CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !

TP.HCM: NS.Tuệ Liên nói về giá trị của việc tu tập Giới - Định - Tuệ tại ngày 6 của Khóa Bồi dưỡng Trụ trì 2024

NS.Tuệ Liên - UV HĐTS GHPGVN, Giáo phẩm NGHPKS, đã có bài tham luận chủ đề “Quan điểm về Giới - Định - Huệ trong Chơn lý của Tổ sư Minh Đăng Quang”, nói lên tầm quan trọng của việc tu tập Tam vô lậu học đối với hành giả xuất gia. Bài tham luận thuộc khuôn khổ Khóa BDTT 2024 - chiều 30/5/2024 (nhằm 23/4/Giáp Thìn), tại Pháp viện Minh Đăng Quang (TP.Thủ Đức, TP.HCM).

Điểm lại cuộc đời và đạo nghiệp của Đức Tổ sư Minh Đăng Quang từ khi lập đạo cho đến ngày Tổ vắng bóng, Ni sư khẳng định: “Với tôn chỉ ‘Nối truyền Thích-ca Chánh pháp’, Đức Tổ sư đã khai sơn Đạo Phật Khất sĩ Việt Nam, một sắc thái Phật giáo có tư tưởng và phương pháp tu học đặc thù, biệt truyền tại miền Nam Việt Nam. Tôn chỉ của Tổ bàng bạc trong các pháp môn tu học đã được trình bày trong bộ Chơn lý. Chơn lý của Tổ là một tác phẩm quan trọng, trình bày rõ ràng và cụ thể các pháp môn tu học, phù hợp với mọi hoàn cảnh thời đại, trở thành kho tàng pháp bảo quý báu, là xương tủy cho hàng đệ tử và nhân loại. Trong đó, tư tưởng Giới - Định - Huệ là một phần không thể thiếu, giúp con người hiểu rõ hơn về bản thân và thực hành để đạt được sự giải thoát”.

Qua đó, Ni sư đã trình bày tổng quan về Giới - Định - Huệ, đối chiếu từ kinh điển Phật giáo và Bộ Chơn lý của Tổ sư Minh Đăng Quang. Trong nhiều bản kinh, đơn cử như Kinh du hành có kể lại: “Phật dạy các Tỳ-kheo về Giới - Định - Tuệ. Tu giới đắc định, được quả báo lớn; tu định đắc trí, được quả báo lớn; tu trí tâm tịnh, được giải thoát hoàn toàn, dứt hết ba thứ lậu hoặc là dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu. Sau khi đã giải thoát liền phát sanh trí về sự giải thoát, biết rằng sanh tử dứt hết, Phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã làm xong, không còn tái sinh đời sau nữa”.

Có thể thấy, Phật giáo với triết lý sâu sắc và hệ thống giáo lý phong phú, đã khẳng định Giới - Định - Huệ là ba yếu tố cơ bản và quan trọng nhất, là ba trụ cột vững chắc giúp người tu hành đạt được sự thanh tịnh và trí tuệ siêu việt. Đức Tổ sư - người sáng lập Đạo Phật Khất sĩ Việt Nam cũng vậy, không chỉ nhấn mạnh tầm quan trọng của ba yếu tố này trong con đường tu hành mà còn triển khai cụ thể và sâu sắc trong Bộ Chơn lý của mình.

Trong Chơn lý “Phật tánh” ghi rõ: “Chúng ta, ai ai cũng có thể thật hành giác ngộ được hết, mà điều cần nhứt là phải giải thoát; vì chỉ có Giới - Định - Huệ cụ túc mới nuôi chơn như cụ túc ấy đặng. Nghĩa là chúng sanh là Phật đã thành, Phật đang thành, và Phật chưa thành, chớ chẳng phải tất cả đều đã là Phật hết rồi, không tu, ngã chấp, khổ chết uổng oan, mà sanh tội nghiệp. Và tốt hơn nên gọi mình là chúng sanh mãi, chắc sẽ được mau tấn hóa, hữu ích, đi trên cao hơn hết”; hay như trong Chơn lý “Tông giáo”, Tổ nói: “Tăng có hơn họ là bằng Giới - Định - Huệ, họ mới kỉnh trọng, chớ sự thông minh văn học, họ có kém Tăng đâu, bởi thế cho nên đối với Tăng tội lỗi thì họ gọi là không phải Tăng, họ chỉ kiêng nể cái áo bề ngoài thôi, chớ thật ra họ không kỉnh trọng”.

Nhận thấy sự quan trọng của giới luật, trong việc duy trì và phát triển Phật pháp, nên ngay khi thành lập Giáo hội, Tổ sư Minh Đăng Quang đã thiết lập hệ thống giới luật Khất sĩ, giúp cho các mặt hoạt động Tăng đoàn sớm đi vào nề nếp ổn định và làm nền tảng để phát triển hệ phái một cách bền vững. Đức Tổ sư đã trình bày rõ ràng và chi tiết về tầm quan trọng của Giới - Định - Tuệ, trong đó nhấn mạnh rằng Giới là nền tảng đầu tiên và quan trọng nhất qua Bộ Chơn lý.

Về Định, Tổ sư đã đề xuất những phương pháp thiền định đơn giản và hiệu quả, phù hợp với mọi tầng lớp xã hội. Ngài cũng nhấn mạnh, thiền định không chỉ là việc ngồi thiền mà còn là sự chú tâm và tỉnh giác trong mọi hoạt động hàng ngày. Điều này khế hợp với lời dạy của Đức Phật trong Kinh Pháp cú: “Không thiền định, không sanh trí tuệ, / Trí tuệ không, chẳng thể định thiền. / Người nào gồm đủ nhơn duyên, / Định thiền, trí tuệ, gần bên Niết-bàn”. Hay trong kinh Tứ niệm xứ dạy rằng: “Này các Tỳ-kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn, đó là bốn niệm xứ”.

Về Tuệ, Tổ sư đã chỉ ra rằng trí tuệ là kết quả của quá trình học hỏi, suy ngẫm và thực hành, trí tuệ không chỉ là sự hiểu biết về mặt lý thuyết mà còn là khả năng nhìn nhận và giải quyết các vấn đề cuộc sống một cách sáng suốt và từ bi.

Nói về mối quan hệ của Giới - Định - Tuệ, Ni sư cho biết: “Đức Phật thường xuyên nhấn mạnh rằng Giới - Định - Tuệ không tồn tại độc lập mà phải được phát triển cùng nhau. Đức Tổ sư cũng dạy, ba yếu tố này có mối liên hệ gắn kết chặt chẽ, hỗ trợ và bổ sung lẫn nhau. Trong Giới có Định và Tuệ, trong Định có Giới và Tuệ, và trong Tuệ cũng có Giới và Định. Như vậy, việc phát triển cả ba yếu tố này một cách đồng bộ sẽ giúp người tu tập tiến đến sự giác ngộ và giải thoát hoàn toàn”.

Liên hệ giữa pháp tu Giới Định Tuệ và Khất sĩ Y bát, dựa trên Chơn lý của Đức Tổ sư, Ni sư nhận định: “Đối với người tu hành, y bát Khất sĩ không chỉ là vật dụng cần thiết mà còn là biểu tượng của sự thanh tịnh, khiêm nhường và từ bi, buông bỏ mọi ràng buộc vật chất và thế tục, sống đời sống thanh bần. Như vậy, tư tưởng Giới - Định - Huệ trong Chơn lý của Tổ sư không chỉ là một hệ thống giáo lý hoàn chỉnh mà còn là một lộ trình tu tập rõ ràng và thực tiễn cho người tu hành, nêu rõ những mối liên hệ mật thiết với các pháp tu và khế hợp với lời dạy của Đức Phật”.

 

Một số hình ảnh được ghi nhận:

 

 

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết:

Các bài viết liên quan