CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !

Sanh và tử

SANH VÀ TỬ 

Tác giả: Đức Tổ Sư Minh Đăng Quang

NT. TUYẾT LIÊN chuyển thơ 

---o0o---

  1. Vấn:   Cái gì gọi là chúng sanh?

Đáp:   Cái thức, cái biết chúng sanh tên dùng.

  1. Vấn:   Cái gì sống chết hình thành?

Đáp:   Cái biết, sống, chết hiểu rành an vui.

  1. Vấn:   Cái gì sanh biết trong đời?

Đáp:   Đất nước lửa gió không rời biết sanh.

Từ chưa biết, đến biết rành,

Do nhơn duyên tập trưởng thành khéo sao.

  1. Vấn:   Hình dạng của biết thế nào?

Đáp:  Thọ cảm mới tượng, khác nào khói sương.

Kịp khi tư tưởng có sanh

Như làn khói đặc hình thành rõ hơn.

Hành vi do biết làm nền,

Giai đoạn thức trí, biết bền lâu tan,

Giác chơn biết thật vững vàng,

Đời đời bất hoại sắc vàng Phật thân.

  1. Vấn:  Hình thể biết thấy được chăng?

Đáp:  Có thể thấy được công năng việc làm.

Là khi tâm định yên an,

Nhìn cách sống, biết rõ ràng thấy nghe.

Trí ta vắng lặng không dè,

Tiếng nói muôn loại tâm nghe rõ ràng

  1. Vấn:   Tại sao biết linh diệu năng?

Đáp:   Khi biết vắng lặng thường hằng thảnh thơi.

Điển thu hút pháp khắp nơi,

Để rồi hiển lộ ra nơi việc làm.

Biết yên định có thần thông,

Như đèn mà sáng, nhờ không gió lùa.

  1. Vấn:  Sao biết có nhiều tên như,

Thọ, hành, thức, giác từ nào đúng danh?

Đáp:  Chính cái giác tên đành rành,

Biết là sáng suốt, thiện thanh không lầm.

Thọ, tưởng, hành ... biết mới sanh,

Cũng như cái hột còn xanh chưa già.

Hột non, lép cũng hột mà,

Liệt kê từng đoạn, biết ta trưởng thành.

Cái biết mới kêu là thọ cảm, cũng gọi là tình.

Cái biết khá hơn kêu là tư tưởng, cũng gọi là ý.

Cái biết lớn rộng nữa kêu là hành vi, cũng gọi là thân.

Cái biết cứng chắc hơn kêu là thức trí, cũng gọi là khẩu.

Cái biết già kêu là giác, cũng gọi là tánh, hay tâm chơn.

Tình thọ và ý tưởng, cũng gọi là tâm vọng.[1]

Thân phàm, khẩu thức, trí phàm,

Tâm vọng điên đảo, khổ nàn nhân sanh,

Do đó mới có pháp hành,

Để nuôi tánh giác viên thành Phật thân.

  1. Vấn:   Cái biết có sống chết chăng?

Đáp:   Nuôi thì nó sống, làm xằng diệt tiêu.

  1. Vấn:   Cái gì nuôi sống biết điều,

Cái gì giết nó, xin nêu rõ ràng?

Đáp:   Thiện vui nuôi biết lớn, an,

Ác khổ đưa biết vào đàng tử sanh.

  1. Vấn:   Cái biết sống là thế nào?

Cái chết của biết ra sao sự tình?

Đáp:   Cái biết không thấy bóng hình,

Nhưng khi biết sống thì mình vui an.

Tỉnh táo, mạnh mẽ, thanh nhàn,

Tìm xét sáng suốt, biết đang về nguồn.

Cái biết chết là điên cuồng,

Tâm mê tán loạn, mất luôn biết rồi.

Biết có các pháp trong đời,

Biết chết điên đảo, rã rời hoại tan.

  1. Vấn:   Trong thân biết ở chỗ nào?

Đáp:  Chỗ nào cũng có, nhưng không rõ ràng.

Chỗ xao động biết hiện thân,

Ở ngay chỗ động, khi cần có ngay.

  1. Vấn:  Khi ngủ biết ở chỗ nào ?

Đáp:   Đã là ngủ nghĩ thì nào biết chi,

Khi say, khi ngủ biết gì,

Như người hửi thuốc, biết thì mê say.

Nhà đóng cửa thì không ai,

Biết được người chủ ở ngay chỗ nào,

Bao giờ của mở lao xao,

Thì sẽ biết được chỗ nào tại đâu.

Trước khi thân ngủ lúc đầu

Thân yếu xuội, hơi thở sâu điều hòa,

Thiếp theo hơi thở vào ra,

Nên có  kẻ nói ngủ là biết đang,

Ở chỗ hơi thở nhịp nhàng,

Nhưng nghĩ kỹ, tim vẫn đang đập mà,

Máu vẫn chạy, ngủ mớ la,

Như vậy biết đâu phải là chỗ hơi (thở).

Xác thân như chiếc xe hơi,

Máy là sự sống, biết thời chủ nhân.

Trước kia sống sanh biết lần,

Khi đã có biết chia phần làm hai

Cũng như cây và hột này,

Trước có cây, sau hột rày tượng sanh,

Trước cây sau hột đành rành,

Cây chết còn hột việc thành xưa nay.

Cho nên biết, thân là hai,

Thân chết cái biết nối dài thân sau.

Biết là sự sống nhiệm mầu,

Tinh ba, chủng tử nhịp cầu tái sanh.

  1. Vấn:   Tại sao lại có chiêm bao?

Đáp:   Chiêm bao nhiều cách khác nhau,

Khi thức, khi ngủ, lúc nào cũng mơ,

Nhớ chuyện quá khứ vẫn vơ,

Tương lai chưa đến cũng tơ tưởng hoài.

Hiện tại cảnh ngộ lá lay,

Hơn thua, còn mất, việc ngoài, việc trong.

Cái thấy nào cũng là không,

Là mộng ảo, huyển cảnh trong kiếp người.

Vô thường ẩn hiện trong đời,

Vạn vật các pháp vốn thời đổi thay.

Đến đi, còn mất nối dài,

Đối diện sống chết mới hay huyển bào.

Trong giấc ngủ cũng chiêm bao,

Thân còn mê mệt, thức lao xao tình,

Biết hành động theo ý mình,

Thấy ra tất cả cảnh tình chung quanh.

Đôi khi mộng cũng hiển linh,

Thấy trời thần Phật sự tình ít thôi.

Vì ta với họ khác thời,

Không cùng cảnh giới, xa vời thấp cao.

Phần nhiều khi ngủ chiêm bao,

Do ngoại cảnh tác động vào nơi thân.

Hoặc do các pháp tưởng sanh,

Ngủ mà như thức, nên thành chiêm bao.

Các sự mộng mị chen vào,

Biết tự hoạt động, thân nào biết đâu.

Chiêm bao thức ngủ như nhau,

           Không đáng tin cậy, nên mau làm lành,

Ngăn ngừa việc ác phát sanh,

Chắc chắn ta được mộng lành vui an.

  1. Vấn:   Chết rồi cái biết đi đâu?

Đáp:   Nó theo nghiệp lúc sống đâu khác gì.

Cờ bạc tìm cờ bạc đi,

Uống rượu đến chốn nhâm nhi men sầu.

Ác thiện cũng thế khác đâu,

Đạo đức tìm chốn nhiệm mầu trú tâm.

Kết quả yên vui tỉnh trầm,

Hay rối khổ, do hướng tâm sinh thời.

  1. Vấn:   Khi ta từ giả cuộc đời,

Thân ta còn đó, biết thời đi đâu?

                     Hình dạng cái biết ra sao?

          Đáp:   Lúc chết như ngủ quên nào biết chi.

Đến khi sực tỉnh thôi thì,

                     Xương thịt đã cứng, hơi thì không ngơ.

                     Mới biết mình đã chết rồi,

                     Thôi thì cái biết nổi trôi thọ tình.

                     Với người thiện nhẹ vui thanh,

                     Với kẻ ác, khổ phải đành mà thôi.

                     Do gieo giống lúc sinh thời,

                     Nhân nào quả nấy, đầy vơi tự mình.

  1. Vấn:   Cái biết bao lớn ra sao?

Đáp:   Khi ta ngước lên hư không

Tức thì cái biết cũng đồng bao la.

Lúc lựa từng hạt cát ra,

Biết là hạt cát mà ta đang tìm.

Khi xỏ chỉ vào lổ kim,

Cái biết nhỏ xíu như kim khác nào.

Thấy vật trước mắt ra sao,

 Thì cái biết cũng in nhau khác gì.

Tai nghe, mũi hưởi, nếm chi,

Biết chính là tiếng, mùi gì không sai,

Lưỡi nếm vị biết đắng cay,

Thân sờ đụng vật biết ngay cứng mềm.

Ý nhớ người biết ghét thương,

Trí phân biệt, biết tỏ tường các duyên.

Gặp màu xanh, đỏ, trắng, vàng,

Biết nhận rõ sắc đỏ, vàng, trắng, xanh.

Thấy vật tròn dài biết rành,

Ý tưởng cận viễn, dữ lành biết ngay.

Vũ trụ vạn biệt, thiên sai,

Cái biết rõ hết trong ngoài, gần xa.

Lúc chú ý, chỉ một mà,

Biết gần, thì không biết xa mọi điều.

Biết nhiều khổ não thêm nhiều,

Không biết không khổ là điều nhớ ghi.

Muốn dứt khổ phải toàn tri,

Loạn ma, định Phật, biết gì cho an.

Muốn cái biết sống vững vàng,

Phải năng định tỉnh biết hằng an vui.

Biết thiệt thọ, biết thảnh thơi,

Gọi tên giác ngộ đời đời chơn thân.

  1. Vấn:   Cái gì được gọi là ta ?

Lại còn phân định thành ra mấy phần?

          Đáp:   Tư kỷ bổn ngã là nhân,

Sở chấp mê muội là phần tương quan,

Ai cũng tự đắc, kiêu căng,

Tự tôn, tự đại cho rằng ta hay.

Ta là cái biết muôn loài,

Tùy nơi trình độ hiển bày khác nhau.

Trình độ nào, biết ra sao ?

Không ai sái trật, biết sao luận bàn.

Nếu có người biết hoàn toàn,

Cũng không nhìn nhận ta đang là gì.

Cái ta biến hiện tùy nghi,

Không có sở trụ lấy gì thấp cao.

Chúng sanh không định muôn màu,

Cái ta muôn vạn biết đâu mà lường.

Khi vầy khi khác vô thường,

Mãi cố chấp nên không phương kiếm tầm.

Càng rối loạn, càng lạc lầm,

Chúng sanh chưa có cái tâm cho mình.

Phật có cái ta viên minh,

Cái ta chơn ngã anh linh nhiệm mầu.

  1. Vấn:   Cái biết nhập thai cách nào?

Đáp:   Biết như làn khói ra vào trong thân.

Thân thể ta vốn trống không,

Có lỗ hơi, gió ra vào thông thương.

Thì biết nhập thai sự thường,

Nhưng ta nên rõ, biết nương thai bào,

Nếu không tinh huyết làm sao,

Tượng hình sinh sản, thai bào trống không,

Đủ duyên giao hiệp tương đồng,

Tinh huyết đầy đủ sanh thân con người.

  1. Vấn:   Hồn là chi ? Phách là chi ?

Đáp:   Hồn phách hay thần thức linh,

Người ta ám chỉ thân hình biết, tôi.

Tuy khác tên chỉ một thôi,

Còn pháp chỉ rõ khúc nôi danh từ,

Trình độ mỗi lúc khác như,

Thọ, tưởng, hành, thức, giác từ danh xưng.

Hiểu nơi lý rộng dung tình,

Chấp theo sự việc tối tăm hẹp hòi.

Nên gọi là linh hồn thôi,

Tạm cho ta hiểu, để rồi tiến lên.

  1. Vấn:   Thông thường mấy cách sanh thân?

Đáp:   Tất cả bốn cách sanh thân trong đời.

  1. Có linh hồn nhập thai rồi,

Do nơi cây thú lâu ngày khổ nguy,

Nên sau khi chết liền đi,

Tìm nơi nương gá chờ khi, nơi người,

Như choán chỗ, như chờ thời,

Tự nhập thai, hoặc bị người kéo lôi,

Nhập thai trước trong bụng người,

Để đặng trả oán hoặc thời đền ơn.

  1. Thai tượng không có linh hồn,

Tinh cha huyết mẹ tích dồn có đây.

Như hột giống cây sanh cây,

Giống thú sanh thú, người sanh giống người.

Đầy đủ các duyên đúng thời,

Do đó hình tượng thai người có ra.

Có khi tư tưởng mẹ cha,

Mong muốn nên có thai bào tượng nên,

Có người nhờ sự linh thiêng,

Khấn nguyện cầu vái chăm chuyên lâu ngày,

Khi linh ứng sẽ có thai,

Cha mẹ mong ước hôm nay phỉ nguyền.

Cha mẹ sinh con tùy duyên,

Có tứ đại, có đủ duyên sanh người.

  1. Thai không có giao dâm, nơi

Thần thông linh hiển, tiên trời gá duyên,

Các Ngài dùng tư tưởng riêng,

Đi nhập duyên trước, gá duyên ta bà,

Thai này không cần tinh cha,

Mà vẫn có được chính là phép linh.

  1. Linh hồn không nhập thai sanh,

Là do nơi bậc trọn lành kết duyên.

Không hạp nhơ uế cái triền,

Từ lòng bi mẫn đến miền nhân gian,

Vì thương đời khổ lầm than,

Không mê trần cảnh lạc đàng trầm luân.

Chờ lúc khai hoa sinh thân,

Mới thị hiện đến có phần diệu hay,

Có điềm trân quý hiển bày,

Sanh thân viên mãn có ngay phúc phần.

  1. Vấn:   Bốn cách sanh có khác chăng?

Đáp:   Về sắc thân không khác nhau,

Về bẩm chất, tính cách, chậm mau không đồng.

Đứa trẻ cây sanh độn đần,

Thú sanh đứa trẻ ác hung, ngu khờ.

Người ác tái sanh xấu xa,

Người thiện sanh, tánh hiền hòa dễ thương.

Thần tái sanh, trẻ khác thường,

Lanh lợi, quỷ quyệt, tính cường bạo hơn.

Tiên Thánh sanh, trẻ đẹp hơn,

Đức tánh quý lạ khác hơn người thường.

Cha mẹ sanh, trẻ bình thường,

Dạy đâu biết đó chậm hơn, trung bình.

Những đứa trẻ lúc mới sanh,

Để nơi chỗ vắng biết đành chết luôn.

Nếu có sống như không hồn,

Không người dạy, biết không tồn tại lâu.

  1. Vấn:   Khoa học nói không hồn đúng chăng ?

Đáp:   Khoa học là môn chuyên sâu

Giải thích lý luận qua điều chứng minh.

Môn siêu hình học tâm linh,

Người ít chú ý nên nhìn khác đi.

Chơn lý Phật pháp vô vi,

Cái nhìn thông suốt tuệ tri pháp trần.

Khoa học nghiên cứu chuyên cần,

Hiểu được thế giới một phần ít thôi.

Phật học cái biết rộng khơi,

Thấy trong võ trụ bao đời duyên nhơn.

Khoa học nằm trong lý chơn,

Giáo pháp của Phật quả nhơn tỏ tường.

Siêu hình học biết có hồn,

Đó là cái sống ở trong thân mình,

Từ chưa biết đến nên hình,

Biết như người chủ cộng sinh kiếp người.

Cỏ cây còn có biết thay,

Người chưa thấy biết bởi vì chấp thân.

Trồng cây quên cái mình cần,

Cây chết còn hột, mất thân còn hồn.

Cây sanh hột, thân sanh tâm,

Đó là chơn lý ngàn năm vẫn là.

Vã lại, bốn cách sanh ra,

Nếu nói tứ đại chính là sống đây,

Bảo đất đá nói chuyện đi,

Thử xem có được? Cái gì diễn ra,

Nếu nói không biết thì a,

Ai đang nói đó, ai người hiểu đây.

Chính cái biết hạt giống nầy,

Là duyên tiến hóa, kiếp nầy kiếp sau.

Nếu nói sống, không biết nào,

Thì chỉ đáp đúng khoảng đầu sanh thân.

  1. Vấn:   Xin hãy giải rõ một lần,

Thân sanh tâm, tâm sanh thân lẽ nào?

Đáp:  Thân sanh tâm giai đoạn đầu,

Trên đường tiến hóa, tâm hầu sanh thân.

Như cây có trái hạt nhân,

Sau đem hạt giống gieo trồng có cây.

  1. Vấn:  Vậy có phải linh hồn nầy,

Sống và tiến hóa đến thành Phật chăng?

Đáp:  Có sống có chết đổi thay,

Nhưng lớp khác vẫn ngày ngày tấn lên.

Học trò thi, có thành công,

Cũng có người rớt, như trong mười người.

Rớt nhiều đậu ít mà thôi,

Nhưng rồi cũng có nhiều người bước lên.

Mười cọng cỏ có được một thành cây.

Mười cái cây có được một sanh thú.

Mười con thú nhỏ có được một con thú lớn.

Mười con thú lớn có được một con sanh người.

Mười người có một người thành Trời.

Mười vị Trời có một vị đắc quả Phật.[2]

Như cây có lá một muôn,

Bông một ngàn, trái một trăm là nhiều.

Đến thành hột chẳng bao nhiêu,

Hột cứng chắc, chỉ một vài phần trăm.

Mùa này, mùa khác xoay vần,

Năm nào cũng có hạt mầm ươm gieo.

  1. Vấn:  Cõi siêu hình Trời Phật ở đâu ?

Đáp:  Võ trụ vô số địa cầu,

Tứ đại bình đẳng không đầu, không đuôi.

Lăn xoay nên có đổi dời,

Lâu mau, nhiều ít tùy nơi tâm mình.

Có thế giới, có chúng sinh,               

Hàm linh vạn vật tùy trình độ tâm.

Phật, trời, người, thú, nữ, nam,

Ông già, người lớn, trẻ em hiện hành.

Thiện ác, cười khóc có sanh,

Tùy tâm cảm ứng mà thành nhân duyên.

Tâm trời Phật ở cảnh hiền,

Tâm người thú chiêu cảm miền nhân gian.

Tâm quỷ ma cũng tìm đàng,

Tìm cảnh giới hạp kết đoàn sống chung.

Lựa chọn cao thấp mực trung,

Nơi này nơi khác tựu trung không bền.

Chỉ tâm mình chỗ vững yên,

Tâm tạo quyến thuộc cảnh duyên cuộc đời.

Sự ngoài dời đổi tùy thời,

Tâm mình nhứt định, cõi đời bình yên.

Vậy nên phải chọn tâm điền,

Tâm thiện, chơn, huệ vui yên tinh thần.

Dẫu trong cảnh nghịch gian truân,

Tâm định giữ được cảnh chân như mình.

Trái lại mê muội vọng tình,

Khổ sở, tăm tối, lạnh lùng, lẽ loi,

Sống đã vậy, mất thân rồi,

Tâm hồn cũng hướng theo nơi vọng tình.

Một đời khổ sở điêu linh,

Sống trong cảnh giới vô minh thăng trầm.

  1. Vấn:   Địa ngục dưới đất phải chăng?

Đáp:  Quyền giáo ví dụ chỉ rằng,

Giữa ruột trái đất tối tăm lửa hừng.

Chớ thật ra cảnh do tâm,

Tâm nào cảnh đó thăng trầm tự nhiên.

Địa ngục ác khổ triền miên,

Thiên đường thiện đạo, cảnh duyên nhẹ nhàng.

Chợ đông một buổi rộn ràng,

Cần gì tìm đó, rõ ràng không sai.

Nhìn vào ta sẽ thấy ngay,

Đợi gì sống chết, cảnh ngoài, cảnh trong.

  1. Vấn:   Do đâu kẻ nói chết còn,

          Người nói chết mất ví von thế nào?

Đáp:  Do bởi kẻ ác nói liều

Kiếp này làm ác thỏa điều ăn chơi.

Đời sao tu cũng được thôi,

Nên bậc Hiền Thánh có lời dạy răn:

Công lý võ trụ công bằng,

Lẽ tương đối, vẫn thường hằng hiển nhiên.

Đời sau muốn được vui yên,

Bây giờ phải biết tu hiền thiện nhân,

Buông lung ăn chơi sướng thân,

Chắc rằng sẽ bị mất phần tâm linh.

Được ngoài thì sẽ mất trong,

Sanh thì tử, mãi trong vòng trầm luân.

Thái quá thì bất cập gần,

Kẻ làm ác, biết và thân không còn.

Linh hồn quá khổ đảo điên,

Làm sao có được duyên mà hòng tu.

Kẻ ác vui chơi lu bù,

Rằng không  hưởng thụ là ngu trên đời.

Như đời trước có vun bồi,

Kiếp này đang hưởng phước đời xa xưa.

Phải biết đang hưởng phước thừa,

Còn phước hưởng, nên khổ chưa đến mình.

Nhân quả như bóng theo hình,

Tái sanh hết phước, khổ mình chịu thôi.

Lòng từ bi Phật thương đời,

Nói thường, nói đoạn cho người biết tu.

Tùy theo căn tánh trí ngu,

Tùy duyên giáo hóa cho dù nhọc thân.

Chết còn, chết mất chớ lầm,

Làm thiện hay ác có phần quả sau.

  1. Vấn:  Tiêu diệt thân tâm cách nào ?

Đáp:  Kẻ ác, con trẻ rủ nhau làm lành,

Không ai tán trợ xung quanh.

Bằng kêu làm ác sát sanh trâu bò,

Nhiều người hưởng ứng giúp cho,

Không kêu cũng tới, cùng lo hô hào,

Một dao lại thêm một dao,

Một mạng thêm mạng, trước sau đông vầy.

Lượm đất ném lên không đây,

Hết trớn rớt xuống lún lầy nát thân.

Kẻ ác trong lúc tạo nhân,

Quả đến bạo phát, bạo tàn không xa.

Ác với thú, tới người ta,

Rồi đến ác với kẻ xa người gần,

Đồng bọn xa lánh không thân,

Thế lực tan rã thêm phần bơ vơ.

Cái ác làm nó ngây khờ,

Làm việc không biết ngu ngơ điên cuồng.

Khổ nữa mất tư tưởng luôn,

Ghét người, ghét thú như tuồng cỏ cây.

Cái khổ hành phạt lâu ngày,

Hết biết, mất biết khổ thay lạc lầm.

Kẻ ác vương mang nhiều năm,

Như ngục vô gián luân trầm đọa sa.

Người thương cũng khó gần mà,

Không phương cứu chữa thật là thảm thay.

Khổ điên có hai cách này.

Kẻ ác điên khổ có ngày diệt tiêu.

Người thiện vì học quá nhiều,

Vì lo nhớ nghĩ như người sụt thang,

Điên sảng chỉ một thời gian,

Được thương, chăm sóc dần an tinh thần.

Điên vì tình dục lụy thân,

Chính khổ ân ái giết lần tâm linh,

Tình dục lưỡi kiếm vô hình,

Diệt tiêu cái biết ngục hình dấn thân.

  1. Vấn:   Nếu vậy sống trong cõi trần,

Rồi ai cũng phải có lần diệt tiêu ?

Đáp:   Đừng hoảng hốt, đừng sợ nhiều,

Hãy lo làm thiện tránh điều ác ngay.

Lẽ thật tạo hóa xưa nay,

Sanh mà không diệt các loài cộng sinh,

Đất đâu chứa hết chúng sanh.

Đường thiện tiến hóa sẵn dành người khôn.

Mình giết người, người chết thân,

Còn mình hạt giống thiện tâm mất rồi.

Tới lui trong nẽo luân hồi,

Chịu sự vay trả đền bồi chết thân.

Rõ ràng mình tự giết mình,

Có ai nghĩ đến, hoặc mình biết ra,

Thiện là tiến, ác lui mà,

Đâu có ưu ái riêng ta tốt lành,

Nhân quả báo ứng đành rành,

Vay trả, thiện ác, trược thanh do mình.

  1. Vấn:   Làm sao thành Phật anh linh

Đời đời được sống yên bình an vui ?

Đáp:  Con thú tái sanh làm người,

Kiếm ăn để sống chờ thời bỏ thân,

Lâu ngày mệt mõi bất cần,

Một hôm gặp kẻ khó khăn hơn mình.

Sớt phần dư, sẻ chút tình,

Được lời cảm tạ nó mừng biết bao,

Tâm nghe mát mẻ, ngọt ngào,

Hay hay, mới lạ dạt dào yêu thương.

Nó ham bố thí cúng dường,

Siêng làm việc thiện, biết thương nhiều người.

Sống làm gương tốt cho đời,

Thân tâm an lạc, rạng ngời niềm tin.

Làm phải cho một gia đình,

Người ta quý mến như tình cha con

Giúp cho làng tỉnh sống còn,

Mọi người kính trọng như quan cầm quyền.

Giúp cho cả xứ bình yên,

Người người mến đức, vương quyền thiên ân.

Ai ai cũng muốn được gần,

Hưởng sự mát mẻ thêm phần yên vui.

Khi trọn phận sự kiếp người,

Mãn duyên xả bỏ cuộc đời phù du.

Tâm nương cảnh tịnh ôn nhu,

Lòng nghe khoái lạc, đức thù thắng thay.

Trước khi bỏ xác thân này,

Đang khi chết hoặc sau khi chết rồi.

Cũng có nhiều người lìa đời,

Sau sự khổ nạn, chết thời không an.

Tìm đến ở chung đạo tràng,

Nhờ sự dạy dỗ vững an linh hồn.

Lần lần xã hội siêu hình,

Càng thêm đông đảo ấm tình tương thân.

Nơi đây nó như chủ nhân,

Như ông thầy giáo tiến lần lên mau,

Như vua trời, hưởng phước thiên,

Xa gần cảm mến kết duyên vui vầy.

Thân giáo người người kính yêu,

Thiện lành nói ít cũng chiêu cảm người.

Lời lành thiện như hoa trời,

Tán dương ca ngợi đức người tu chân.

Kẻ ác nói cũng như câm,

Dù có học giỏi cũng bằng như không.

Nơi đây nó tập nói lần,

Mở mang trí sáng, lý chân hiểu rành.

Đắc đạo là đắc nhân tâm,

Tiến thêm bước nữa, xa gần gieo duyên.

Dạy đạo giác ngộ chân thường,

Khắp nơi cùng xứ theo gương tu hành.

Đến khi cảnh giới đạo thành,

Trí đầy, tâm đủ viên thành Như Lai.

Có đoàn hậu tấn trí tài,

Đến lúc nghĩ dưỡng, lâu dài trường sanh.

Đến đây cái biết viên thành,

Kim cang bất hoại chúng sanh tôn sùng.

Ánh quang minh chiếu khắp cùng,

Sáng soi thế giới sạch không yên bình.

Từ thú mỗi bước đăng trình,

Đến người, trời, Phật thiện lành kim cang,

Không tự cao, dừng nghĩ ngang,

Đây là gương sáng cho hàng hậu nhân.

Diệt hết ác, tất trọn lành,

Thương đời, thương cả chúng sanh muôn loài.

Bình đẳng, bác ái không hai,

Không lựa lớn nhỏ, không nài hèn sang,

Mới mong giác ngộ hoàn toàn,

Mới mong thành Phật thoát đàng tử sanh.

Yên vui trọn sáng, trọn lành,

Người người quý kính chí thành noi gương.

Ai ơi ! chánh pháp chơn thường,

Hãy nên làm Phật, pháp vương đời đời./.


[1] Nguyên văn Chơn Lý Của Đức Tổ Sư

[2] Nguyên văn Chơn lý của đức Tổ Sư.

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết: