CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !

Tìm hiểu về Nghi lễ Phật giáo

I. DẪN NHẬP

Mỗi tôn giáo xuất hiện đều mang lại một lợi ích thực tiễn nhất định. Từ khi Phật giáo du nhập vào Việt Nam đã cắm rễ, phát triển và đơm bông kết quả. Phật giáo Việt Nam là một tôn giáo lớn với đầy đủ đạo đức, triết lý, khoa học có thể đương đầu với nền văn minh hiện đạiđem lại lợi ích thiết thực cho đất nước Việt Nam.

Hiện nay có nhiều người cho rằng Phật giáo Việt Nam là phiên bản của Phật giáo Trung Quốc, đặc biệt là về mặt nghi lễ Phật giáo. Nhưng họ không hiểu rằng nghi lễ của Phật giáo rất đa dạng, không chỉ có tán tụng, mà bao gồm lễ nghi phép tắc của một người xuất gia hay một người Phật tử tại gia. Do đó, qua bao nhiêu thế kỷ, đạo Phật vẫn nghiễm nhiên đi vào cuộc đời như dòng nước mát trong, chảy qua từng lạch sông rồi thấm vào từng lớp đất sớ thịt nuôi lớn, sinh trưởng những mầm sống.

Trước những thành tựu khoa học phát triển, cộng thêm sự biến động của nền kinh tế thị trường, đã đưa con người đến ch mất thăng bằng giữa đời sống vật chất và tinh thần, nhất là hiện nay đời sống tinh thần của xã hội đã tác động tiêu cực về các chuẩn mực giá trị đạo đức. Một lần nữa những lễ nghi phép tắc của Phật giáo có vị trí hết sức to lớn trong sự tồn vong của con người và sự phát triển của xã hội. Nhà khoa học Einstein cũng đã nhấn mạnh: “Khoa học kỹ thuật chỉ làm sạch được phần vật chất thôi, chứ khoa học văn minh hiện đại không làm sao cải thiện và thanh lọc được phần tâm linh của nhân loại”.

Chính vì những lý do đó, bài viết này người viết muốn làm rõ những vấn đề hiện nay nhiều người còn chưa rõ. Mong rằng có thể đóng góp một phần công đức vào sự phát triển chung của Phật giáo Việt Nam trong hiện tại cũng như trong tương lai.

II. NỘI DUNG

1. Sơ lược nguồn gốc hình thành nghi lễ Phật Giáo Việt Nam

Việt Nam với một vị trí địa trí địa lý hết sức thuận lợi, nằm trong bán đảo Đông Dương giữa Ấn Độ và Trung Hoa cho nên Phật giáo du nhập vào nước ta một cách nhanh chóng, không có một sự phản kháng nào. Từ thế kỷ thứ nhất, xứ Giao Châu là một bến cảng cho các thương thuyền Ấn Độ ghé qua buôn bán các sản phẩm tơ lụa, vải vóc, hồ tiêu và các gia vị khác. Các vị tu sĩ Ấn Độ theo các thương thuyền vào Giao Châu, và như thế đạo Phật được biết đến nước ta qua những sinh hoạt hằng ngày của các vị tu sĩ. Theo Nguyễn Lang trong Việt Nam Phật giáo Sử Luận nói:

“Đạo Phật đầu tiên do các thương gia Ấn Độ đem đến, họ đọc ba điều quy y, giữa tam quy, giữ ngũ giới. Họ tin ở thuyết nhân quả; vì vậy họ bố thí cúng dường, nhất là cúng dường y phục và chỗ cư ngụ cho tăng sĩ. Họ còn thờ phụng xá lợi Phật, đốt hương trầm, đọc thuộc một vài đoạn kinh nhân quả, kể chuyện tiền thân của đức Phật.”[1]

Với một nội dung sinh hoạt buổi đầu như vậy, dường như rất phù hợp với tín ngưỡng văn hóa bản địa người Việt thời bấy giờ, dần dần từ các nghi thức đơn giản đã hòa nhập vào nền văn hóa nước ta và trở thành các nghi lễ nhật dụng của Phật giáo. Tuy chưa có hình dáng đặc sắc nhưng những nghi lễ ấy cắm sâu vào lòng người dân xứ Giao Châu.

Ngoài ra, xứ Giao Châu xưa kia là một châu thuộc Trung Quốc cổ xưa, đến khi Lê Lợi đánh đuổi được quân Minh lên làm vua mới thành lập đất nước riêng biệt. Do đó ít nhiều đời sống nhân dân thời đó bị ảnh hưởng nhiều từ đời sống phong kiến Trung Quốc, đặc biệt là ảnh hưởng từ Khổng giáo. Cho nên các nghi lễ của Phật giáo chúng ta thấy tương tự nghi lễ của Khổng giáo, nổi bật nhất là tục thờ cúng ông bà tổ tiên và cầu nguyện trời đất, cúng ông địa, cúng ông thần tài, cúng đất đai….cho đến thời Lý - Trần Phật giáo phát triển rực rỡ và trở thành quốc giáo. Các vị thiền sư nghiên cứu kinh Phật, dùng những lời Phật dạy để trị quốc an dân. Từ đó giáo lý Phật được mọi người biết đến một cách đúng nghĩa, không còn xem ông Phật là ông thần nữa và những nghi lễ của Khổng giáo được chuyển thể thành những nghi lễ của Phật giáo; những cách vái van cầu xin ngày xưa đã được Phật giáo thay bằng những nghi thức tụng niệm kinh Phật có nhịp nhàng, uyển chuyển theo nền văn hóa dân tộc thời bấy giờ. Lần đầu tiên trong lịch sử, các vị thiền sư đời Lý - Trần tổ chức giới đàn và các buổi pháp đàn, tổ chức các buổi cúng linh, các buổi truyền giới thọ Tam quy cho Phật tử.

Nghi lễ Phật giáo dần dần hình thành và phát triển từ lúc đó, nhưng nổi bật nhất là âm nhạc Phật giáo. Bởi vì Phật giáo được biết đến phần nhiều là nhờ âm nhạc. Có nhiều người hiện nay còn tranh cãi vì cho rằng âm nhạc Phật giáo là theo phong tục của Trung Quốc. Nhưng chúng ta thiết nghĩ Phật giáo truyền đến đâu đều bị văn hóa địa thâm nhập đến đó, tạo nên một sắc thái riêng của vùng miền nơi đó. Cho nên Phật giáo du nhập vào Việt Nam phải chịu ảnh hưởng văn hóa Việt Nam, ví dụ như trang phục Phật giáo Bắc Tông giống trang phục Phật giáo Trung Quốc nhưng màu sắc và chất liệu là của Việt Nam. Phật giáo Việt Nam quy định rõ ràng Tăng mặc trang phục màu đà, Ni mặc trang phục màu lam. Vậy thì ngoài trang phục ra còn rất nhiều hình thức khác của Phật giáo Việt Nam nữa không thể nào nói là của Trung Quốc hay nước nào được. Ví dụ bàn về nguồn gốc của âm nhạc Phật giáo Giáo sư Lê Mạnh Thát viết:

“Nền âm nhạc Phật giáo từ Ấn Độ truyền vào một mặt đã ngăn chận được sự lấn lướt của nền âm nhạc Trung Hoa do chính sách diệt chủng của kẻ thù áp đặt. Mặt khác, nó tạo điều kiện cho nền âm nhạc Hùng Vương tiếp thu nền âm nhạc Ấn Độ, để hóa thân thành nền âm nhạc Phật giáo Việt Nam và lễ nhạc Phật giáo Việt Nam.”[2]

Như vậy ta có thể nói nghi lễ Phật giáo Việt Nam không phải là nghi lễ của Ấn Độ hay nghi lễ của Phật giáo Trung Hoa, mà nghi lễ của Phật Giáo Việt Nam là sự dung hợp hài hòa giữa các dòng văn hóa trong quá trình tiếp thu để tạo thành một hệ thống nghi lễ đặc thù của Phật giáo Việt Nam. Hơn thế nữa, Miền Nam Việt Nam chịu ảnh hưởng nền Văn hóa Khơme, do đó Phật giáo Nam tông cũng có một hình thức nghi lễ riêng chịu ảnh hưởng văn hóa Khơme, nhưng không vì thế mà làm mất đi bản sắc văn hóa sông nước đồng bằng Sông Cửu Long. Nghi lễ của Phật giáo Nam Tông góp một phần làm cho nghi lễ của Phật giáo Việt Nam thêm phong phú và đa dạng. Cho nên nghi lễ Phật giáo Việt Nam hình thành theo một dòng chảy từ Bắc vào Nam mang âm hưởng văn hóa Việt Nam. Ví dụ như:

“Âm nhạc của miền Bắc mang dáng vấp thanh bình của thời lập quốc, âm nhạc miền Trung mang nét thâm trầm của dòng sông Hương còn âm nhạc của miền Nam mang nét trù phú của đồng bằng sông Cửu Long.”[3]

Do đó, nghi lễ hiện nay mà chúng ta đang thực hành là nghi lễ của Phật giáo Việt nam, do chính người Việt tiếp thu phát triển và mang âm hưởng của linh hồn văn hóa Việt Nam.

2. Tác dụng của nghi lễ Phật Giáo Việt Nam

Trước khi đi vào tìm tiểu tác dụng của nghi lễ Phật giáo Việt Nam, chúng ta tìm hiểu thế nào là Nghi lễ Phật giáo?

“Nghi” là phép trắc, khuôn mẫu, là hình thức bề ngoài để bày tỏ cái lễ ở trong.

“Lễ” là cách bày tỏ, cư xử đẹp đẽ.

Điều quan trọng trong nghi lễ Phật giáo là phải thể hiện được biểu tướng của Tăng bảo. Để cho người ta kính mình, muốn giữ cho tăng bảo trường tồn và giữ cái nghi biểu của một ông thầy thì phải dụng công, công phu tu tập đó mới là nghi lễ đúng nghĩa của Phật giáo. Còn nghi lễ tụng niệm trong các thời khóa chỉ là hình thức lễ nhạc thôi.

Như vậy, nghi lễ bao trùm hành vi, thái độ tín ngưỡng, văn hóa, ngôn ngữ, phong cách của con người và xã hội. Cho nên nghi lễ Phật giáo là những hình thức do chư Tăng thực hiện trong việc hoằng truyền chánh pháp. Làm cho đa dạng về nghi thức và đa dạng về nghi lễ. Nghi lễ gồm có lễ nhạc, lễ tụng, lễ nghi, lễ bái, lễ phục, lễ đường, lễ khí.[4]

Như vậy nghi lễ Phật giáo rất đa dạng và thích hợp cho mọi tầng lớp. Vì xã hội là một khối hỗn hợp gồm nhiều thành phần, nhiều căn cơ khác nhau, cho nên Phật giáo nhập thế cũng phải tùy vào khế lý, khế cơ mà hóa độ. Do đó nghi lễ có tác dụng trên nhiều phương diện.

- Xét trên phương diện hoằng pháp thì nghi lễ là một hình thức phương tiện dễ hóa độ chúng sanh nhất. Đối với những ai chưa từng biết đến Phật giáo, một khi nghe được tiếng tụng kinh du dương trầm bổng sẽ dễ thu hút tâm hồn và gần gũi với người đó hơn. Một khóa lễ đúng chân lý đạo Phật có tác dụng tương đương như một thời thuyết pháp. Đôi khi còn dễ cảm hóa mọi người hơn là sự thuyết giảng, bởi những nghi lễ Phật giáo được sàn lọc và dung hòa từ văn hóa dân gian đồng thời kết hợp với lời Phật dạy. Các bậc tiền bối cho rằng nghi lễ là vũ khí lợi hại nhất khi ra mặt trận hoằng dương chánh pháp.

Nghi lễ Phật giáo hòa nhập vào lòng mọi người để sớm chiều thức tỉnh. Vì vậy mỗi pháp hội thức tỉnh mọi người biết lúc quay về để dự mà an tịnh tâm hồn. Nghi lễ có tác dụng truyền tải giáo lý đức Phật vào các vùng miền, nên người chủ lễ phải giữ tâm định để thực hiện cho được mục đích thông qua các nghi, các lễ dù đó là nghi cho người sống hay người chết.

- Xét trên phương diện lễ nghi thì những hình thức của nghi lễ là các chuẩn mực đạo đức cần phải có của một người đệ tử Phật. Đối với giới xuất gia đó là oai nghi - giới luật bắt buộc phải giữ, Tăng phải nghiêm trì 250 giới, Ni phải giữ 348 giới. Đối với Phật tử tại gia thì phải hành trì Tam quy – Ngũ giới, xa hơn nữa là giữ Bát quan trai giới và thọ Bồ-tát giới.

Giới là điều cần thiết nhất cho người xuất gia vì “Giới luật là thọ mạng của Phật pháp. Giới luật còn thì Phật pháp còn”, giới luật là những điều ngăn cấm từ kim khẩu của Phật thuyết chế ra thành giới pháp, giới tướng để các chúng đệ tử Phật thực hành giới hạnh, nghiêm trì giới đức nhằm ngăn ngừa tất cả tội lỗi và giữ nhân phẩm, gìn thân khẩu ý được thanh tịnh. Nhờ giữ giới mà được định tâm, nhờ định tâm mà phát sinh trí tuệ giác ngộ và làm cho trang nghiêm hàng Tăng bảo. Cho nên người xuất gia cần phải tôn nghiêm giới như là vị đạo sư của mình để ứng dụng xây dựng đạo pháp dân tộc. Hằng ngày chư Tăng phải giữ gìn lễ nghi giới luật trên con đường hoằng dương chánh pháp, do vì thời đại mỗi ngày phát triển nếu Phật giáo không vươn tới sẽ bị mai một, tụt hậu mất đi nhân cách của chính mình.

Còn năm giới mà hàng Phật tử tại gia phát nguyện vâng giữ, thọ trì là nền tảng đạo đức căn bản để kiện toàn nhân cách của người con Phật. Người có đạo đức, sống giữ giới thì mọi người đều yêu thương, tôn trọng và kính nể. Không chỉ có uy tín trong cộng đồng, tiếng tốt đồn xa, người sống có giới đức luôn thanh thản, tự tin với chính mình và mọi người. Họ không hề phân vân, hổ thẹn hay sợ hãi khi gặp gỡ bà con, bè bạn hay đi tới những chốn đông người.

Vì vậy sống đạo đức, có giới hạnh để mang lại lợi ích cho tự thân và xã hội trong hiện tại và cả tương lai, luôn là nếp sống của những người con Phật. Phật giáo được mọi người kính trọng là do có phép tắc giới luật mà các tôn giáo khác không có được.

- Nghi lễ Phật giáo có tác dụng trên phương diện bài trừ mê tín dị đoan: chúng ta ai cũng biết Việt Nam chịu ảnh hưởng từ văn hóa phong kiến Trung Quốc, mọi người luôn cho rằng những nghi lễ Phật giáo giống Khổng giáo và cho đó là tập tục mê tín dị đoan. Nhưng xét kỹ nghi lễ Phật giáo dựa trên nền tảng giáo lý đức Phật, vì vậy nghi lễ Phật giáo có thể phá trừ ý nghĩ mê tín dị đoan của mọi người. Một người Phật tử đi chùa lễ Phật cầu nguyện, nếu ai nhìn vào không hiểu ý nghĩa sâu xa của nghi lễ ấy thì cho rằng đó thuộc về mê tín. Cầu nguyện là thể hiện các ước mơ, niềm hy vọng của con người về đời sống hiện thực hay lý tưởng, và cầu nguyện vẫn là một biểu hiện của thiện tâm, nghĩa là khi một người chấp tay, cúi đầu trước bàn thờ Phật, lòng họ trở nên khiêm hạ, cái “Ta” trở nên nhỏ bé, lương tâm thổi dậy và tâm hồn họ được bình hòa. Cầu nguyện trong đạo Phật còn là một pháp môn tu tập của người phật tử, nhờ cầu nguyện mà nguyện lực của họ mạnh mẽ, niềm tin tăng trưởng, nhân thiện lành được phát huy, ác nghiệp được tiêu trừ, tâm xu hướng lộ trình giải thoát. Cho nên cầu nguyện là một phương pháp tu tập, có giá trị hỗ trợ rất tốt cho phương pháp tu tập thiền định, quán chiếu tự tâm.

Còn rất nhiều nghi lễ khác nữa như lễ bái, lễ phục, lễ đường... Nói chung dù nghi lễ nào cũng đem lại lợi ích thiết thực cho Phật giáo, đây là một phương pháp tu tập có tác dụng chuyển hóa khổ đau và nghi lễ cũng là một phương tiện hoằng pháp lợi sanh có hiệu quả nhất. Nghi lễ Phật giáo Việt Nam đã tạo nên một dấu ấn văn hóa, xây dựng nền đạo đức và truyền thống văn hóa tâm linh của dân tộc Việt.

Từ những tác dụng trên của nghi lễ Phật giáo trong sự tồn tại và phát triển của Phật giáo Việt Nam, chúng ta thấy nghi lễ Phật giáo luôn có giá trị rất lớn trong hiện tại cũng như trong tương lai.

Trước tình hình của Phật giáo hiện nay, chúng ta không thể phủ nhận rằng Phật giáo không phát triển. Nhưng bên cạnh sự phát triển ấy Phật giáo còn rất nhiều điều cần phải xem xét lại. Ví dụ như: Tăng, Ni trẻ chạy theo hình thức bên ngoài nhiều quá mà quên đi lý tưởng giải thoát của người xuất gia nhất là việc lập chùa riêng ở một mình, không chịu sự gò bó của thầy tổ hay của huynh đệ.

Thật ra ở riêng trong một môi trường riêng dĩ nhiên là cảm thấy thoải mái hơn, thanh tịnh hơn, nhưng cái thanh tịnh ấy chỉ là thanh tịnh của mặt hồ không gió. Nếu mang gió đến, mặt hồ lại nổi sóng! Người tu không phải đi tìm cái thanh tịnh giả lập, mà phải là thanh tịnh của “bát phong xuy bất động”. Tuy gió thổi ầm ào nhưng tự mình vẫn điềm nhiên tự tại, ấy mới là sự thanh tịnh cần có.

Ngoài những Tăng Ni đi tìm sự thanh tịnh giả lập để phục vụ cho bản ngã của mình như thế, chúng ta còn thấy đa số Tăng Ni hiện nay, nhất là những Tăng Ni trẻ theo học các trường Phật học, thế học… có cách sống quá phóng túng. Tuổi trẻ ai cũng có ước mơ, có lý tưởng… nhưng dần dà, đời sống vật chất lấn át. Chúng ta chạy theo dục lạc thế gian giống như đàn nai ham bẫy mồi:

Ở đây, này các Tỳ kheo, hạng Sa môn, Bà la môn đầu tiên xâm nhập, tham đắm thức ăn đồ mồi do ác ma gieo ra và các vật dụng thế gian… nên trở thành mê loạn, phómg dật, làm theo ý ác ma muốn.[5]

Ác ma đây không phải là thế lực ma quái hay thần linh nào, mà chính là vị ngọt dục lạc thế gian cộng hưởng với bản năng dục lạc trong mỗi con người. Không phải người xuất gia không nhìn thấy sự nguy hiểm của dục lạc, mà là vì không cưỡng nổi vị ngọt của dục lạc, chấp nhận cho bản năng lấn át lý trí.

Ngày xưa, khi thái tử Tất Đạt Đa xuất gia, ngài từ bỏ dục lạc thế gian để tìm cầu giải thoát. Những thứ mà ngài bỏ đi, ngày nay đệ tử của ngài lại tìm về! Con đường trái ngược này dĩ nhiên sẽ dẫn chúng ta đi ngược lại tiến trình giác ngộ giải thoát, vì thế tu trăm kiếp ngàn đời không những hoài công vô ích mà còn mang nặng nợ áo cơm của đàn na tín thí.

Khi đi ngược như vậy, đời sống của chúng ta không khác gì một cư sĩ bình thường, sẽ không thể làm mô phạm cho nhân thiên. Hộ pháp xa lánh, xã hội khinh khi:

Khi xã hội không chấp nhận thì sự tồn tại của tăng già sẽ gặp nhiều khó khăn về mặt sinh tồn và phương tiện hoằng pháp. Từ đó tăng già sẽ bị suy thoái, Phật pháp sẽ theo đó hoại diệt…[6]

Do đó người xuất gia một khi đánh mất oai nghi phép tắc, giới đức của mình thì sẽ kéo theo hàng loạt các vấn nạn xảy ra làm cho Phật pháp ngày một tụt hậu như hàng loạt phương pháp truyền bá Phật pháp sai lầm, mà theo người viết tệ nạn lớn nhất hiện nay là mê tín dị đoan, chạy theo hình thức, bỏ quên nội dung... Đối với người rong ruổi chạy theo dục lạc thế gian, bỏ quên bổn tâm, đánh mất tư cách và phạm hạnh của người xuất gia thì không còn gì để nói. Họ chính là những người trực tiếp đẩy tương lai Phật pháp xuống vực thẳm mà không hề tỏ ra thương tiếc hay do dự.

Vì thế một lần nữa nghi lễ Phật giáo không thể thiếu trong dòng phát triển của Phật giáo, không phải một vị tu sĩ chỉ cần có chất giọng tụng kinh hay, hoặc cố gắng xây một cái chùa thật lớn rồi tổ chức những buổi cúng sao giải hạn…thì có thể đến bờ giải thoát được. Mà ngược lại, một vị tu sĩ muốn chạm đến bờ giải thoát thì cần phải lấy oai nghi giới luật làm đầu, người có giới đức dù tụng kinh dở đến mấy thì vẫn được mọi người tôn kính và cung phụng.

III. KẾT LUẬN

Với những gì đã trình bày ở trên, người viết cho rằng, nghi lễ Phật giáo luôn đồng hành trong sự phát triển Phật giáo. Nghi lễ bao hàm nhiều phương diện cho nên nó không đứng một mình, mà cái này là nhân, là duyên của cái kia. Giống như trong một cơ thể, gan yếu thì không bao lâu mật cũng bệnh theo, dạ dày đau thì cơ thể suy nhược v.v…Vì vậy vấn đề chính yếu là chúng ta phải có kế hoạch làm cho cơ thể khoẻ mạnh hoàn toàn, tức phải có chế độ ăn uống, sinh hoạt hợp lý, thời khoá làm việc và nghỉ ngơi cân bằng.

Nói cách khác, Phật giáo muốn phát triển thì cần phải có sự tham gia tất yếu của nghi lễ. Tuy nghi lễ chỉ là phương tiện dẫn dắt chúng sanh vào đạo chứ không phải là con đường đi đến giác ngộ cứu cánh, nhưng trên con đường đi đến bờ giải thoát thì không thể thiếu phần nghi lễ.

Chung quy điều quan trọng hơn hết là phải điều chỉnh lại cách tu tập hằng ngày để đạt được hạnh phúc thật sự, để xứng đáng là “trưởng tử của Như Lai”. Vâng! Còn hình ảnh nào cao đẹp và hạnh phúc hơn những bước chân vững chãi, thảnh thơi của người tu sĩ. Như con tê giác độc hành giữa trời mây sông núi, người tu sĩ một mình dạo khắp cõi Ta Bà, nơi nào có chúng sanh đau khổ thì nơi ấy làm quê hương xứ sở. Hành trang của người tu sĩ chỉ vỏn vẹn ba mảnh áo cà sa và một bình bát. Danh lợi phù hoa chỉ là bèo bọt. Mong rằng tăng ni trẻ - tương lai của Phật pháp – tự ý thức trọn vẹn về con đường giác ngộ giải thoát của chính mình và nhận được sự quan tâm hơn nữa từ Giáo hội, để Phật giáo Việt Nam mãi đồng hành cùng sự phát triển của dân tộc.


[1] Nguyễn Lang, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, Nxb Văn Học, Hà Nội, 2000, Tr. 44

[2] Lê Mạnh Thát, Lịch Sử Âm Nhạc Việt Nam, Nxb TP. Hồ Chí Minh, tr. 241.

[3] Tiến sĩ Thích Đồng Văn, bài giảng tại lớp, khoa Phật giáo Việt Nam, 2011

[4] Tiến Sĩ Thích Đồng Văn, bài giảng tại lớp, khoa Phật giáo Việt Nam 2011.

[5] Trung Bộ Kinh, Tỳ Kheo Thích Minh Châu dịch, Tu Thư Đại Học Vạn Hạnh xuất bản 1973, trang 155

[6] Thích Hạnh Bình, Đức Phật và những vấn đề thời đại, nhà xuất bản Phương Đông, 2010, trang 103

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết:

Các bài viết liên quan