CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !

Pháp thoại do Ngài Dalai Lama giảng cho Tăng Ni Việt Nam tại Dharamsala

Nội dung thuyết giảng của Đức Đạt-lai Lạt-ma lần đầu tiên dành cho người Việt Nam từ ngày 28-29/7/2011 tại Dharamsala rất phong phú, mổ xẻ nhiều góc cạnh của giáo lý Duyên khởi. Với những câu trả lời dí dỏm, sinh động và thông tuệ của một Đạo sư qua buổi chiều vấn đáp đã làm cho Phật tử tham dự nức lòng. Sau đây là 3 nội dung chính của 2 ngày thuyết giảng trên do một Sư cô đang học tại Ấn Độ tham dự Pháp hội nghe từ bản dịch tiếng Anh và tốc ký lại. Ban biên tập xin trân trọng cảm ơn sự đóng góp của Sư cô.

  Nội dung chính được ghi lại như sau:

1. Tam Quy:

Phật tử quy y Phật, Pháp, Tăng nhưng không biết Phật, Pháp, Tăng là gì?

Đức Phật dạy, Phật tử có hai hạng người:

  1. Hạng độn căn (tùy tín hành)
  2. Hạng lợi căn (tùy pháp hành).

Hạng độn căn chỉ tin vào Phật Pháp Tăng, cho rằng Tam bảo là thiêng liêng, cao quý nên họ tin tưởng, quy y theo.

Hạng lợi căn là những người có học, có hiểu rồi mới tin Tam bảo.

Phật tử trong thế kỷ XXI này, phải học, hiểu rồi mới tin. Có như vậy thì niềm tin của mình mới kiên cố được.

Tất cả các tôn giáo đều có Đấng Tối tôn để họ quay về nương tựa. Những tôn giáo hữu thần tin vào Đấng Sáng tạo thì họ đặt niềm tin vào vị đó. Họ tin rằng Đấng Sáng tạo sẽ đem an vui, hạnh phúc đến cho họ. Vì quý kính nên họ quy y. Với quan niệm Đấng Sáng tạo là thường hằng tự nhiên sanh, nên khi khổ đau họ hy vọng Đấng Sáng tạo sẽ ban phước lành và lòng họ cảm thấy nhẹ nhàng thanh thản. Họ đem cả thân, khẩu, ý đặt trọn vào Đấng Sáng tạo nên niềm tin đó cũng có lợi ích cho căn cơ của họ.

Rất nhiều tôn giáo chủ trương sinh vào cõi trời, cõi tịnh độ để an hưởng hạnh phúc, không còn khổ đau. Mỗi tôn giáo đều có một nền triết học, hướng con người đến cõi tịnh độ, hạnh phúc, giải thoát. Tùy theo căn cơ trình độ của mình mà mỗi người tự chọn tôn giáo riêng. Do vậy, chúng ta phải tôn trọng các tôn giáo khác.

Các tôn giáo đều chủ trương tu tập lòng từ, biết đủ, sống cuộc sống phạm hạnh để đạt đến cảnh giới an lạc. Phật giáo của chúng ta cũng vậy.

Với Phật giáo, có ba ngôi báu để chúng ta quay về nương tựa, đó là Phật bảo, Pháp bảo và Tăng bảo, gọi chung là Tam bảo.

  1. Phật bảo: là quả vị đạt được trong bốn thân của Phật.
  2. Pháp bảo: chính là diệu pháp trong tu đạo.
  3. Tăng bảo: là hành giả Thánh Tăng trong đạo lộ tu đạo.

           Đức Phật xuất hiện ở đời, Ngài đã tu chứng và chuyển pháp luân lần đầu tiên với bài giảng Tứ Thánh đế cho năm anh em Kiều Trần Như. Pháp mà các vị đệ tử đầu tiên ấy chứng đắc gọi là pháp chứng. Nhờ chứng pháp, các vị ấy đã nhập vào dòng đạo, tiếp tục tu tập chứng được đạo đế, trở thành những vị Thánh tăng. Tam bảo có từ đó. Trình tự tu tập bắt đầu từ nhập vào dòng đạo, tu tập tư lương đạo, gia hạnh đạo, kiến đạo, tu đạo, chứng được quả vị A-la-hán. Đức Phật cũng đã theo trình tự tu tập trên mà đoạn trừ tất cả phiền não, chứng đắc tất cả pháp và trở thành Phật – bậc giác ngộ giải thoát.

2. Giới thiệu giáo lý của Đức Phật

Giáo lý của Đức Phật rất hy hữu và cao quý, được cô đọng trong kinh Bát Nhã Ba-la-mậta. Đó là hiện thuyết không tánhẩn thuyết đạo lộ.

Sau thời của Đức Phật, ngài Long Thọ đã giải thích rất rõ về không tánh. Không tánh là duyên khởi, duyên khởi là không tánh trong các bộ luận:

Trung Quán luận - Madhyamakakàrikà

Hồi Tránh luận - Vigrahavyāvartanī

Thất Thập Không Tánh luận - Sùnyatà Saptati

Lục Thập Tụng Như Ý luận - Yuktishashtika

Bảo Hành Vương Chính luận - Ràjaparikathà Ratmàvalì.

Sau ngài Long Thọ, tại xứ Tuyết, một học giả, hành giả tên Tsong Kha Pa đã nghiên cứu, thể nghiệm, tu tập và lãnh ngộ những lời dạy của Đức Phật. Đó là, từ nơi chân không hiểu được duyên khởi, từ duyên khởi hiểu được không tánh, nó không mâu thuẫn mà hòa hợp lẫn nhau. Từ trong cảm xúc tu và chứng đó, Ngài Tsong Kha Pa đã viết lên lời xưng tán để tán thán Đức Thế Tôn, tán thán thuyết Duyên khởi Không tánh.

Về sau, ngài Thánh Thiên cũng nói trong Bách Luận rằng, nếu muốn giới thiệu giáo lý của Đức Phật đến với mọi người, thì phải giới thiệu bài Xưng tán Duyên khởi này.

Tinh túy của giáo lý Đức Phật chính là duyên khởi. Theo Phật giáo, mọi hạnh phúc, khổ đau đều do chính mình tạo “Tự mình là đấng tạo hóa của chính mình”. Mọi khổ đau hay hạnh phúc đều liên quan đến nhân quả, những nhân hạnh phúc sẽ đưa đến quả hạnh phúc, nhân khổ đau đưa đến quả khổ đau. Hạnh phúc và khổ đau đến từ đâu? Đến từ cách hành xử và tính khí của mỗi chúng ta. Với tính khí lương thiện, ôn hòa, nhã nhặn sẽ đưa đến hạnh phúc; với tính khí bất thiện sẽ đưa đến quả khổ đau. Vì vậy chúng ta phải điều phục ngay trong dòng tâm thức của mình để đạt được an lạc, giải thoát tự thân.

Tất cả các loài hữu tình (bao gồm cả súc sanh) đều mong muốn hạnh phúc, không muốn khổ đau nhưng lại thường tạo ra những nguyên nhân đem đến khổ đau bởi do vô minh. Gốc của khổ đau chính là vô minh. Trong bài thuyết giảng đầu tiên, Đức Phật đã giảng về Tứ Thánh Đế, đó là: sự thật về khổ (khổ đế), sự thật về nguyên nhân của khổ (tập đế), sự thật về sự chấm dứt của khổ (diệt đế) và con đường đưa đến sự chấm dứt về khổ (đạo đế).

Trong những lần chuyển pháp luân tiếp theo, Ngài đã chỉ ra nguyên nhân khổ (Ttập đế) sẽ đem tới quả khổ (khổ đế), và để đi ra khỏi sự thống khổ, ra khỏi vòng sinh tử luân hồi này, chúng ta phải tu tập đạo đế để chứng đắc Niết-bàn, chính là diệt đế. Đó là cách chúng ta đi vào sanh tử và cách chúng ta đi ra khỏi sanh tử bằng phương pháp tứ đế.

Và sau đó, Đức Phật đã thuyết giảng về mười hai nhân duyên, bắt đầu từ vô minh, vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên lão tử sầu bi ưu khổ não.

Do vô minh chúng ta hành nghiệp và từ hành nghiệp, dòng tâm thức đó sẽ thủ và hữu. Từ thủ và hữu đó chúng ta hiện diện ở đời. Từ sự có mặt ở đời, chúng sẽ có danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái… Do vậy, chúng ta đi vào dòng sanh tử luân hồi và ngược lại.

Làm thế nào để đoạn diệt vô minh? Chúng ta không thể cầu nguyện suông. Muốn đoạn trừ vô minh chấp ngã thì chúng ta phải học, phải suy tư để hiểu về cái ngã. Cái ngã như thế nào và bắt đầu từ đâu?

Ngã chia làm hai phần: phần thô và phần vi tế. Chúng ta vẫn thường nói mình thật có cái ngã (cái tôi) độc lập. Cái ngã đó là cái ngã thô. Từ chấp ngã đó nên đưa đến khổ đau. Vậy làm thế nào để hiểu được vô ngã? Đó chính là đoạn trừ vô minh. Khi vô minh được đoạn trừ thì chúng ta sẽ đoạn trừ được hành, sẽ không có dòng tâm thức, từ đó sẽ không có những mong ước, thủ và hữu, không có mặt ở đời, không có danh sắc, lục nhập, xúc, thọ… Chúng ta sẽ đạt được diệt đế, thoát ly hoàn toàn mọi khổ đau.

Tứ Thánh đế liên quan mật thiết tới mười hai nhân duyên. Cả hai đều diễn tả quá trình chúng ta đi vào sanh tử luân hồi và cách đi ra khỏi sanh tử luân hồi. Đức Phật đã đặt tên cho sự luân chuyển và triết học vận hành của sanh tử luân hồi đó một cái tên là duyên sinh. Tất cả các pháp hữu vi đều do duyên sinh.

Trong Phật giáo chia ra làm bốn tông phái:

  1. Tư tưởng Hữu Bộ
  2. Tư tưởng Kinh Lượng Bộ
  3. Tư tưởng Duy Thức
  4. Tư tưởng Trung Quán

Các trường phái đi theo tầng lớp vi tế khác nhau, nên có sự khác nhau trong các định nghĩa về triết học Phật giáo. Dựa vào phương pháp hành trì khác nhau của mỗi hành giả mà có Đại thừa và Tiểu thừa. Những hành giả nào chỉ muốn giải thoát cho chính bản thân họ thì gọi là Tiểu thừa. Những hành giả vì mục đích cho tất cả, họ dùng tâm quảng đại với mong muốn không chỉ giải thoát cho mình mà giải thoát cho tất cả mọi loài hữu tình đều đạt đến hạnh phúc, Niết-bàn gọi là những vị hành giả Đại thừa. Giáo lý Tiểu thừa là nền tảng cơ bản chung cho cả Tiểu thừa và Đại thừa nên tất cả chúng ta đều phải đi qua, phải hành những pháp Tiểu thừa trước, sau đó mới thêm vào tâm bồ đề, tâm quảng đại để đem lại lợi ích cho tất cả mọi người, mọi loài.

Theo tư tưởng duyên khởi, cả bốn tông phái trong Phật giáo đều chấp nhận tư tưởng duyên khởi trên quan điểm nhân quả duyên sinh.

Đặt trên quan điểm hữu vi pháp, từ nhân này sinh ra quả kia, đó là duyên sinh thô nhất. Duyên khởi vi tế thể hiện trong Trung Quán luận là: Y cứ duyên khởi và do phân biệt mà giả lập duyên khởi.

Vậy duyên khởi có ba tầng lớp:

1. Nhân quả duyên khởi

2. Y cứ duyên khởi

3. Do phân biệt mà giả có duyên khởi.

Bản chất của mọi sự vật hiện tượng là tịch tịnh, không có tự tánh. Nó phụ thuộc vào cái khác mà có, do phân biệt mà giả có nên nói nó y cứ vào một pháp khác mà tồn tại. Vì thế, bản chất của pháp là không có tự tánh, là do duyên sinh.

Ta dùng tư tưởng duyên khởi thô để đoạn trừ những phần thô của chấp thật, chấp ngã, chấp có… Để đoạn trừ được những phần vi tế của vô minh, chúng ta phải dùng đến tư tưởng duyên khởi vi tế. Để hiểu được duyên khởi vi tế chính là hiểu về không tánh. Không tánh tức duyên khởi, duyên khởi tức không tánh.

3. Xưng tán duyên khởi

Ngài Tsong Kha Pa đảnh lễ Đấng Đạo sư và hỏi tại sao Ngài trở thành bậc trí, Đấng Đạo sư? Ngài thuyết pháp gì gọi là pháp vô thượng? Vì do thuyết Duyên khởi vi tế từ nơi sự chứng đắc của Đức Phật nên mọi người suy tôn Đức Phật là bậc thuyết pháp vô thượng, bậc tối thắng, bậc trí, bậc Đạo sư…

Bậc trí, thuyết vô thượng

Do bởi thấy và thuyết

Kính lễ Đấng tối thắng

Vị chứng, thuyết duyên khởi

Mọi suy thoái trên đời

Đều từ rễ vô minh.

            Duyên khởi nghĩa là không tánh, là chơn như. Tất cả mọi khổ đau đến từ vô minh. Làm thế nào để đoạn trừ vô minh, đoạn trừ gốc khổ đau đó? Chúng ta phải hiểu được tư tưởng duyên khởi, rõ được không tánh vi tế thì mới đoạn trừ được vô minh vi tế.

Vô minh có hai loại:

  1. Vô minh do mù mờ, không biết: chẳng hạn chúng ta không biết chữ A, B, …
  2. Điên đảo vô minh: là vô minh vi tế, chẳng hạn chúng ta không biết chữ A, B,… mà còn lớn tiếng cho rằng chữ B là chữ A. Vừa hiểu sai lại vừa xác quyết chữ đó nhưng thực không phải nó nên gọi là điên đảo vô minh.

Vô minh bởi do sự hiểu biết sai lầm, do tà kiến, do điên đảo thức, do thân kiến chấp có mình và cái của mình… Để đoạn trừ được điên đảo thức đó thì chúng ta cần phải có chánh kiến. Thế nào gọi là chánh kiến? Là phải thấy một cách chân chánh, phù hợp với sự thật, thấy điều đó như thật. Và ngược lại là tà kiến.

Vì chấp các pháp có một tự tánh nên chúng ta mới cảm thọ có khổ đau. Khổ đau do từ cái chấp ngã đó. Để hiểu được cái ngã có tồn tại hay không, chúng ta quan sát theo hai trường phái: Duy Thức tông và Trung Quán tông.

-     Duy Thức tông cho rằng “từ nhân vô ngã đưa tới pháp vô ngã”, vì có cảnh hiện bên ngoài, mình thấy như vậy và dòng tâm thức nhận thức cảnh ấy, nhưng cả hai đều cùng một thể. Nó chỉ từ trong dòng tâm thức của mình biến hóa ra chứ nó không thật có một cảnh như mình thấy. Những gì mình thấy, biết như vậy nhưng khi truy tìm thì thấy nó cùng một bản thể với dòng tâm thức.

-     Trung Quán tông cho rằng, mọi đối tượng, mọi cảnh bên ngoài và tất cả các dòng tâm thức để nhận biết được ngoại cảnh đó đều không thật có. Nếu các pháp là thật có như mình thấy, biết, vậy sao khi ta truy tìm thì không tìm được như cái nó đã hiện ra? Nếu có thật một tự thể hay thật tánh của nó thì khi mình truy tìm, nó vẫn phải nguyên như vậy. Do vậy, Trung Quán nói tất cả đều là giả danh, không thật có.

Thuyết lượng tử của ngành Vật lý học cũng phân tích và kết luận như vậy. Khi truy tìm đến cùng một vật nào đó thì kết quả tìm được cũng chỉ là những vi lượng tử thôi, không có một cái gì thật cả. Do vậy, thấy duyên khởi là đoạn trừ được mọi khổ đau, đạt được an lạc, giải thoát.

Chúng ta tán thán Đức Phật về nhiều phương diện: khen ngợi Ngài có ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp, khen ngợi diệu âm của Ngài… nhưng sự tán thán tối thượng nhất là tán thán thuyết duyên sinh vô ngã của Ngài. Ngài Long Thọ có nói, nếu giới thiệu Phật pháp hay tán thán giáo pháp duyên sinh có nghĩa là tán thán cái tinh túy nhất của giáo lý Đức Phật.

Khi mình hiểu mọi thứ đều do duyên sinh, mình sẽ sanh được vào cõi lành, tiếp tục tu tập theo nhân quả duyên khởi, sẽ không đọa vào ba đường ác. Sau đó tiếp tục tu tập theo duyên khởi vi tế (hiểu rõ tánh không), mình sẽ đạt được giác ngộ viên mãn – quả vị Phật.

Vì vậy người có trí

Lẽ nào không hiểu rằng

Trí tuệ về duyên khởi

Là tinh túy pháp Phật

Tự tánh của các pháp là vô sanh, nhưng do vọng tưởng phi như lý tác ý, không hiểu nó như thật mà chấp thật có nên sanh tâm tham, sân; từ tham, sân mà tạo nghiệp, do tạo nghiệp nên bị dẫn dắt bởi khổ đau. Muốn dừng tham, sân thì phải như lý tác ý, phải hiểu đúng sự thật các pháp nó như là, nó là không tự tánh.

Các pháp y duyên sanh

Pháp ấy không tự tánh.

Trong Vô Nhiễm Vấn kinh có dạy: “Bất cứ những gì từ duyên mà sanh ra đều là vô sanh vì nó phải phụ thuộc vào một cái khác mà có, chứ không phải tự nhiên mà có nên nó không có tự tánh thực sự. Vì không có tự tánh nên nó không có năng sanh và sở sanh, cũng không có hành động sanh đó nên gọi Tam Luân Không Tịch”. Hiểu được duyên sinh thì sẽ diệt trừ được phóng dật, diệt trừ những nguy hiểm của hành động tạo tác đưa tới khổ đau.

Vì các pháp đều không có tự tánh, đều nương vào một pháp khác để tồn tại nên nhân quả của nó cũng vậy. Từ nhân này sinh ra quả kia nên nói nó phụ thuộc, đối đãi với nhau, có nhân có quả. Không chỉ loài người, mà ngay cả loài súc sanh cũng biết tạo nhân đem tới hạnh phúc và tránh xa những nhân đem tới khổ đau. Ứng dụng vào cuộc sống hằng ngày như trong việc trồng trọt, muốn có quả tốt mình phải gieo trồng hạt giống tốt, cộng với duyên – nước, ánh sáng… đầy đủ sẽ hình thành quả tốt tươi. Nhân là năng sanh, quả là sở sanh; nhân là năng lợi ích, quả là sở lợi ích. Không có năng thì sẽ không có sở, không có nhân thì sẽ không có quả, nên nói rằng năng sở và nhân quả liên hệ mật thiết với nhau, đều do đối đãi mà thành. Nếu không có quả thì tên nhân cũng không thành. Vì vậy, không pháp nào mà không do duyên khởi. Nếu phủ định tư tưởng duyên khởi thì sẽ không có một pháp nào tồn tại, không có hy vọng để đạt tới Niết Bàn, cũng chẳng có hy vọng để đoạn trừ mọi hý luận phiền não và chấp thật. Vì bản chất của nó là duyên sinh nên ngay nơi duyên sinh đó nó không thật có, vì thế chúng ta có hy vọng chứng đắc Niết Bàn, có hy vọng để diệt trừ mọi phiền não, khổ đau.

Thế Tôn tuyên nhiều lần  

Các pháp ly tự tánh.

Do phụ thuộc vào nhân và duyên nên các pháp không tự tánh, không có một cái gì cả, trống rỗng. Rất nhiều người hiểu sai nghĩa không tánh. Họ nói nó trở thành vô nghĩa, nó không có gì cả nên cuộc đời này như rỗng không vậy. Vì hiểu sai nên đưa đến hành sai.

Hiểu không tánh nghĩa là hiểu nó không thật có một tự tánh, bản chất của nó không có tự tánh nên chúng ta phải cẩn thận trong hành xử của mình, trong cách tạo tác nghiệp ác, nghiệp thiện. Đối với các vị trong thiền định, tu tập pháp không tánh, lúc chánh định quán sát các pháp là không – không có bản thể tự tánh, lúc xả thiền (hậu đắc trí), các vị ấy vẫn thấy các pháp xuất hiện như vậy, nhưng như hư ảo, nó do duyên mà có chứ không có một tự tánh nên đã giúp ích các vị ấy rất nhiều trong chánh định.

Trong Trung Quán, Ngài Long Thọ cũng nói thế này: “Tất cả các pháp không có tự tánh nên mới thành lập ra được tất cả các pháp, nào Tứ Thánh đế, nào quả vị Niết-bàn, v.v…”. Từ nơi duyên khởi, dựa vào nguyên lý nhị đế, chúng ta có thể tu tập đạo lộ phương tiện và trí tuệ, chứng đắc quả vị hai thân – pháp thân và sắc thân.

Ngài Nguyệt Xứng cũng có nói: “Do duyên sinh nên có nhân có quả; có đối đãi, có duyên sinh nên các pháp đều thành, quả vị Niết- bàn có thể chứng…”

Trong kinh Bát Nhã có nói: Khi quán sát tự tánh của năm uẩn đều là không, “Ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách”. Năm uẩn đều là không, không những chúng sanh là không tự tánh, mà năm uẩn cũng không tự tánh. “Sắc tức thị không, không tức thị sắc”. Từ duyên sinh nên sắc không khác với không mà không cũng không khác với sắc, cũng từ duyên sinh không tự tánh nên bản thể của sắc và bản thể của không đều là một.

Lời Thế Tôn vô tỷ

Nhơn thấy lý duyên khởi

Tâm con khởi xác tín

Giáo pháp khác Ngài dạy.

Trong Tứ Bách luận, ngài Thánh Thiên nói: “Tất cả lời dạy của Đức Phật có rất nhiều vi tế phần, cho nên pháp nào nghi ngờ thì dùng không tánh để đoạn trừ. Những gì chúng ta thấy nghe thông qua mắt tai thì gọi là hiện tiền phần, những gì chúng ta còn nghi ngờ (những tế phần và những vi tế phần) thì chúng ta phải dùng tỷ lượng, dùng suy luận để hiểu, để nhận biết.

Ví dụ: sinh nhật của mình là ngày này… mình tin lời nói của mẹ, vì mẹ đã sinh mình ra và biết rõ như vậy nên mình không cần dùng suy luận. Cũng như vậy, các nhà khoa học đã nghiên cứu vụ nổ của sự hình thành thế giới, qua sự nghiên cứu, phân tích, tìm tòi họ nói về sự hình thành thế giới như vậy nên mình tin là vậy. Đây gọi là cực vi tế phần.

Tóm lại, giáo lý Đức Phật có ba phần:

  1. Hiện chứng phần: chỉ cần mắt thấy, tai nghe là hiểu được
  2. Vi tế phần: phải dùng tỷ lượng, chánh nhân để phân tích, suy luận
  3. Cực vi tế: chỉ dùng niềm tin chứ không thể dùng lý luận, suy lường.

Không tánh thuộc vi tế phần, nên muốn hiểu được không tánh, duyên khởi thì phải dùng tỷ lượng, đặt ra một cái nhân rằng nó không tánh tại vì sao (phần trên đã giải thích)?. Từ cái hiểu không tánh này mà mình suy luận đến những lời dạy khác của Đức Phật. Những cực vi tế phần mình không thể hiểu, nhưng vì đã hiểu không tánh nên mình biết rõ những kinh điển được Đức Phật nói trước đó, sau đó nó phù hợp với nhau, không mâu thuẫn nhau. Với sự xác tín về thuyết không tánh của Ngài nên mình tin chắc rằng những giáo pháp khác của Đức Phật đều đúng sự thật.

                  Kiến như nghĩa thiện thuyết

                  Chư vị học theo Ngài

Xa lìa mọi suy tổn

Nhổ tận gốc sai lầm.

Những ai học theo giáo lý của Ngài thì đoạn trừ mọi suy tổn. Khi muốn tu tập, chúng ta sẽ trải qua 3 tiến trình văn – tư – tu. Nghĩa là từ văn (nghe) chúng ta tu tập à văn huệ phát sinh. Từ văn huệ, chúng ta tư duy à tư huệ phát sanh. Văn huệ, tư huệ phát sanh, chúng ta biết cách xác quyết và với sự viện trợ của tịnh chỉ một cách kiên định, chúng ta quan sát về không tánh, duyên khởi. Dùng Thánh Quán – dùng chỉ quán song vận là: từ tư lương đạo qua thọ sanh chúng ta nhập vào dòng tư lương đạo, từ tư lương đạo với tịnh chỉ thánh quán sẽ thọ sanh để chuyển vào giai đoạn gia hành đạo, từ gia hành đạo chúng ta tịnh chỉ thánh quán thì sẽ chứng được không tánh, tiếp đến chúng ta dùng tịnh chỉ quán không tánh, thấy đuợc không tánh, chúng ta sẽ chuyển vào kiến đạo. Theo Đại thừa, lúc chuyển vào kiến đạo là lúc chúng ta đã đạt được sơ địa Bồ-tát, kiến đoạn những biến kế sở chấp. Từ sơ địa Bồ-tát, các vị tiến dần lên 8 quả chứng thượng trung hạ. Lộ trình thượng trung hạ và tu đạo chia làm 9 phần, trong mỗi phần đó đoạn những kiến hoặc, tư hoặc, thấy được những pháp chân thực, nghĩa là đã kiến đế, thấy như thật về không tánh, từ đó tu tập thuần thục sẽ đoạn trừ được tất cả nhiễm ô, đi vào chứng đắc giải thoát, như Kim Cang định sẽ đoạn trừ tất cả sở tri chướng và đắc được nhất thiết chủng trí. Từ nhất thiết chủng trí đạt được quả vị Tứ thông. Trong Vô Thượng Du Già của Mật tông giải thích rất rõ về giai đoạn từ vô học đạo đến quả vị Tứ thông này. Lộ trình này áp dụng cho Đại thừa. Đối với Tiểu thừa, lúc các vị hiện chứng không tánh là đã chứng đắc giải thoát rồi.

Trong Bát Nhã Tâm Kinh giải thích thế này: Gate, gate, paragate, parasamgate, Bodhi Svaha.

  1. Gate 1: Nhập vào đạo thứ nhất là Tư lương đạo. Làm thế nào để nhập được vào tư lương đạo? Khi mình phát tâm Bồ-đề, tâm Bồ-đề chơn thật thì ngay lúc đó mình trở thành Bồ tát nhập vào tư lương đạo. Tư lương đạo có tiểu, trung đạo và tu tập không tánh.
  2. Gate 2: Gia hành đạo. Từ gia hành đạo vẫn tiếp tục tu tập không tánh.
  3. Paragate: Lúc này vừa chứng được kiến đế mà vừa hiện chứng được không tánh một cách rõ ràng.
  4. Parasamgate: là đạo lộ của tu đạo
  5. Bodhi Svaha: là chứng đạo vô học đạo.

Làm thế nào để chúng ta xác quyết được lời của Đức Phật và đạo lộ mà Đức Phật đưa ra là đúng? Chúng ta không tin vội, chúng ta phải học và kiểm nghiệm, có kiểm nghiệm rõ ràng thì niềm tin của chúng ta mới kiên cố được. Trong Tam bảo có Phật bảo, Pháp bảo và Tăng bảo. Lại có phàm phu Tăng và Thánh Tăng. Thánh Tăng là các vị tu tập Bồ-đề tâm và không tánh nên các vị trải qua hai giai đoạn tu tập của phàm phu là tư lương đạo và gia hành đạo. Tiếp đến các vị chứng lên kiến đạo, trở thành Thánh Tăng. Từ Thánh Tăng các vị tu tập đoạn tất cả các nghiệp chướng, đạt quả vị Niết Bàn nên mới có quả vị Phật bảo. Từ duyên sinh không tánh sinh ra các quả vị, nên pháp duyên sinh không tánh được gọi là Pháp bảo.

Tất cả giáo pháp Phật

Hướng nhập lý duyên sinh

Nhằm hướng đến Niết-bàn.

Đức Phật chuyển pháp luân dù là lần thứ nhất, thứ hai hay thứ ba Ngài đều nhằm mục đích đoạn trừ hai chướng – sở tri chướng và phiền não chướng. Đối trị hai chướng đó phải dùng trí tuệ thâm sâu, quảng đại như trí tuệ không tánh và duyên khởi.

Ngay từ bài pháp đầu tiên (lần chuyển pháp luân thứ nhất), Đức Phật dạy về Tứ đế. Tất cả ai trong chúng ta cũng đều có nỗi khổ đau, ai cũng muốn diệt trừ khổ đau. Gốc của khổ đau từ vô minh, muốn đoạn trừ vô minh chúng ta phải hiểu vô ngã.

Tiếp đến, chúng ta hiểu về Duy Thức, những cảnh và nhận thức cảnh đó, bản thể của chúng là một nên chúng đều do tâm hiện khởi. Duy Thức vi tế hơn, tầm nhìn xa hơn nhưng vẫn với mục đích dẫn dắt chúng ta hiểu về duyên khởi không tánh.

Đến thời kinh Bát Nhã, Đức Phật đã hiển bày không tánh một cách rõ ràng, Ngài trực tiếp giảng không tánh, vô ngã, vô thường v.v... Với mục đích đưa chúng ta trở về hiểu không tánh duyên khởi một cách rõ ràng, rốt ráo nhất.

Trải qua vô lượng kiếp

Vì truy cầu duyên khởi

Ngài thí nhiều thân mạng

Người thân cùng tài sản.

Giáo lý duyên khởi này không dễ gì có được, phải trải qua vô lượng kiếp tu hành khổ hạnh Đức Phật mới chứng đắc được lý duyên khởi này. Ngài phải thí tất cả sinh mạng, người thân cùng tài sản để hiểu được lý vô ngã duyên khởi không tánh này.

Suy nghiệm lời Tôn sư

Tướng tốt chiếu sáng ngời.

   ...

Ánh tượng Đấng Năng Nhơn

Hiển hiện trong lòng con

Như ánh trăng mát dịu

Xua tan khổ nóng bức.

Đức Phật đã nhập diệt hơn hai ngàn năm nhưng lời dạy của Ngài được các bậc Thánh Tổ truyền lại. Dù không gặp trực tiếp Đức Phật nhưng qua kinh luận mà thấy được xung quanh Ngài là những vị A-la-hán và những vị Bồ Tát như Ngài Đại Trí Văn Thù Sư Lợi, Ngài Quán Thế Ấm Bồ Tát, Ngài Phổ Hiền Bồ Tát, Ngài Đại Tạng Vương Bồ Tát, v.v... Ảnh hiện đó như ánh trăng mát dịu, xua tan mọi cái khổ nóng bức.

Tóm lại, Ngài Tsong Kha Pa đã giới thiệu giáo pháp của Đức Phật đến với chúng ta. Giác ngộ giải thoát là mục đích đến của chúng ta nên chúng ta phải học pháp và hành pháp. Chúng ta phải dùng trí tuệ kết hợp với lòng từ bi để tu tập. Giống như Đức Phật, chúng ta cũng tu tập không tánh để nhận thức đúng như thật các pháp. Chỉ có con người là có khả năng tối thắng nhất để tu học không tánh, để chứng ngộ, giác ngộ giải thoát. Trước hết, chúng ta phải tu tập, đoạn trừ những bất thiện của thân, khẩu, ý, chúng ta tu tập mười điều lành của thân (không sát sanh, trộm cắp, tà dâm), khẩu (không nói dối, nói lời hai lưỡi, nói lời ác, nói lời ly gián), ý (không tham, sân, si) – không làm tổn hại người khác.

Tiếp đến, chúng ta tu tập không tánh để đoạn trừ những vô minh và chấp ngã, để chứng được giác ngộ giải thoát của hàng Thanh văn và Tiểu thừa. Phần đoạn cuối là chúng ta phải tu tập không tánh viên mãn, không chỉ để đối trị những vô ngã thô mà còn đối trị cả những sở tri chướng vi tế nhất, tiến lên đạt đến quả vị giác ngộ giải thoát.

Lộ trình chúng ta đi, từ thập thiện đến giác ngộ giải thoát của hàng Thanh Văn, rồi đến giác ngộ giải thoát của quả vị Phật.

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết: