-hán, trong khi tinh thần nhập thế và hoằng pháp lợi sinh phần nào giảm sút. Cùng với đó, thực tế lịch sử cũng ghi nhận hiện tượng một số người khoác áo xuất gia nhưng thiếu lý tưởng giải thoát chân chính, làm ảnh hưởng đến sự thanh tịnh của Tăng đoàn.

Từ thực trạng ấy, Thượng tọa nhấn mạnh: "Sự nghiệp của người xuất gia gồm ba mặt chính: xây dựng tự viện, tiếp nhận đồ chúng và trước tác kinh luận. Trong đó, tác phẩm trí tuệ để lại cho đời sau có giá trị trường tồn. Nếu tu tập mà chỉ an phận cho riêng mình, không chuyển pháp, không đóng góp cho Tam bảo thì trách nhiệm hoằng pháp chưa trọn vẹn".

Liên hệ với lịch sử Phật giáo, Thượng tọa dẫn lại thời kỳ Đại đế Asoka hộ trì Tam bảo. Trước thực trạng một bộ phận Tăng sĩ chưa thông suốt kinh luật, Đại đế đã thỉnh chư vị Trưởng lão tổ chức kỳ Kiết tập kinh điển lần thứ ba, đồng thời mở các kỳ khảo hạch nhằm đánh giá trình độ học pháp của Tăng đoàn. Qua đó, lịch sử cho thấy vai trò đặc biệt quan trọng của hàng cư sĩ hộ pháp trong việc bảo vệ và phát triển Phật pháp. Từ bài học ấy, Thượng tọa sách tấn chư hành giả an cư luôn tự phản tỉnh về trách nhiệm của người xuất gia, tránh tâm lý an phận, thụ động hay chỉ bằng lòng với sự tu tập của riêng mình.

Chuyển sang phương diện giáo lý, Thượng tọa cho biết, trong thời kỳ Nguyên thủy, Đức Phật luôn hướng người học đến mục tiêu thực tiễn là đoạn trừ khổ đau. Vì vậy, Ngài giữ thái độ im lặng trước mười vấn đề siêu hình (Thập vô ký) liên quan đến bản chất thế giới, thân mạng và trạng thái của Như Lai sau Niết-bàn. Điều Đức Phật quan tâm là chỉ bày con đường chấm dứt khổ đau thông qua Tứ Thánh đế: Khổ, Tập, Diệt và Đạo. Thượng tọa nhắc lại ví dụ nổi tiếng về người bị trúng tên độc: điều cấp thiết là nhổ mũi tên và chữa trị ngay, chứ không phải mải truy cứu nguồn gốc của mũi tên.

Tuy nhiên, bước sang thời kỳ Bộ phái, nhiều luận nghị bắt đầu đi sâu vào các vấn đề bản thể học, phân tích danh pháp, sắc pháp, các cảnh giới tồn tại và những vấn đề siêu hình. Những cuộc tranh luận kéo dài giữa các học phái về quan điểm "Thật có" hay "Vô ngã" đã tạo nên bối cảnh để các nhà tư tưởng Đại thừa từ khoảng thế kỷ I trước Tây lịch đến thế kỷ II sau Tây lịch xây dựng những hệ thống triết học mới, tiêu biểu như Tổ sư Mã Minh và Bồ-tát Long Thọ (Nāgārjuna).

Thượng tọa giới thiệu hệ thống Trung quán của Bồ-tát Long Thọ với tư tưởng "Bát bất" gồm: bất sinh, bất diệt, bất thường, bất đoạn, bất nhất, bất dị, bất lai và bất khứ. Tinh thần này giúp vượt qua mọi cực đoan của tư duy nhị nguyên, từ đó làm nền tảng cho sự phát triển của tư tưởng Bát-nhã Ba-la-mật-đa với nhận thức "Ngũ uẩn giai không". Tiếp nối mạch tư tưởng ấy, Bồ-tát Thế Thân (Vasubandhu) phát triển hệ thống Duy thức, góp phần làm sáng tỏ quan niệm "Chân không – Diệu hữu", đồng thời mở ra hướng vận dụng trí tuệ vào đời sống tu tập mà vẫn không rời bản tâm giác ngộ.

Cuối thời pháp, TT. Minh Lực khẳng định: "Việc tìm hiểu sự hình thành của tư tưởng Đại thừa không đồng nghĩa với việc xem nhẹ nền tảng của Phật giáo Nguyên thủy. Trái lại, mọi hành giả đều cần xây dựng căn bản vững chắc trên Giới - Định - Tuệ, chánh niệm, giải thoát và giải thoát tri kiến đúng như tinh thần Kinh Tăng Chi. Từ việc nghiêm trì oai nghi, hoàn thiện phẩm hạnh bản thân đến góp phần xây dựng sự thanh tịnh của Tăng đoàn, đó chính là bước khởi đầu của hạnh nguyện Bồ-tát".

Bên cạnh đó, Thượng tọa cũng nhấn mạnh, người thực hành tinh thần Đại thừa cần tích cực phụng sự chúng sinh, làm mọi việc thiện nhưng không chấp trước vào công đức hay thành quả của mình. Khi mọi hành động đều được thực hiện bằng tâm vô chấp, xem các pháp như huyễn hóa, người hành đạo mới có thể dung hợp giữa trí tuệ và từ bi, giữa tự lợi và lợi tha, đúng với tinh thần Bồ-tát đạo.

*Được biết, trước đó, vào sáng cùng ngày, tại lớp An cư Hạ trường Pháp viện Minh Đăng Quang, HT. Giác Pháp – Ủy viên HĐTS, Phó Trưởng ban Nghi lễ TƯGH, Phó Thường trực Ban Thường trực Giáo phẩm Hệ phái, Cố vấn Ban Trị sự GHPGVN TP.HCM, Tri sự trưởng GĐ.V PGKS, cũng đã chủ trì buổi thực tập diễn giảng lần thứ 3, với sự tham gia thực hành thuyết giảng của 4 vị hành giả: Tỳ-kheo Minh Châu với ài giảng xoay quanh giáo lý Tứ Diệu Đế, Tỳ-kheo Minh Thuận trình bày chủ đề về đức hạnh Từ bi trong đời sống xuất gia, Tỳ-kheo Đăng Khoa với nội dung chuẩn bị về nền tảng đạo đức tại gia và cuối cùng là Sa-di Giác Minh Xả với chủ đề Tứ trọng ân.

 

Một số hình ảnh được ghi nhận:

  • TT. MINH LỰC THUYẾT GIẢNG

 

  • LỚP THỰC HÀNH DIỄN GIẢNG

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết:

Các bài viết liên quan