Khóa BDTT PL.2569: Chư tôn đức Tăng Ni trình bày tham luận trong ngày cuối của khóa học
- Ban TT-TT Hệ phái
- | Thứ Sáu, 12:39 11-07-2025
- | Lượt xem: 687
Sáng 11/7/2025 (17/6/Ất Tỵ), ngày cuối của khóa BDTT PL.2569 tại Pháp viện Minh Đăng Quang (P.Bình Trưng, TP.HCM), chư Tôn đức Tăng Ni Hệ phái PGKS đã trình bày 3 tham luận xoay quanh các đề tài “Phật giáo khất sĩ, Pháp tu khất thực và xã hội hiện đại”, “Bản sắc Khất sĩ từ truyền thống đến hiện đại” và “Tinh hoa Pháp hành trong Chơn lý”.
Buổi tham luận dưới sự chứng minh của HT. Giác Pháp – Ủy viên HĐTS, Phó Trưởng ban Nghi lễ TƯGH, Phó Thường trực Ban Thường trực Giáo phẩm Hệ phái, Phó ban Trị sự GHPGVN TP.HCM, Tri sự trưởng GĐ.V PGKS; HT. Giác Phùng – Giáo phẩm Hệ phái, Tri sự Phó Thường trực GĐ.III PGKS; HT. Minh Hóa – Ủy viên BTS GHPGVN TP.HCM, Giáo phẩm Hệ phái, Tri sự phó GĐ.IV PGKS; HT. Giác Điệp – Giáo phẩm Hệ phái, Tri sự phó GĐ.VI PGKS.
Thượng tọa Minh Liên – Ủy viên HĐTS, Phó Chánh Thư ký Hệ phái PGKS
Mở đầu buổi tham luận, TT. Minh Liên đã trình bày những quan điểm về giá trị nguyên thủy và định hướng thực tiễn cho pháp môn khất thực trong bối cảnh hiện nay, thông qua đề tài “Phật giáo Khất sĩ, Pháp tu khất thực và xã hội hiện đại”.
Bằng việc tái hiện bối cảnh lịch sử hình thành Đạo Phật Khất sĩ Việt Nam, Thượng tọa đã nêu bật hình ảnh Tổ sư Minh Đăng Quang với tông chỉ “Nối truyền Thích Ca Chánh Pháp” trong giai đoạn đất nước chịu ảnh hưởng của chiến cuộc và Phật giáo suy vi. Trong bức tranh lịch sử đó, hình ảnh vị sa-môn ôm bát khất thực, thực hành thiểu dục tri túc, là biểu tượng căn bản của đạo Phật thời Đức Phật và là pháp tu cốt lõi mà Tổ sư đã chọn lựa, hành trì và truyền dạy từ thuở ban sơ.
Chia sẻ tại buổi tham luận, TT. Minh Liên nhấn mạnh: “Khất thực không chỉ là hình thức xin ăn mà là pháp môn giải thoát, vừa độ mình vừa hóa độ chúng sinh”. Qua đó Thượng tọa diễn giải, Phật giáo Khất sĩ là sự dung hòa giữa hai truyền thống:
- Nam truyền: Thực hành tam y nhất bát, du phương khất thực, sống đời phạm hạnh như chư Phật ba đời.
- Bắc truyền: Thâm nhập tư tưởng Bồ-tát đạo, pháp môn Tịnh độ, giáo pháp Đại thừa qua các tác phẩm như Bồ-tát giáo, Chơn lý, cùng hạnh nguyện cứu độ chúng sinh.
Do vậy, pháp tu khất thực cũng là nơi hội tụ cả tinh thần “tự độ” lẫn “độ tha”. Bởi lẽ, với người hành khất, đây là pháp đoạn ngã chấp, sống đời thiểu dục tri túc, chuyên tâm tu học và gần gũi hóa độ người dân. Mặt khác, với người thí chủ, đây là cơ hội gieo ruộng phước, từ bỏ tâm bỏn xẻn, khơi dậy niềm tin và tâm hướng thượng.
Thượng tọa khẳng định: “Chính hình ảnh vị Tăng khất thực đã giúp khơi dậy tâm xuất gia của Thái tử Tất-đạt-đa và rất nhiều vị đệ tử lớn của Phật, kể cả nhiều vị Hòa thượng Khất sĩ hiện nay cũng đã phát tâm từ hình ảnh ấy”.
Song, dù pháp tu khất thực là một viên ngọc quý, nhưng theo TT. Minh Liên, pháp tu này vẫn đang đối mặt với nhiều thách thức lớn trong xã hội hiện đại. Đơn cử như nạn giả danh tu sĩ để xin ăn nơi công cộng, làm méo mó hình ảnh người tu hành; hay ngay như sự thờ ơ trong hành trì, nhiều trú xứ bỏ hạnh khất thực vì lo ngại ánh nhìn của xã hội, hoặc vì ngại thủ tục pháp lý; thậm chí, một số chương trình khất thực hiện nay (của các tông phái khác) cũng thiếu oai nghi, thiếu chuẩn mực, nên không mang lại giá trị giáo dục và tâm linh đích thực.
Trước những thực trạng này, TT. Minh Liên nhận định: “Không thể vì sợ cái giả mà giấu luôn cái thật. Chính việc thiếu xuất hiện hình ảnh chân thật từ Tăng đoàn Khất sĩ, đã khiến người dân mất niềm tin vào pháp hành khất thực, dẫn đến việc pháp tu bị hiểu lầm và dần bị lãng quên”.
Để bảo tồn và khôi phục lại tinh thần nguyên thủy của pháp khất thực, TT. Minh Liên đề xuất một số giải pháp cụ thể như: Tổ chức khất thực tập thể vào các dịp lễ đặc biệt của Hệ phái hay Giáo đoàn; Khuyến khích các Tăng sĩ trẻ có lý tưởng thực hành khất thực theo mô hình “Tăng hành xứ”; Có một sự định hướng, giáo dục một cách đúng đắn và thấu đáo hơn về pháp hành khất thực dành cho cả Tăng Ni và Phật tử Hệ phái; Thường xuyên tổ chức mô hình khất thực tại chỗ (khuôn viên tự viện), hoặc xin phép địa phương để thực hành đúng pháp; Đề xuất mỗi giáo đoàn nên có 4–6 vị Tăng trẻ, đã xong chương trình học, tự nguyện thực hành khất thực du phương, đi khắp ba miền để gieo duyên.
Khép lại bài tham luận, TT. Minh Liên khẳng định: “Khất thực không chỉ là pháp môn tu, mà còn là một biểu tượng văn hóa tâm linh sâu sắc, là chiếc cầu nối giữa đạo và đời. Do đó, người tu sĩ Khất sĩ hôm nay không thể quên cội nguồn hạnh nguyện của Tổ sư. Nếu bỏ qua pháp tu khất thực, đồng nghĩa với việc đánh mất một phần hồn cốt của đạo Phật, của Khất sĩ”.
Cuối lời, Thượng tọa cũng gửi gắm đến chư vị trụ trì một lời chia sẻ: “Nếu mỗi trú xứ có thể khởi đầu từ một bước đi, một chiếc bát, một tâm nguyện khất thực chân thành, thì ánh sáng của Tổ sư sẽ lại lan tỏa trong từng bước chân hóa độ”.
Ni trưởng Tuyết Liên – Ủy viên GHPGVN tỉnh Đồng Tháp, Trưởng ban Quản sự Ni giới GĐ.IV PGKS
Với đề tài “Bản sắc Khất sĩ từ truyền thống đến hiện đại”, Ni trưởng mở đầu phần tham luận bằng việc làm sáng tỏ từ nguyên “khất sĩ”, một thuật ngữ đã có từ thời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Theo đó, “khất” là xin, “sĩ” là học, người “khất sĩ” là người đi xin để học đạo, xin để tu tập, xin để dạy đời.
Đức Phật và Tăng đoàn thời xưa là những khất sĩ sống đời thanh bần, vô ngã, giải thoát. Đó chính là hình ảnh mà Tổ sư Minh Đăng Quang đã khơi lại vào thập niên 1940 với pháp hành du phương khất thực và dựng Tịnh xá tranh tre tạm bợ. Qua đó, NT. Tuyết Liên khẳng định: “Khất sĩ không phải là người đi xin ăn đơn thuần, mà là người xin sống, xin học, xin tu. Xin để thành tựu giác ngộ và hóa độ chúng sanh”.
Triết lý “xin” cũng là một điểm nổi bật trong tham luận của Ni trưởng, trong đó nêu lên quan điểm sống thấm đẫm đạo lý vô ngã, khiêm hạ và từ bi khi cho rằng xin để sống thuận theo thiên nhiên và nhân duyên, như cỏ cây xin đất nước, người xin trời đất, Phật xin lòng người. Xin để cho, người khất sĩ đi xin để dạy, để cảm hóa, để gieo duyên lành. Và cuối cùng, xin để đoạn ngã chấp, là phương tiện đoạn trừ tâm sở hữu và ngã mạn.
Ni trưởng nhấn mạnh: “Khất sĩ là người xin bằng tâm. Cái xin cao thượng và trong sạch hơn hết là xin trí tuệ, xin đạo hạnh, xin sống một đời thanh bần nhưng giàu lòng từ bi”.
Trong xã hội hiện đại, người Khất sĩ không còn là du Tăng chân đất như xưa, nhưng bản chất và lý tưởng vẫn không thay đổi. Ni trưởng nêu rõ: “Vị Khất sĩ là ngọn đuốc tâm linh, là bậc thầy thầm lặng giữa thế gian, không tranh chấp danh lợi, không cầu được tôn vinh; là trung gian hòa giải, là người kết nối các tầng lớp xã hội bằng đạo đức và tình thương. Mỗi bước chân khất thực là một bài pháp sống động, mỗi trú xứ là một ngọn hải đăng của niềm tin và đạo lý”.
Ni trưởng gọi hình ảnh ấy là “gió lành giữa sa mạc danh lợi sắc tài”. Sau năm 1975, hoàn cảnh xã hội khiến đời sống du phương và khất thực phải điều chỉnh. Nhưng đó không phải là sự đánh mất mà là sự thích nghi thông minh để tồn tại và tiếp tục phụng sự.
Ngày nay, Tăng Ni Khất sĩ vừa tu hành, vừa đảm đương trách nhiệm trụ trì, giáo hóa, từ thiện xã hội, trở thành công dân gương mẫu trong thời đại mới. Tuy nhiên, NT. Tuyết Liên cũng cảnh báo: “Trong làn sóng hiện đại hóa và kỹ thuật số, nếu không giữ vững bản sắc, lớp trẻ có thể đánh mất cốt tủy của Khất sĩ”.
Theo đó, Ni trưởng cũng đề xuất một số định hướng trọng yếu cho công cuộc hành pháp tương lai, đó là:
- Đào tạo thế hệ kế thừa: Kết hợp giữa pháp học – pháp hành, giữa giới hạnh – tri thức, giữa truyền thống – hiện đại.
- Gìn giữ đạo phong và đạo lực: Là cốt lõi để không hòa tan trong dòng chảy thế gian.
- Hồi hướng trở lại lý tưởng ban đầu: Dù không còn du phương, không còn khất thực như xưa, nhưng người Khất sĩ vẫn là người “xin tu”, “xin học”, “xin giác ngộ” – vẫn là người đi vay mượn vũ trụ để tự giải thoát và hóa độ người khác.
Ni sư Hằng Liên – Giảng viên HVPGVN tại TP.HCM, Giảng sư Ni giới Hệ phái PGKS
Trình bày tham luận đề tài “Tinh hoa Pháp hành trong Chơn lý”, NS. Hằng Liên không chỉ nhấn mạnh cốt tủy của đạo Phật mà còn khai mở chiều sâu tâm linh từ di sản của Tổ sư Minh Đăng Quang.
Ôn lại tiểu sử và hành trạng của Tổ sư Minh Đăng Quang, NS. Hằng Liên cho biết, với chí nguyện “Nối truyền Thích Ca Chánh Pháp”, Tổ sư đã chọn con đường Khất sĩ – phạm hạnh thanh bần, tự tu tự độ, hoằng pháp độ sanh. Bộ Chơn lý gồm 69 bài pháp được Tổ sư biên soạn trong thời gian ngắn ngủi trước khi vắng bóng, là kết tinh của sở chứng, sở hành và tuệ giác sâu xa của Ngài.
Theo NS. Hằng Liên, Chơn lý không phải là triết học suông mà là ngôn ngữ pháp hành, là “con đường sống đạo” cần được thực hành, chứng nghiệm để đạt đến giải thoát. Đây là điểm sáng đặc thù trong truyền thống Khất sĩ, dung hợp tinh thần Nam truyền và Bắc truyền, diễn đạt bằng ngôn ngữ Việt, giản dị, gần gũi nhưng thấm đẫm đạo lý.
Trên con đường thực hành tu tập này, Ni sư cho rằng, hành giả Khất sĩ cần tập trung vào tam vô lậu học: Giới - Định - Tuệ, đây cũng là 3 pháp tu vắn tắt mà Tổ sư xem là nòng cốt của con đường tu tập. Trong đó:
- Giới là nền tảng đạo đức sống: Giới được ví như hàng rào bảo vệ nội tâm, ngăn ngừa ác nghiệp và nuôi dưỡng phẩm hạnh. Tổ sư từng khẳng định “Giới là mạng sống của thân và tâm”.
- Định là sự an trú vững chãi của tâm: Khi giới được giữ nghiêm, định phát sinh, giúp hành giả an tịnh và phát triển nội lực. Tổ sư giảng rằng “Trong mật định có chứa linh, giác và thần”.
- Tuệ là ánh sáng phá màn vô minh: Là kết quả tất yếu của giới và định, giúp hành giả thấy rõ thực tướng, sống đời thảnh thơi, an nhiên.
Qua đó, NS. Hằng Liên nhấn mạnh: “Hạnh Khất sĩ là pháp hành sống động nhất để biểu hiện lý tưởng vô ngã, vị tha. Người Khất sĩ không chỉ giữ hình thức khất thực, mà phải thực hành sống chung tu học, buông bỏ ngã chấp, sống hòa hợp với tất cả chúng sanh”.
Trích dẩn lời dạy của Tổ sư: “Khất sĩ là cái sống của chơn lý vũ trụ”, là kẻ sống chan hòa, không vướng bận vật chất, lấy giới - định - tuệ làm tài sản, lấy sự học để biết, tu để giải thoát, Ni sư cho rằng, việc sống chung tu học cũng là cách phá vỡ tính tự ngã, khuyến khích sự nhắc nhở, cộng tu trong một đại thể lục hòa.
Đặc biệt, trong tham luận của mình, NS. Hằng Liên cũng trình bày về mô hình Tứ chúng đồng tu (Tăng, Ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ), cho rằng đây là nền tảng bình đẳng do chính Đức Phật đặt định từ buổi đầu. “Đây là phương thức vận hành đạo tràng vừa hiệu quả vừa bền vững, giúp Phật pháp thấm sâu vào cộng đồng. Người cư sĩ cũng được khuyến khích tu học trong giới hạn tại gia, lấy giới - định - tuệ làm phương tiện hóa độ bản thân và gia đình”.
Bên cạnh đó, Ni sư bày tỏ: “Người Khất sĩ không thể tách rời tinh thần từ bi nhập thế. Pháp hành không chỉ là hành trì nội tâm mà còn là nhập thế hành đạo – thể hiện qua việc khất thực, hoằng pháp, giáo dục, từ thiện. Người Khất sĩ đi vào đời không phải để tranh luận, mà để hóa độ, soi đường cho người mê lạc. Như Tổ sư từng dạy: ‘Hãy học thêm nữa cho mau đầy đủ’. Người Khất sĩ phải mở rộng trái tim, chấp nhận sự khác biệt, hành xử bằng trí tuệ và từ bi. Trong xã hội hiện đại, đây chính là cầu nối đạo – đời, góp phần xây dựng xã hội lành mạnh, hướng thiện”.
Khép lại tham luận, NS. Hằng Liên một lần nữa nhấn mạnh, pháp hành Chơn lý không chỉ dành cho người xuất gia mà còn là cẩm nang tu tập cho cư sĩ tại gia. Người tại gia, dù không cạo đầu đắp y, vẫn có thể thực hành hạnh Khất sĩ qua sống thiểu dục, giữ giới, tu tâm, như hình ảnh Bồ-tát Quán Âm trong lòng gia đình. Tổ sư từng dạy: “Cư sĩ và Khất sĩ là người xin tài, người xin pháp”. Hai bên hỗ trợ nhau, giúp nhau tiến hóa trên đường tu. Gia đình cũng là đạo tràng, nơi khởi đầu và lan tỏa đạo đức xã hội.
“Pháp hành là cốt tủy của đạo Phật, là con đường sống đạo thực tiễn. Chỉ có hành trì mới giúp người con Phật tiến đến giải thoát. Trong thời đại hiện đại, pháp hành Chơn lý chính là gia tài tâm linh vô giá mà Tổ sư Minh Đăng Quang để lại, cần được tiếp nối bằng sự tu tập, hành trì chân chính từ mỗi hành giả Khất sĩ”, Ni sư chia sẻ.
Một số hình ảnh được ghi nhận:
Các bài viết liên quan
- TP.HCM: Trọng thể bế mạc khóa Bồi dưỡng trụ trì PL.2569 - Thứ Sáu, 19:10 11-07-2025 - xem: 742 lần
- Khóa BDTT PL.2569: Chư tôn đức Tăng Ni trình bày tham luận trong ngày cuối của khóa học - Thứ Sáu, 12:39 11-07-2025 - xem: 687 lần
- Khóa BDTT PL.2569: Thượng tọa Giác Nhường nêu lên "Vài suy nghĩ trụ trì trong tình hình mới" - Thứ Sáu, 06:05 11-07-2025 - xem: 736 lần
- Khóa BDTT PL.2569: Ngày thứ 6 của khóa học tiếp nhận nhiều bài tham luận đặc sắc - Thứ Năm, 22:25 10-07-2025 - xem: 679 lần
- Khóa BDTT PL.2569: Hòa thượng Giác Toàn sách tấn về “Tâm đức và sứ mạng của vị trụ trì trước thời duyên” - Thứ Năm, 12:22 10-07-2025 - xem: 664 lần
- Khóa BDTT PL.2569: Trang nghiêm lễ cúng hội truyền thống Hệ phái và báo cáo chung về Quỹ Pháp học Khất sĩ - Thứ Tư, 23:25 09-07-2025 - xem: 866 lần
- Khóa BDTT PL.2569: Ban Tôn giáo Chính phủ thăm và chia sẻ tại khóa học - Thứ Tư, 21:18 09-07-2025 - xem: 701 lần
- Khóa BDTT PL.2569: Ni sư Tuệ Liên và Đại đức Minh Điệp trình bày 2 tham luận mang tính ứng dụng cao - Thứ Tư, 16:28 09-07-2025 - xem: 1453 lần
- Khóa BDTT PL.2569: Thượng tọa Thích Phước Nguyên chia sẻ về việc ứng dụng quản trị trong đời sống tu hành - Thứ Tư, 10:39 09-07-2025 - xem: 1204 lần
- Khóa BDTT PL.2569: Đón nhận hai tham luận từ Thượng tọa Giác Hoàng và Ni sư Nghiêm Liên - Thứ Ba, 16:59 08-07-2025 - xem: 1347 lần
- Khóa BDTT PL.2569: Ông Vũ Huy Long chia sẻ về pháp luật và hành chánh tôn giáo trong thực tiễn - Thứ Ba, 16:00 08-07-2025 - xem: 1418 lần
- Khóa BDTT PL.2569: Hòa thượng Minh Bửu nói lên “Giá trị của giới luật Khất sĩ đối với vị trụ trì hiện nay” - Thứ Ba, 11:14 08-07-2025 - xem: 1263 lần



