CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Tịnh Độ Tông - Triều đại Kamakura

Tông Joso (Tịnh Độ Tông)

Ý tưởng sơ khởi về Tông Joso (Tịnh Độ Tông) đã bắt đầu từ thời kỳ của Thái Tử Shotoku (Xứng Đức). Nhưng đến thời kỳ Nara (Nại-lương), Tịnh độ Tông mới thực sự phát triển thành một dòng tín ngưởng chủ lưu. Dòng tín ngưởng chủ lưu nầy trải qua suốt thời đại Heian (Bình An) và dần dần phát triển rộng rãi và ăn sâu vào tâm thức của người dân Nhật-bản. Các bậc uyên bác của tông Sanron (Tam Luận Tông), tông Hosso (Pháp tướng Tông), tông Tendai (Thiên Thai Tông) và của những Tông Phái khác đều có ước vọng được sinh về thế giới của Đức Phật A-di-đà vô lượng thọ, là bản môn của Đức Phật Thích Ca Mâu-ni lịch sử, được xưng tán là vị Phật với trí tuệ và từ bi viên mãn. Chúng ta nói rằng chúng ta muốn sinh vào cõi Tịnh Độ ở phương tây bởi vì phương Tây là nơi mặt trời lặn, nơi mà tâm hồn của con người đang sống trên thế giới đối đãi nầy có thể hướng đến để tìm kiếm sự bình an và thơ thới. Không nhất thiết phải nói rằng, cõi Tịnh Độ của Đức Phật A-di-đà nằm ở phương tây theo bất cứ ý nghĩa địa dư nào hay nằm cách cõi trần gian nầy mười muôn triệu cõi Phật về phía Tây. Cõi Tịnh Độ vượt khỏi tầm hiểu biết, tư duy hay lý giải của con người. Cõi Tịnh Độ là bất khả tư, bất khả lượng, bất khả thuyết. Nhưng để diễn đạt theo bằng từ ngữ cụ thể của trần gian thì kinh điển mới nói rằng cõi Tịnh Độ nằm cách cõi trần gian mười muôn ức cõi nước về phía Tây.

Dân chúng trong thời Kamakura (Liêm Thương) mong muốn đạt được giác ngộ bằng cách hướng tâm về cõi Tịnh Độ khi mà họ nhận chân được sự thật của cõi trần gian, nhận chân được những bước thăng trầm, vô thường, và biến chuyển liên tục của cuộc đời. Chẳng có gì là chắc thật, tệ hơn nữa, tham lam và sân giận sẽ hủy hoại kiếp sống nhiều nỗi oan khiên vô vọng nầy. Giới luật và thiền định đã trở thành những chuyện xa vời. Chỉ còn nguyện lực từ ái của Đức Phật A-di-đà đáp lại tiếng kêu khóc cầu cứu của những số phận đau thương và tuyệt vọng. Đây chính là con đường chân chính để tìm tới ánh sáng cứu khổ. Thế là niềm tin Tịnh Độ phát triển sâu rộng và Tổ Sư Honen (Pháp Nhiên 1133 - 1212) chính thức thành lập một Tông Phái. Tông Joso (Tịnh Độ Tông) ra đời.

a. Chư tiền hiền

Trước Honen (Pháp Nhiên) đã có các vị như Kuya (Không Dã: 903 - 972) và Ryonin (Lương Nhẫn: 1027 - 1132) đều dạy Pháp môn Nembutsu (Niệm Phật). Koya (Không Dã) đã du hóa khắp nơi, lo cho dân được an cư lạc nghiệp, sửa sang cầu cống, đường xá, thực hành và hướng dẫn mọi người đến với Nembutsu (Pháp Môn Niệm Phật). Ryonin (Lương Nhẫn) dựa trên kinh Kegongyo (Kinh Hoa Nghiêm) và kinh Hokekyo (Kinh Pháp Hoa), dạy rằng công phu Niệm Phật của một người sẽ yểm trợ cho công phu Niệm Phật của những người khác và ngược lại công phu Niệm Phật của những người khác sẽ yểm trợ cho công phu Niệm Phật của một người. Ryonin (Lương Nhẫn) cũng du hóa mọi nơi và hướng dẫn dân chúng đến với Nembutsu (Pháp Môn Niệm Phật). Nhưng nói chung, những lời dạy của hai vị tiền hiền nầy không để lại dấu ấn sâu đậm để có thể tạo nên một cuộc chấn hưng trong lĩnh vực tư tưởng. Mãi cho đến thời đại của Honen (Pháp Nhiên) thì chúng ta mới thấy có được những trang sử quan trọng.

b. Honen (Pháp Nhiên)

Sau thời gian tu học trên núi Hiei (Núi Tỷ-duệ) Honen (Pháp Nhiên) đã đi tham học ở nhiều tự viện tại Nara (Nại-lương). Khi trở về Honen (Pháp Nhiên) được xem là một đạo sư uyên bác nhất của thời đại. Tinh thông Phật Học nhưng đối với Ngài tinh thông Phật Học không có nghĩa là an lạc ngay tức thì. Có một băng khoăng quan trọng trong cuộc đời mà Honen (Pháp Nhiên) chưa giải tỏa được: vấn đề sống và chết. Và một ngày kia, Honen (Pháp Nhiên) đọc được bộ Ojoyoshu (Vãng Sanh Yếu Tập) của Genshin (Nguyên Tín), từ đó Honen (Pháp Nhiên) đọc sang bộ Kangyoso (Quán Kinh Sớ) tức là bản sớ giải của Kinh A-di-đà của Zendo (Thiện Đạo) và gặp được câu: “Nếu có chúng sinh nào nghĩ tưởng và niệm danh hiệu Đức Phật A-di-đà bất kỳ lúc nào và như thế nào miễn là được miên mật nhất tâm bất loạn thì gọi là Chánh Nghiệp vì niệm Phật như vậy là tương ứng với thệ nguyện của Đức Phật A-di-đà”. Câu kinh trên đã giải thông tất cả vấn đề sống chết của Honen (Pháp Nhiên). Bấy giờ Honen (Pháp Nhiên) bèn từ bỏ tất cả các pháp môn khác mà chỉ chú tâm vào duy nhất một Nembutsu (Pháp Môn Niệm Phật)) mà thôi. Như thế là tông Jodo Nembutsu (Niệm Phật Tịnh Độ Tông) ra đời vào năm 1175 lúc đó Honen (Pháp Nhiên) tròn 42 tuổi. Honen (Pháp Nhiên) xuống núi Hiei (Tỷ-duệ), xây dựng một thảo am tại Yoshimizu (Cát-Thủy) thuộc mạn Đông Kyoto (Đông Đô) và hoằng truyền Nembutsu (Pháp Môn Niệm Phật) cho mọi người bất kể là nam hay nữ, già hay trẻ, bất kể là quan quân hay sĩ thứ.

Tác phẩm chính của Honen (Pháp Nhiên) là Senjaku-Hongan-Nembutsu (Tuyển Trạch Bổn Nguyện Niệm Phật Tập). Trong tác phẩm nầy Honen (Pháp Nhiên) chia Phật Giáo thành hai loại pháp môn: Pháp Môn Khó và Pháp Môn Dễ. Ngài nói rằng Pháp Môn Khó dành cho những bậc thánh thiện nhiều năng lực còn Pháp Môn Dễ dành cho những người bình phàm nhiều si mê ám chướng. Ngài trích dẫn nhiều bộ kinh sớ khác nhau để tỏ rõ cho mọi người thời ấy thấy rằng thời bấy giờ chẳng còn pháp môn nào khác ngoài Nembutsu (Pháp Môn Niệm Phật), tức là chỉ duy nhất một Nembutsu (Pháp Môn Niệm Phật) mà thôi.

Pháp Môn Dễ do Honen (Pháp Nhiên) truyền bá bấy giờ rất gần gủi với tất cả những người căn cơ kém cõi, những người khao khát chứng ngộ nhưng căn lành không bằng được những người khác, họ không thể tự mình tìm được ánh đạo qua năng lực tự thân. Đồ chúng của Honen (Pháp Nhiên) càng lúc càng đông đảo. Sự kiện nầy cũng tạo nên sự đối nghịch từ nhiều phía, cụ thể là từ núi Hiei (Núi Tỷ-duệ), cứ điểm của Thiên Thai Tông (Tendaishu), từ tông Hosso (Pháp tướng Tông) và các Tông Phái khác ở Nara (Nại-lương), tất cả những đối nghịch đó dẫn đến sắc lệnh cấm chỉ Nembutsu (Pháp Môn Niệm Phật) của cựu thiên hoàng Gotoba (Hậu Điểu Vũ). Dĩ nhiên sự chống đối này không phải xuất phát hoàn toàn từ lòng ganh tỵ mà thôi, ắt hẳn phải có những lý do căn để hơn. Trong số những người tham gia các khóa tu Niệm Phật của Honen (Pháp Nhiên) có những người hoàn toàn không hiểu gì về điểm giáo lý cho rằng nếu có lòng tin chơn chánh thì ngay cả một người sống trong tội lỗi cũng sẽ được cứu độ một cách vô điều kiện dù người đó đang phải chịu trách nhiệm về những hành vi độc ác mà người đó đã phạm phải. Honen (Pháp Nhiên) đã quở trách nhiều lần những đồ chúng hiểu lệch lạc như vậy nhưng tà kiến đã tiêm nhiễm mạnh và phổ biến quá nhanh, rồi mọi chuyện cũng phải đi đến cái kết cục của nó. Lệnh cấm chỉ Nembutsu (Pháp Môn Niệm Phật) được đã ban hành. Honen (Pháp Nhiên) đã cố gắng hết sức nhưng không cứu vãn được tình thế, mọi chuyện diễn biến tồi tệ hơn đến mức một số đồ đệ của Ngài đã phải lãnh án tử hình. Bản thân Honen (Pháp Nhiên) và một số môn đệ thân tín phải bị lưu đày ở những nơi xa xôi. Năm 75 tuổi, Honen (Pháp Nhiên) bị đày đi Tosa (Thổ-tá), Shikoku (Tứ-quốc). Bốn năm sau được ân xá, Honen (Pháp Nhiên) về lại thủ đô nhưng chỉ một năm sau Honen (Pháp Nhiên) viên tịch ở Otani (Đại-cốc). Sau nầy những người đệ tử của Honen (Pháp Nhiên) xây dựng chùa Chion’in (Tri Ân Viện) nơi đó để tưởng niệm nơi Honen (Pháp Nhiên) đã viên tịch. Ngày nay chúng ta còn thấy ngôi chùa nầy ở Higashiyama (Đông Sơn), Kyoto (Đông Đô), hiện là trụ sở của tông Jodo (Tịnh Độ Tông).

Trong hàng môn đệ của Honen (Pháp Nhiên) có nhiều vị đã từng tu học ở Koya (Cao-dã), Hiei (Tỷ-duệ), và Nara (Nại-lương). Mặc dù học chung một Thầy, cùng một Nembutsu (Pháp Môn Niệm Phật) nhưng có lẽ vì có nền tảng giáo dưỡng nhân thân khác nhau nên sau khi Honen (Pháp Nhiên) viên tịch thì họ lại tách ra và bộc lộ những điểm khác biệt.

Môn nhơn của Honen (Pháp Nhiên) có những vị đạo sư có dòng truyền thừa phát triển là Benna (Tịnh-a: 1162 - 1238), Shoku (Chứng Không: 1177 - 1247), và Shinran (Thân-loan: 1173 - 1262). Dòng Phái Benna (Tịnh-a) phát triển thành Chinzei-ha (Trấn Tây Phái); Dòng Phái Shoku (Chứng Không) phát triển thành Seizan-ha (Tây Sơn Phái) của Tông Jodo (Tịnh Độ Tông); và Dòng Phái Shinran (Thân-loan) trở thành Shinshu (Chân Tông).

Khi Honen (Pháp Nhiên) viên tịch tại Kyoto (Đông Đô) vào năm 1212, thọ 79 tuổi thì các đại đệ tử của Honen (Pháp Nhiên) như Ryukan (Long Khoan), Kosai (Hạnh Tây) và Shinran (Thân-loan) vẫn còn sống lưu đày ở những châu quận xa xôi thuộc Miền Đông và Miền Bắc Nhật-bản.

c. Benna (Tịnh-a)

Sau khi Thầy là Honen (Pháp Nhiên) bị lưu đày, Benna (Tịnh-a) bèn trở về lại quê hương của mình ở Chikugo (Trúc Hậu), Kyushu (Cữu Châu) lúc đó Benna (Tịnh-a) đã 45 tuổi. Tại quê hương của mình Benna (Tịnh-a) xây dựng Chùa Zendoji (Chùa Thiện Đạo), hoằng dương Nembutsu (Pháp Môn Niệm Phật). Đệ tử của Benna (Tịnh-a) là Ryochu (Lương Trung: 1199 - 1287) đã biên soạn nhiều sớ giải về các tác phẩm của Zendo (Thiện Đạo) và Honen (Pháp Nhiên). Ryochu (Lương Trung) đã từng rời khỏi Kyoto (Đông Đô), đi đến Kamakura (Liêm Thương) để hoằng dương Nembutsu (Pháp Môn Niệm Phật). Trước khi Ryochu (Lương Trung) hội kiến với Benna (Tịnh-a) vào năm 37 tuổi thì Ryochu (Lương Trung) đã tham học giáo nghĩa của nhiều Tông Phái khác nhau tại Nara (Nại-lương) như giáo nghĩa của Thiên Thai Tông (Tendaishu), Chơn Ngôn Tông (Shingonshu) và cả Thiền Tông một Tông Phái mới mẽ do Dogen (Đạo Nguyên) từ Trung Hoa sang truyền giảng. Khi Ryochu (Lương Trung) hội kiến với Thầy là Benna (Tịnh-a) thì mới học được Nembutsu (Pháp Môn Niệm Phật). Hai năm sau Benna (Tịnh-a) viên tịch. Chúng ta được biết rằng Benna (Tịnh-a) đã ẩn náo ở Kyushu (Cữu Châu) để hoằng truyền Nembutsu (Pháp Môn Niệm Phật). Nhờ vào sự nỗ lực của Ryochu (Lương Trung) mà pháp môn này được truyền từ vùng Kyoto (Đông Đô) đến Kamamura (Liêm Thương) và phát triển rực rỡ trên toàn nước Nhật như chúng ta thấy ngày nay. Chinzei-ryu hay Chinzei-ha (Trấn Tây Phái) là tên gọi của Chi Phái nầy bởi vì trước đây nó có một thời hưng thịnh ở Chinzei (Trấn Tây) tức là Kyushu (Cữu Châu). Chinzei-ha (Trấn Tây Phái) dạy rằng công phu Niệm Phật và những thiện nghiệp được tích lũy đầy đủ kết hợp với Tam Tâm[1] theo thệ nguyện của Đức Phật A-di-đà thì chúng sanh sẽ được vãng sanh về cõi Tịnh Độ và từ đó chứng đạt đạo quả.

d. Shoku (Chứng Không)

Vào năm 30 tuổi, Shoku (Chứng Không) đến cầu thầy với Honen (Pháp Nhiên) rồi thọ học với thầy trên 22 năm. Như vậy chúng ta có thể nói rằng Shoku (Chứng Không) là người uyên thâm và quán triệt những giáo nghĩa mà Honen (Pháp Nhiên) giảng dạy. Khi Honen (Pháp Nhiên) soạn bộ “Senjakushu-Hongan-Nembutsushu” (Tuyển Trạch Bổn Nguyện Niệm Phật Tập) thì chỉ có vài người được Honen (Pháp Nhiên) cho làm trợ lý và Shoku (Chứng Không) chính là người trợ lý quan trọng nhất lúc đó. Không nằm trong danh sách của những người bị lưu đày, Shoku (Chứng Không) ở lại Nishiyama, Kyoto (Đông Đô) và hoằng truyền Nembutsu (Pháp Môn Niệm Phật) và Nembutsu (Pháp Môn Niệm Phật) nhờ vậy trở thành pháp môn thịnh đạt nhất. Chi phái của Shoku (Chứng Không) có tên là Seizan-ha hoặc Seizan-ryu (Tây Sơn Phái hoặc Tây Sơn Lưu) vì Seizan (Tây Sơn) là trụ sở nơi Shoku (Chứng Không) hoằng hóa. Ngày nay chùa Komyoji (Chùa Quang Minh) ở Ao (Túc Sinh), chùa Zenrinji (Chùa Thiền Lâm) và chùa Seiganji (Chùa Triết Nguyên) ở thành phố Kyoto (Đông Đô) là những cơ sở chính của Chi Phái nầy. Về phương diện giáo nghĩa thì tất cả các chùa chiền trên đều thuộc về Seizan-ha (Tây Sơn Phái).

Giáo lý của Shoku (Chứng Không) nói rằng: Do lời phát nguyện của Đức A-di-đà Như Lai nên tất cả công phu Niệm Phật và tất cả những hạnh nghiệp mà chúng ta thực hiện với tâm thành tín sẽ kết thành một khối công đức khiến cho chúng ta được sinh về Tịnh Độ rồi từ đó sẽ chứng đạt đạo quả.

e. Shinran (Thân Loan)

Shinran (Thân Loan) đã từng nghiên cứu giáo lý của Tendai (Thiên Thai) ở núi Hiei (Núi Tỷ-duệ). Năm 28 tuổi Shinran (Thân Loan) cầu học với Honen (Pháp Nhiên). Shinran (Thân Loan) tu học với Honen (Pháp Nhiên) được sáu năm. Đến năm 34 tuổi Shinran (Thân Loan) bị lưu đày đến Echigo (Việt-hậu) và nghe tin Honen (Pháp Nhiên) viên tịch. Khi được phóng thích thay vì trở về Kyoto (Đông Đô) thì Shinran (Thân Loan) lại đến Kanto (Quan Đông) và hoằng pháp nơi đây một thời gian khá lâu. Cho đến lúc cuối đời Shinran (Thân Loan) mới trở về lại Kyoto (Đông Đô) và cống hiến phần đời còn lại của mình cho việc biên soạn kinh sách. Trong những ngày tháng lưu đày Shinran (Thân Loan) đã sống theo nguyên tắc Hisohizoku (Phi Tăng Phi Tục) và Nembutsu (Pháp Môn Niệm Phật) của Shinran (Thân Loan) được quảng bá như thế. Sống cuộc đời với hình thức của một cư sĩ Shinran (Thân Loan) đã truyền đạt Nembutsu (Pháp Môn Niệm Phật) cho các con của mình. Theo Shinran (Thân Loan) thì những hành động của con người dù phát xuất từ ý chí và nhiệt tâm như thế nào đi nữa thì cũng là những hành động có cấu uế, không có ý nghĩa gì đối với đạo quả giác ngộ viên mãn. Theo Shinran (Thân Loan) thì điều thánh thiện nhất mà con người có thể đạt được thì gần như không là gì cả khi so với sự thánh thiện tuyệt đối trong lời nguyện của Đức Phật A-di-đà. Vì vậy Shinran (Thân Loan) nói rằng những điều tốt đẹp mà con người thực hiện qua thân khẩu ý có thể là thiện lành nhưng không thể so sánh được với sự chứng ngộ. Những điều thiện lành ấy không đưa đến sự chứng đắc nào cả. Shinran (Thân Loan) nghĩ rằng sự chứng ngộ chơn chánh chỉ có thể thật sự được chứng đạt nhờ vào Tha Lực vô biên của Đức Phật A-di-đà, chỉ cần có lòng kính tin vào sự cứu rỗi mà thôi. Trên nền tảng nhận thức như thế tông Jodoshinshu (Tịnh Độ Chân Tông) ra đời và hoằng hóa song song với tông Jodoshu (Tịnh Độ Tông) của Honen (Pháp Nhiên). Người đời sau xem Ngài là tổ khai sơn của tông Shinshu (Chân Tông).

Ngôi mộ của Shinran (Thân Loan) ở Kyoto (Đông Đô) được những người hậu duệ của Shinran (Thân Loan) gìn giữ và tôn tạo thành một ngôi chùa tên là chùa Honganji (Bổn Nguyên Tự). Vào đầu thời đại Tokugawa (Đức Xuyên) hai người con trai của Shinran (Thân Loan) chia ngôi chùa Honganji (Bổn Nguyện Tự) ra làm hai, chùa Higashi-Honganji (Đông Bổn Nguyện Tự) và chùa Nishi-Honganji (Tây Bổn Nguyện Tự). Sự chia cắt nầy có nguyên nhân từ chính sách của chính quyền đang cai trị đương thời. Hai ngôi chùa sát bên nhau, một ở phía bên Đông và một ở phía bên Tây, sau đó trở thành hội sở của hai chi phái lớn có giáo nghĩa giống nhau thuộc tông Shinshu (Chân Tông). Ngoài hai chi phái nầy còn có 8 chi phái khác cũng thuộc tông Jodoshinshu (Tịnh Độ Chân Tông) mặc dù tất cả đều theo chung một giáo nghĩa mà thôi.

f. Jishu (Thời Tông)

Bên cạnh các chi phái trên của tông Jodo (Tịnh Độ Tông), có một tông phái tên là tông Jishu (Thời Tông) cũng truyền bá pháp môn vãng sinh Tịnh Độ. Tông phái này được Ippen (Nhất Biến: 1239 - 1289) khai sáng. Ippen (Nhất Biến) đã học nơi Shotatsu (Thánh Đạt) đệ tử của Shoku (Chứng Không). Chuyện kể lại rằng Ippen (Nhất Biến) đã tọa thiền suốt 100 ngày tại một đền thời Shinto (Thần Đạo) tên là Kumanojinja (Hùng Dã Thần Xã) tại Tỉnh Kii (Kỷ-i) và được Kumano-Gongen (Hùng Dã Quyền Hiện), vị thần của ngôi đền này truyền cho một bài kệ. Giáo nghĩa của Ippen (Nhất Biến) lập cước trên bài kệ mà Ippen (Nhất Biến) đã nhận được. Ippen (Nhất Biến) dạy rằng trong Nembutsu (Pháp Môn Niệm Phật) thì không có ý niệm về ‘ta’ và ‘người’. Bằng những điệu múa Ippen (Nhất Biến) biểu đạt cảm giác hỷ lạc, truyền dạy Nembutsu (Pháp Môn Niệm Phật) và hành cước khắp mọi nơi. Chi phái nầy được người ta gọi là phái Yugyoha (Du Hành Phái) hay phái Yuyaku-Nembutsu (Dũng Dược Niệm Phật Phái). Phái nầy còn được gọi là Jishu (Thời Tông) vì dạy rằng mọi người nên niệm Phật ngay tức thời tại đây, nghĩ rằng giây nầy phút nầy chính là giây phút từ bỏ cuộc đời. Chùa Shojokoji (Thanh Tịnh Quan Tự) tại Fujisawa (Đằng Trạch), gần Kamakura (Liêm Thương), là hội sở của tông phái này.


[1] Chỉ cho Chí thành tâm, Thâm tâm và Hồi hướng phát nguyện tâm mà người tu phát nguyện để được vãng sanh Tịnh độ. Tương đương với Chí tâm, Tín nhạo tâm, Dục sanh tâm của điều nguyện thứ 18 trong 48 điều nguyện của đức Phật A-di-đà. (chú thích của ND)

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết:

Các bài viết liên quan