Những thành tựu của Phật giáo Khất Sĩ Việt Nam và hướng phát triển
- HT. Giác Toàn
- | Thứ Hai, 14:21 24-11-2014
- | Lượt xem: 14125
Bài viết muộn nhân Hội thảo Kỷ niệm 30 thành lập GHPGVN (1981 – 2011)
I. NIỀM VUI ĐẤT NƯỚC HÒA BÌNH VỚI NHỮNG BƯỚC ĐI BAN ĐẦU
Tôi được sinh ra và lớn lên từ vùng đất Mỹ Tho, Tiền Giang. Năm 14 tuổi, tôi có nhân duyên quy ngưỡng và xuất gia tu học theo Bổn sư là Sư cả Từ Huệ, khai lập Tịnh xá Mỹ Đức, TP. Mỹ Tho. Ba năm đầu, tôi được theo hầu Bổn sư tu tập, hành đạo qua lại các huyện, thị thuộc 2 tỉnh Tiền Giang và Bến Tre.
Đến cuối tháng 11 năm 1965, tôi rời Bổn sư lên Sài Gòn, y chỉ tu tập theo HT. Pháp sư Giác Nhiên tại Tịnh xá Trung Tâm, xã Bình Hòa, Gia Định (nay là phường 5, quận Bình Thạnh, TP. HCM) và hợp duyên trụ xứ cho đến nay. Ngày đất nước hòa bình, độc lập, thống nhất tôi là tu sĩ trẻ, là công dân thành phố Sài Gòn – Gia Định. Tôi nhớ khi còn là chú Huệ (điệu) theo hầu thầy, đến những ngôi tịnh xá nhỏ ở miền quê như Mỏ Cày, Thơm, Giồng Trôm, Giồng Tre, Giồng Quéo, Ba Tri… gặp nhiều ông bà cụ đi tịnh xá cúng hội vào những ngày rằm, ba mươi với tiếng đọc kinh run run của người già, lòng tôi vô cùng thương cảm. Có lần tôi hỏi quý Phật tử lạy Phật thường cầu mong gì? Phần nhiều quý Phật tử lớn tuổi bày tỏ tâm nguyện “cầu mong đất nước được hòa bình, rồi chết cũng vui…” Những lời nói ấy là dấu ấn khắc sâu, tôi nhớ mãi trong lòng. Cho nên, tôi nghĩ dù là ai khi phải sống trong thời chiến tranh, ai mà không mong muốn, không cầu nguyện cho đất nước được hòa bình. Niềm mong ước hòa bình là vô cùng thiêng liêng và mãi mãi thiêng liêng. Rồi ngày hòa bình thiêng liêng đã đến, với niềm vui tràn ngập tâm hồn. Từ 30/4/1975, Tổ quốc Việt Nam thân yêu đã bước qua một trang sử mới “Hòa bình, Độc lập và Thống nhất”. Điều tất nhiên, Phật giáo (PG) cũng bước vào giai đoạn mới, hội nhập các mặt sinh hoạt của PG trong xã hội mới, góp phần xây dựng đất nước hòa bình.
Tháng 8 năm 1976, tôi được mời tham gia Ban liên lạc PG yêu nước TP. HCM, với tư cách đại diện Giáo Hội Tăng Già Khất Sĩ Việt Nam. Từ đây, mọi việc như một quyển sách mới, với những chương mới, những trang viết mới được bắt đầu. Ban đầu, tôi đi hội họp, học tập và lắng nghe nhiều điều mới mẻ và đầy bỡ ngỡ… nhưng rồi, mọi việc dần dần quen, từ lý luận đến thực tiễn. Tôi thay thế nếp quen những buổi sáng ôm bát đi trì bình khất thực bằng những giờ tham gia lao động trồng tỉa, chăm sóc những cây chuối, cây mít, cây dừa ủng hộ tiền tuyến.
Thời gian trôi qua 5 năm (1975 – 1980). Rồi một hôm, tôi nhận được thư mời dự cuộc họp đặc biệt của chư Tôn đức giáo phẩm tiêu biểu của PG 3 miền Bắc – Trung – Nam tại văn phòng Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tại TP. HCM vào ngày 12, 13 tháng 2 năm 1980 (Canh Thân) để nhằm trao đổi, thảo luận, tìm ra phương cách vận động thống nhất PG Việt Nam.
Suốt 5 năm đầu, sau ngày đất nước hòa bình, tôi được tham dự hội họp, quen biết chư Tôn đức các Giáo hội, hệ phái tại TP. HCM qua các sinh hoạt của PG thành phố. Đến cuối năm 1979, tôi được tham gia phái đoàn tham quan miền Bắc, nên được quen biết thêm một số vị Tôn đức khi có duyên gặp gỡ. Đây là lần đầu tiên tôi được trực tiếp diện kiến, gần gũi, lắng nghe tôn ý các bậc cao tăng của các tổ chức PG trên khắp 3 miền, bày tỏ tâm nguyện về tiền đồ PG. Bấy giờ, niềm hạnh phúc ngập tràn trong tôi, và khi ấy tôi hãy còn là một đại biểu trẻ tuổi nhất trong hội nghị với 32 tuổi đời.
II. BA MƯƠI NĂM THÀNH TỰU
1. Hội nhập và thống nhất trong cộng đồng Phật Giáo Việt Nam
Nếu so với PG Bắc truyền Đại thừa Việt Nam có bề dày lịch sử 2.000 năm gắn kết sâu nặng trong lòng dân tộc và PG Nam tông Nguyên thủy có nguồn gốc sâu rộng từ Ấn Độ, Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia thì Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam là một tổ chức hệ phái PG biệt truyền, mới có ở miền Nam Việt Nam do Tổ sư Minh Đăng Quang sáng lập từ năm 1944, với chí nguyện “Nối truyền Thích Ca Chánh pháp – Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam”. Như vậy, nếu tính đến năm 1975 thì gần tròn 32 năm, và nếu tính đến năm 1980 mới được 37, 38 năm. Dưới góc độ thời gian, quả thật Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam là một hệ phái đàn em, đàn út trong lòng Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Nay nhân duyên hội tụ, Tổ quốc Việt Nam được hòa bình, độc lập, giang sơn thu về một mối, nên PG được thống nhất trong một tổ chức chung. Với tinh thần lãnh đạo của chính phủ và MTTQVN tạo cơ duyên thuận lợi cho các tổ chức Giáo hội, hệ phái; đồng thời, với đạo tình bao dung, hoan hỷ của chư Tôn đức Giáo phẩm PG các tông môn pháp phái toàn quốc, đồng thuận để Tăng Ni hệ phái Khất Sĩ được hội nhập trong cộng đồng Phật Giáo Việt Nam. Đây chẳng những là niềm hạnh phúc lớn của Tăng Ni hệ phái Khất Sĩ nói riêng, mà đồng thời đó cũng là bài học lớn nói chung về sự nâng đỡ cho sự phát triển của Phật giáo Việt Nam trong lòng Đạo pháp và Dân tộc.
Suốt 30 năm qua từ Tăng sự đến Giáo dục, từ Hoằng pháp, Hướng dẫn Phật tử đến Văn hóa, Nghi lễ, Từ thiện xã hội, Nghiên cứu Phật học, Quan hệ PG quốc tế, v.v... Tăng Ni, Phật tử hệ phái luôn được gắn bó, học tập và trưởng thành. Công đức và ân đức sâu dày này, tập thể Tăng tín đồ hệ phái luôn luôn khắc dạ ghi tâm.
2. Thành tựu trong xây dựng mới và đại trùng tu các Đạo tràng Tịnh xá
Theo truyền thống kiến trúc đặc thù của hệ phái, các tịnh xá được xây dựng theo cấu trúc bát giác, biểu tượng cho giáo lý Bát chánh đạo; với ngôi tháp tam cấp pháp toà chính giữa thờ Đức Phật Bổn Sư; ngôi tháp tôn trí Đức Phật Bổn Sư có 13 tầng mái tiêu biểu 13 nấc thang tiến hóa của nhân loại chúng sanh (lục phàm, tứ thánh, tam tôn). Trước đây, chung quanh tịnh xá được xây cất bằng vật liệu nhẹ, cây ván, tôn lá đơn sơ. Trong vòng 20 năm, số lượng tịnh xá tăng đáng kể. Từ năm 1955 đến 1975, số lượng tịnh xá từ 20 ngôi tăng lên hơn 200 ngôi, và Tăng Ni thuộc hệ phái từ 120 vị cũng tăng lên hàng ngàn vị.
Từ năm 1980 – 1981 đến nay (2011), số lượng tịnh xá và tịnh thất mới tăng lên gần gấp đôi, tức gần 500 ngôi. Phần lớn bằng vật liệu nặng, bê tông cốt thép và lợp ngói, khang trang theo bước tiến của thời đại phát triển. Đặc biệt có nhiều ngôi tịnh xá được xếp vào hạng mục danh lam thắng cảnh tại địa phương. Một số tịnh xá tiêu biểu như:
Giáo đoàn I: Tịnh xá Ngọc Viên (Vĩnh Long), Tịnh xá Ngọc Minh (Cần Thơ), Tịnh xá Ngọc Tường, Tịnh xá Ngọc Huệ (Tiền Giang)…
Giáo đoàn II: Tịnh xá Ngọc Đăng (TP. HCM), Tịnh xá Trúc Lâm (Bình Thuận), Tịnh xá Ngọc Nguyên (Ban Mê Thuột), Tịnh xá Ngọc Trang (Nha Trang)…
Giáo đoàn III: Tịnh xá Ngọc Tòng, Tịnh xá Ngọc Pháp (Nha Trang), Tịnh xá Ngọc Duyên (Bình Định), Tịnh xá Ngọc Quang (Đaklak), Tịnh xá Ngọc Phúc (Gia Lai), Tịnh xá Ngọc Đà (Đà Lạt)…
Giáo đoàn IV: Tịnh xá Trung Tâm (Q. Bình Thạnh – TP. HCM), Pháp viện Minh Đăng Quang (Q. 2), Tịnh xá Ngọc Thiền (Đà Lạt), Tịnh xá Mộc Chơn (Tiền Giang), Tịnh xá Ngọc Châu (Châu Đốc), Tịnh xá Ngọc Sơn (Kiên Giang)…
Giáo đoàn V: Tịnh xá Trung Tâm (Q. 6), Tịnh xá Ngọc Hòa (Vĩnh Long), Tịnh xá Ngọc Cẩm (Hội An), Tịnh xá Ngọc Thạnh, Tịnh xá Ngọc Đa (BRVT)…
Giáo đoàn VI: Tịnh xá Lộc Uyển (Q. 6), Tịnh xá Ngọc Châu (Tân Châu)…
Bên Ni giới tại TP. HCM: Tịnh xá Ngọc Phương (Q. Gò Vấp), Tịnh xá Ngọc Diệp (Q. 3), Tịnh xá Ngọc Duyên (Q. Bình Thạnh), Tịnh xá Ngọc Phú (Q. Tân Bình), Tịnh xá Ngọc Lâm (Q. 6), Tịnh xá Ngọc Thành (Q. Thủ Đức), v.v…
Suốt các tỉnh miền Đông, miền Tây Nam Bộ và miền Trung còn rất nhiều tịnh xá Tăng, Ni trùng tu rất khang trang tốt đẹp, tương ứng thời duyên đất nước ổn định, phát triển hòa bình.
3. Thành tựu về Giáo dục Tăng Ni và Hoằng pháp lợi sanh qua hướng dẫn nam nữ Phật tử
Tính từ thời Tổ sư lập đạo năm 1944 đến 1954, tiếp đến các Trưởng lão đại đệ tử nối tiếp thành lập các giáo đoàn, công tác giáo dục Tăng Ni phần nhiều thực hiện theo tinh thần truyền thống gia giáo, thầy trụ trì tại mỗi tịnh xá trực tiếp dạy trò thọ học kinh – luật – luận rồi tiếp tục nghiên cứu, trưởng thành. Chính vì vậy, phần lớn Tăng Ni có nội lực về phạm hạnh tu tập, kiến thức tự học kinh luật nội điển đạt từ trung bình đến khá, hoặc giỏi do năng lực của từng cá nhân, nhưng kiến thức về học thuật, xã hội thì thường còn thiếu chiều sâu.
Ba mươi năm qua, kể từ ngày được hội nhập trong lòng GHPGVN, các thế hệ Tăng Ni trẻ của Hệ phái được hòa nhập trong định hướng đào tạo của Giáo hội. Ngay trong khóa I (1985 – 1989), Trường Cao cấp Phật học cơ sở 2 TP. HCM đào tạo 60 Tăng Ni sinh, trong số này có hơn 10 Tăng Ni sinh hệ phái theo học và tốt nghiệp. Hiện nay số này đã trưởng thành 4 vị về phục vụ tại tỉnh thành địa phương và 6 vị du học Ấn Độ, 5 vị tốt nghiệp tiến sĩ Phật học và 1 vị thạc sĩ. Từ khóa II (1989 – 1993) đến khóa VII (2007 – 2011), trường đã đào tạo trên 2.000 Tăng Ni sinh hệ Cử nhân Phật học. Trong số này có khoảng 200 vị đi du học chương trình sau đại học tại nhiều nước, đã có hàng trăm vị tốt nghiệp tiến sĩ, thạc sĩ về nước phục vụ giảng dạy tại các Học viện PG và các trường Phật học trong nước. Trong số này, Hệ phái đã có hơn 25 vị.
Ngoài ra, tại các lớp Cao Đẳng, các trường Trung Cấp, các lớp Sơ cấp Phật học ở các tỉnh thành đều có Tăng Ni sinh trẻ của Hệ phái theo học. Về công tác hoằng pháp và hướng dẫn Phật tử cũng cho thấy một bước tiến hết sức khả quan. Tại nhiều cơ sở tịnh xá của các tỉnh thành và huyện thị có nhiều đạo tràng tịnh xá tổ chức tu Bát quan trai, niệm Phật, tu thiền, học giáo lý hàng tuần, hàng tháng rất tinh tấn, đều đặn; mỗi nơi có hàng trăm Phật tử theo học.
4. Trách nhiệm trước cuộc sống qua công tác Từ thiện Xã hội và mối quan hệ cộng đồng
a) Ý thức trách nhiệm trước cuộc sống và mối quan hệ cộng đồng
Nếu như khoảng 30 - 40 năm trước đây, Tăng Ni trụ xứ tại các tịnh xá thường thu thúc tu tập phạm hạnh, ít bận tâm đến việc chung quanh, bên ngoài tịnh xá. Thì giờ đây, sau 30 năm hội nhập trong lòng Giáo hội, với tư tưởng hạnh nguyện lục độ Ba-la-mật, hằng ngày ngoài việc chăm sóc ngôi Tam bảo, hướng dẫn Phật tử tu tập, Tăng sư, Ni cô còn thấy rõ ý thức trách nhiệm của người tu trước cuộc sống, cùng chia sẻ những khó khăn với xã hội trong các mặt liên hệ.
Hằng năm, nhiều cơ sở tịnh xá thường tổ chức đi tặng quà, ủy lạo đồng bào nghèo, những người bị thiên tai, địa ách; thăm tặng quà cho các cơ sở già neo đơn, trẻ mồ côi khuyết tật, chất độc da cam, v.v... hoặc hưởng ứng, tham gia, chung góp công tác từ thiện xã hội của PG tỉnh, quận, huyện nhà… bằng ý thức trách nhiệm. Đồng thời, biết chủ động tham gia các sinh hoạt đoàn thể của MTTQ với các mối quan hệ địa phương, không còn bị ngăn cách và thụ động.
b) Nhiều cơ sở Tuệ Tĩnh Đường và kinh tế tự túc được hình thành
Ngày nay, tại các tịnh xá ở các tỉnh, thành địa phương, có nhiều Tuệ Tĩnh Đường hốt thuốc nam, châm cứu, bấm huyệt… trị bệnh miễn phí cho dân nghèo như Tịnh xá Trung Tâm (Q. Bình Thạnh), hoặc cơ sở kinh tế tự túc nhà chùa đi vào hoạt động như Tịnh xá Ngọc Phương (Q. Gò Vấp) đã và đang thực hiện rất hiệu quả.
III. NHỮNG NÉT ĐẸP CÒN ĐỌNG LẠI
1. Nét đẹp của hạnh trì bình khất thực
Đức Phật xuất thân từ hoàng tộc, nhưng khi thành đạo rồi thì ngài trở lại với cuộc đời với thân tướng của một đại sa-môn, du hành hóa độ chúng sanh. Ngài chủ trương mỗi ngày ôm bát đi trì bình để luôn gần gũi, chan hòa với bá tánh, nhân sinh; để tạo duyên lành cho mọi người dù giai cấp nào cũng đều có thể là thí chủ, là ân nhân, cúng dường cho Ngài một vật phẩm, một buổi ngọ trai. Chính đây là hạnh tu đã làm nên truyền thống đặc sắc của Đức Phật và đạo Phật.
“Nhất bát thiên gia phạn
Cô thân vạn lý du
Dục cùng sanh tử lộ
Khất hóa độ xuân thu”.
N Nghĩa: “Một bát cơm ngàn nhà
Thân đi muôn dặm xa
Muốn thoát đường sanh tử
Xin độ tháng ngày qua”.
Ngay từ buổi đầu Đức Phật đã khẳng định điều này và không bao giờ Ngài chấp nhận một nhà sư, một tỳ-kheo do vì lười biếng hay vì vật chất, lợi dưỡng mà đi trì bình thì đó cũng giống như một người đi xin ăn cầu sống, là “khất cái” chứ không phải là nhà sư Khất sĩ phạm hạnh.
Ngày nay, ở nhiều nước Phật giáo còn giữ được truyền thống tốt đẹp từ thời Đức Phật tại thế, qua bộ phim “Mê Kông Ký sự” hay “Ký sự các nước Đông Nam Á”, chúng ta còn gặp lại hình ảnh đẹp về những ngôi chùa Phật và những nhà sư ôm bát đi trì bình khất thực dưới ánh bình minh trên những nẻo đường. Ôi! Hiền và đẹp biết bao những hình ảnh biểu hiện sự an lành, đạo đức trong cuộc sống của những xứ sở thanh bình!
2. Nét đẹp về truyền thống ly xả – vô ngã
Đức Phật cũng xác lập hạnh ly xả, với tư cách một Thái tử, Ngài có tất cả danh vọng, sự nghiệp và tài sản, nhưng Ngài từ bỏ tất cả để ra đi tìm đường giải thoát, và Ngài đã thành tựu. Sau khi thành đạo, Ngài trở lại với cuộc đời bằng phạm hạnh của một vị sa-môn. Ngài từng giáo huấn: “Này chư tỳ-kheo, hãy luôn du hành vì an lạc, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chư thiên và loài người”. Vì vậy, trong nhiều kinh sử ghi lại cho chúng ta thấy, Đức Phật và Tăng đoàn đệ tử Ngài luôn du hành, đến đâu là Tam bảo đạo tràng, tự viện, tịnh xá được thí chủ tín tâm cúng dường dựng lập đến đó. Mục đích chính là tọ dựng cơ sở để hoằng hóa độ sanh, là tài sản chung của tập thể Tăng-già, còn sứ mạng của các thầy tỳ-kheo là luôn du hành, hoằng hóa.
“Một cành mà nở trăm hoa
Bóng y bát đẹp quê ta tự rày
Chơn truyền Khất Sĩ là đây
Bóng xưa với lại hình này dặm không
Đã không, không tới tận cùng
Nhứt Y, nhứt Bát dạo cùng nước non”.
(Ánh Minh Quang, NXB. TP. Hồ Chí Minh, 2008, tr. 40)
Trong 10 năm đầu lập đạo (1944 – 1954), Tổ sư đã chứng minh thành lập hơn 20 ngôi tịnh xá với chủ trương xây dựng bằng vật liệu cây lá đơn sơ để có chỗ tạm nương hành đạo. Tổ nói: “Đạo tràng là chỗ thiện nam tín nữ (cư sĩ tại gia) tới lui vun trồng căn lành cội đức; Tịnh xá là nơi chư Tăng Ni (người tu xuất gia) tạm dừng tu tập, tỏ nghĩa tâm kinh”. Cho nên, trong hơn 30 năm (1944 – 1975) chư Tăng Ni Khất Sĩ luôn được đổi trụ, một tịnh xá không ở quá 3 tháng, mỗi năm 4 kỳ đổi trụ (rằm tháng Giêng đến rằm tháng 4, rằm tháng tư đến rằm tháng 7, rằm tháng 7 đến rằm tháng 10, rằm tháng 10 đến rằm tháng Giêng). Nhờ vậy, tinh thần vô ngã, vô ngã sở và ly xả tài sản một phần nào được thực hiện rất hiệu quả.
Ngày nay, thực tế cho thấy, sau hơn 30 năm hội nhập trong lòng GH, chư Tôn đức Tăng Ni của hệ phái phần nhiều là thành viên các cấp GH, cho nên rất khó thực hiện sự thay đổi trụ xứ. Nhưng thiết nghĩ, chúng Tăng trụ xứ, nhất là các vị tân thọ Tỳ-kheo và Sa-di nếu được thay đổi, thì cũng là cách để trau dồi rèn luyện tâm trí, tạo điều kiện tốt cho việc tu tập hạnh vô ngã, ly xả, không chấp thủ tài sản trong thời đại xã hội và thế giới vật chất phát triển ồ ạt, để làm gương lành cho hạnh tri túc, từng bước lắng nhẹ tham, sân, si cho mỗi tự thân và cuộc đời.
3. Truyền thống truyền thọ y bát và giới luật
Trong giáo pháp, Tam bảo là ba ngôi báu vô cùng tôn kính và thiêng liêng. Nhân duyên của thầy trò là vô cùng thiêng liêng, bởi nó được nối kết từ nhiều đời nhiều kiếp cho đến ngày nay. Buổi đầu, chúng ta thấy hình ảnh Đức Phật độ năm anh em A-nhã Kiều-trần-như là hết sức thiêng liêng. Rồi đến Đức Phật độ ngài Da-xá, Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, Ca-chiên-diên, A-nan, v.v… mỗi vị đều có một nhân duyên vô cùng đặc biệt. Ngay cả các đệ tử trong hàng Ni giới hay cư sĩ cũng vậy. Ông trưởng giả Cấp Cô Độc, hay bà Tỳ-xá-khư cũng đều đã gieo duyên lành với giáo pháp Đức Phật từ nhiều đời kiếp trong quá khứ.
Ngày nay, GHPGVN chúng ta có 9 tổ chức giáo hội, hệ phái hợp nhất với tôn chỉ, mục đích qua phương châm hoạt động là phụng sự “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội”. Đồng thời, nền tảng thực hiện các sinh hoạt Phật sự dựa trên nguyên tắc thống nhất. Ngay từ buổi đầu, Giáo hội đã chủ trương thể hiện tính thực tế, bình đẳng và dân chủ, thống nhất ý chí và hành động, thống nhất lãnh đạo và tổ chức; các pháp môn tu hành theo đúng Chánh pháp đều được tôn trọng và duy trì.
Đây là nét độc đáo của GHPGVN mà những nước PG khác trên thế giới rất khó thực hiện. Rất mong trong những nhiệm kỳ tới, chư Tôn đức giáo phẩm lãnh đạo các cấp GH hoan hỷ tạo điều kiện giúp đỡ cho Tăng Ni hệ phái được truyền thọ giới pháp theo truyền thống đúng như nguyên tắc thống nhất đã đề ra. Đó thật sự là ân đức thâm trọng đối với Tăng Ni, Phật tử thế hệ hậu sinh của hệ phái.
IV. KẾT LUẬN
Theo quy luật tiến hóa, dòng đời luôn đi tới, phát triển và hoàn thiện. Ngày tháng dần đi qua trong vòng quay bất tận, những thành tựu tốt đẹp thì con người luôn biết trân trọng, gìn giữ để phát huy, và hạn chế, nhiếp phục những điều còn thiếu kém. Đồng thời, những điều tốt đẹp còn bị ẩn khuất, khi cơ duyên khách quan cho phép, tức khế hợp thời duyên, chúng ta cũng cần nên khơi dậy, làm đẹp những vốn quý của mình.
Mong rằng Đức Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni và lịch đại Tổ sư, tiền hiền luôn hộ độ chúng ta.
Mong rằng những điều kém khuyết, ưu bi… ngày một lắng xuống.
Mong rằng những điều hiền thiện, an lạc luôn hiện diện, tăng trưởng, hằng hữu trong tâm thức của mỗi chúng ta.
Thành phố Hồ Chí Minh, 25/12/2011
Các bài viết liên quan
- Báo cáo Đại lễ kỷ niệm 100 năm ngày Đức Tổ sư Minh Đăng Quang hiện thân vào đời - Thứ Bảy, 23:28 24-08-2024 - xem: 5394 lần
- Giáo hội Phật giáo Việt Nam hướng dẫn tổ chức Lễ tưởng niệm Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng - Thứ Ba, 22:03 23-07-2024 - xem: 8461 lần
- Đồng Nai: Đại giới đàn Đạt Thanh bế mạc để lại nhiều dấu ấn trong Phật sự của Phật giáo tỉnh Đồng Nai - Thứ Ba, 15:51 30-04-2024 - xem: 15992 lần
- Đồng Nai: Giới tử Ni giới Hệ phái Khất sĩ thi tụng Luật tại Đại giới đàn Đạt Thanh - Thứ Sáu, 17:51 26-04-2024 - xem: 4058 lần
- Đồng Nai: Trang nghiêm Khai mạc Đại Giới đàn Đạt Thanh PL.2567 - DL.2024 - Thứ Bảy, 17:22 27-04-2024 - xem: 3895 lần
- Danh sách Hội đồng Chứng minh GHPGVN nhiệm kỳ IX (2022 – 2027) - Thứ Năm, 06:30 01-12-2022 - xem: 6936 lần
- Danh sách Hội đồng Trị sự GHPGVN nhiệm kỳ IX (2022 – 2027) - Thứ Tư, 19:23 30-11-2022 - xem: 9032 lần
- Hà Nội: Bế mạc Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ IX - Thứ Ba, 20:20 29-11-2022 - xem: 6761 lần
- Trọng thể khai mạc Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ IX, nhiệm kỳ 2022-2027 - Thứ Hai, 15:09 28-11-2022 - xem: 8509 lần
- Phiên Trù bị Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ IX, nhiệm kỳ 2022-2027 - Thứ Hai, 14:50 28-11-2022 - xem: 5898 lần
- Hội nghị Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự kỳ họp thứ 7 – khóa VIII - Thứ Hai, 14:43 28-11-2022 - xem: 5734 lần
- Hà Nội: Đại hội IX – Khai mạc Triển lãm “Phật Giáo Việt Nam – Dấu Ấn Tinh Hoa” - Thứ Hai, 08:41 28-11-2022 - xem: 4474 lần



