CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !

Tìm hiểu về Chủ nghĩa xã hội Phật giáo

 

1. Khái niệm về Chủ nghĩa xã hội Phật giáo

Chủ nghĩa xã hội Phật giáo một hệ tư tưởng chính trị được hình thành dựa trên ý thức học Phật giáo, được phát triển bằng những nguyên tắc của Phật giáo, nhằm mục đích giúp xã hội vượt qua những chỗ hạn chế hoặc xóa bỏ sự phân biệt giai cấp, phát triển đạo đức, đưa con người và xã hội đến chỗ công bằng, dân chủ và tự do tuyệt đối.

2. Lập trường chủ đạo của Chủ nghĩa xã hội Phật giáo

Lập trường chủ đạo của Chủ nghĩa xã hội Phật giáo được xác định là đã có một truyền thống lâu dài gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp giáo hóa của đức Phật lịch sử Thích Ca Mâu Ni (Siddhārtha Gautama ).

Ở Việt Nam, nền tảng của học thuyết về Chủ nghĩa xã hội Phật giáo cũng đã xuất hiện rất sớm gắn liền với các Trung tâm văn hóa Phật giáo mà điển hình là Trung tâm Luy Lâu (229-280), nhưng ghi nhận sớm nhất của học thuyết Chủ nghĩa xã hội Phật giáo Việt Nam là vào nhà Đinh (968-980), thời kỳ đầu kỷ nguyên độc lập của đất nước gắn liền với tên tuổi của Quốc sư Khuông Việt (933-1011) và sang đến cả nhà Tiền Lê (980-1009). Đáng kể nhất là thời đại Lý-Trần (1009-1400), không những chỉ có học thuyết Chủ nghĩa xã hội Phật giáo được ứng dụng sâu và rộng trong xã hội, mà Chủ nghĩa xã hội Phật giáo còn phát triển lên thành một bộ môn Triết học chính trị-xã hội Phật giáo Việt Nam và Đạo đức học Phật giáo, điển hình là Trúc Lâm đầu đà Giác Hoàng - Trần Nhân Tông. Như vậy, ít ra muộn nhất là vào thế kỷ IX đã hình thành Chủ nghĩa xã hội Phật giáo toàn diện.

Từ đó, Chủ nghĩa xã hội Phật giáo phát triển thành một loạt bộ môn khoa học về Chủ nghĩa xã hội Phật giáo, như: Triết học chính trị-xã hội Phật giáo, Đạo đức học Phật giáo, Nhận thức luận Phật giáo, Xã hội học Phật giáo, Giáo dục học Phật giáo, Y học Phật giáo, Hành chính học Phật giáo, Văn học Phật giáo, Nghệ thuật Phật giáo, Hình thái học Phật giáo, Tâm lý học Phật giáo, thậm chí là Nghi lễ học Phật giáo... đã điều phối các hoạt động của xã hội.

Với nền tảng của bề dày lịch sử hình thành, phát triển và đóng góp của Chủ nghĩa xã hội Phật giáo được bắt nguồn từ đức Phật lịch sử, nên Chủ nghĩa xã hội Phật giáo đã kế thừa truyền thống nền dân chủ-nhân bản của đức Phật, luôn ủng hộ quyền tự do, tự do xã hội, bình đẳng, cơ hội đồng đều, kể cả quyền tự do dân sự để phát triển một xã hội không có giai cấp, và xóa bỏ những bất công xã hội. Đặc biệt, Chủ nghĩa xã hội Phật giáo luôn chú trọng sự phát triển cân đối giữa thể chất và đạo đức.

Nền tảng căn bản và chủ đạo của Chủ nghĩa xã hội Phật giáo là yếu tố con người. Luôn vận động, tập hợp quần chúng nhân dân đoàn kết với một chính sách thích hợp sao cho quy tụ được lòng dân, và đó là tiềm lực sức mạnh của dân tộc, tiềm lực sức mạnh của đất nước.

Quan điểm của Chủ nghĩa xã hội Phật giáo là phục hồi, xây dựng và phát triển xã hội theo con đường trung dung, không tranh chấp trong cuộc tranh luận giữa lập trường “Nó lúc nào cũng là” của thuyết trường tồn, và “Nó đang là và sẽ không là” của lập trường đoạn diệt. Bởi vì, cả hai lập trường đó đều xa lìa việc xác định xây dựng và phát triển xã hội.

Vấn đề cơ bản của Học thuyết xã hội Phật giáo là xác định về mối quan hệ của bản thể nó là cái gì, để giải quyết vấn đề về bản thể nhìn nhận: Vật chất và Ý thức là gì? Chúng ta nhận thức thực tại như thế nào và có nhận thức được toàn bộ thực tại hay là không? Hạnh phúc là gì? Thế nào là thiện, thế nào là ác? Thế nào là giá trị và chúng được đánh giá như thế nào? Chúng ta nhìn nhận và đánh giá về cái đẹp ra làm sao?…

Học thuyết Chủ nghĩa xã hội Phật giáo không đề cập đến những phỏng đoán cũng như những hiện tượng siêu hình vô bổ, vì nó không những dẫn đến sự xa rời xã hội và không tích hợp được sự đồng thuận trong xã hội mà nó còn lấy chủ thể xã hội ra làm vật thí nghiệm, điều này vô cùng nguy hiểm, và vì vậy nó vô bổ.

Ai khai sáng ra Học thuyết xã hội Phật giáo? Bằng quan điểm: “Ta chỉ dạy một điều duy nhất: Khổ, và cách diệt khổ” thì đức Phật lịch sử Thích ca Mâu ni là người khai sáng ra Học thuyết xã hội Phật giáo. Học thuyết xã hội Phật giáo nhìn nhận Long Thụ (Nāgārjuna) là người đã phát triển Chủ nghĩa xã hội Phật giáo nguyên gốc lên một bậc thành Chủ nghĩa xã hội Phật giáo toàn diện bằng quan điểm “tám phủ định”, “tứ cú phân biệt” và “hai chân lý (Nhị đế)”.

“Tám phủ định là gì?”. Tám phủ định là: Không diệt, không sinh, không đoạn, không thường, không là một, không đa dạng, không vào (hiện hữu), không ra (cõi đoạn diệt). Và “Tứ cú phân biệt là gì?”. Tứ cú phân biệt là: Người ta không nên nói “trống không”, “không trống không”, cả hai, không cả hai. Bằng quan điểm “tám phủ định” và “tứ cú phân biệt” là tiền đề thứ nhất để giải quyết các vấn đề về bản thể, nhận thức và đạo đức.

Quan điểm thứ hai: “Hai chân lý” là tiền đề thứ hai để giải quyết các vấn đề về chân lý, thẩm mỹ.

Vậy, “Hai chân lý là gì?”. Hai chân lý là: Chân lý quy ước và chân lý trên bình diện tối cao. Người nào không nhận thức được sự khác biệt của hai chân lý này cũng không nhận được chân lý.

Đó chính là kỹ thuật biện chứng của Học thuyết Chủ nghĩa xã hội Phật giáo. Đây là một mẫu hình tư duy luận lý được xác lập bởi bốn thành phần, “tứ cú”, tương đương với bốn cách tuyển chọn luận lý khác nhau.

1.Nó như thế này;

2.Nó không như thế này;

3.Nó vừa là thế này vừa không là thế này;

4.Nó chẳng như thế này, cũng không không như thế này.

Tứ cú phân biệt là một mô hình lý thuyết của luật vô mâu thuẫnluật bài trung (luật cách tuyệt cái thứ ba) để lý giải một cái gì được gọi là chân lý và chỉ ra những nhược điểm trong những dạng luận cứ hoặc những mối tư duy nhất định cản trở tri thức. Vì vậy, mô hình lý thuyết này chỉ cho chúng ta tri thức. Nhưng chúng phải được kiểm nghiệm là thiện và qua đó, người ta có thể nhận thấy rằng mức độ chân thực của chúng cũng phụ thuộc vào mức độ của tính thực dụng và hữu ích của chúng.

Vì vậy, Học thuyết chủ nghĩa xã hội Phật giáo xác định sự hiểu biết trọn vẹn được thực hiện trên tầng cấp của “trí huệ vô ngôn”. Như vậy thì việc áp dụng Tứ cú phân biệt bao hàm ba khía cạnh:

 

- Khía cạnh giải phá (deconstructive), có nghĩa là vạch ra những đường cùng của tư duy hạn chế, bất thiện, và đồng thời;

 

- Khía cạnh kiến lập (constructive), là chuyển hoá vô minh (avidyā) thành trí Bát-nhã vô ngôn (prajñā), như vậy là dẫn dắt ra khỏi tư duy hạn chế;

 

- Khía cạnh kinh nghiệm (experience), là kiểm chứng tri thức.

 

Nếu không nương vào sự áp dụng [ngôn từ] thì hiện thực tối cao không được trình bày; và không đến chỗ hiện thực tối cao thì không thể trực chứng, đó là mô hình của sự phân chia mức độ hiện thực toàn diện được Học thuyết chủ nghĩa xã hội Phật giáo xây dựng và phát triển xã hội cân bằng giữa thể chất và đạo đức.

3.Thay lời kết

Học thuyết về Chủ nghĩa xã hội Phật giáo là một hệ thống được xây dựng dựa trên nền tảng của luân lý đạo đức. Trong khi chủ nghĩa tư bản chỉ quan tâm đến lợi nhuận và thành quả thì Chủ nghĩa xã hội Phật giáo sử dụng tính nhân bản, và ý thức được vai trò của sự phát triển cân đối giữa thể chất và đạo đức. Vì lý do này, Chủ nghĩa xã hội Phật giáo được đức Phật lịch sử Thích Ca Mâu Ni và Phật giáo trên khắp hành tinh sử dụng vào việc truyền bá những tư tưởng hòa bình, bình đẳng, bất bạo động, công bằng và tự do… và luôn luôn thực hành, ứng dụng nó vào đời sống xã hội.

Như vậy, xét về mặt khách quan thì Chủ nghĩa xã hội Phật giáo đã có một quá trình hình thành và phát triển cũng như đóng góp cho nhân sinh và nhân loại một loại hình về tính khả thi của Triết học chính trị-xã hội Phật giáo, góp phần vào xây dựng, phát triển xã hội công bằng, dân chủ, hòa bình vì một xã hội không có giai cấp.

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết:

Các bài viết liên quan