CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Tại sao phải ăn chay vào những ngày mùng một và ngày rằm?

Câu hỏi:

Kính gởi Ban phụ trách hộp thư Phật học,

Em hiện đang là student của một University ở Mỹ. Em đang cần làm một essay về “Ăn chay trong Đạo Phật”. Em đã đọc khá nhiều những bài viết về các quan điểm ăn chay trong đạo Phật để có thể tìm thêm thông tin cho bài essay của mình. Nhưng có một vấn đề mà em rất quan tâm và thắc mắc nhưng không tìm thấy câu trả lời, đó là vì sao mà người Phật tử lại thường ăn chay vào những ngày mùng một và ngày rằm âm lịch, mà không phải là ngày khác trong tháng. Có thể là theo như giáo lý nhà Phật thì hai ngày này có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng nào không?

Em rất chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Ban phụ trách hộp thư có thể cung cấp cho em những thông tin này, nhằm giúp em hiểu biết thêm về quan điểm ăn chay của đạo Phật, đồng thời để em có thêm tư liệu để hoàn tất bài essay của mình một cách hoàn chỉnh và chính xác hơn.

Rất chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Ban phụ trách.

Nguyễn Thị Mỹ Hằng.

 

Trả lời:

Phật tử Mỹ Hằng mến,

Quý Thầy Cô trong Ban phụ trách hộp thư Phật học rất ca ngợi tinh thần học hỏi của Mỹ Hằng, cũng như đã chọn đề tài cho bài essay của mình về Quan điểm ăn chay của đạo Phật. Giờ Thầy đại diện quý Thầy Cô gởi vài gợi ý đến Mỹ Hằng, hy vọng nó sẽ tháo gỡ phần nào mối băn khoăn của Mỹ Hằng.

Vấn đề ăn chay là để trưởng dưỡng lòng từ bi đối với các loài động vật và cũng để giảm bớt nghiệp sát cho chính bản thân của người ăn chay. Do đó, việc ăn chay càng nhiều ngày càng quý, không kể vào ngày nào. Nếu ăn chay bất cứ ngày nào trong tuần và tu tập tâm thương người mến vật cũng đều được, mấy ngày ấy đều trở nên cát tường quý báu cả.

Vấn đề Phật tử Mỹ Hằng đặt ra khá lý thú, gần như ít có người đề cập đến, nếu không muốn nói là không có. Theo chỗ biết giới hạn của Thầy, thì chưa có bài sách nào trình bày vấn đề này, nên Thầy đưa ra hai cách lý giải của Thầy như sau.

1) Nhìn từ góc độ lịch sử

Để giải quyết vấn đề này chúng ta đặt nó trong bối cảnh nó ra đời, chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra lý do tại sao. Vấn đề ăn chay như là một pháp môn tu đầu tiên, tối thiểu cho các Phật tử tại gia, mỗi tháng ăn chay 2 ngày là kể đến công của các bậc Tổ Sư Phật giáo Đại thừa. Các nhà Đại thừa thực hiện rất đúng tôn ý của Đức Phật. Để khuyến khích Phật tử hạn chế nghiệp sát và phát triển bi tâm, trong buổi đầu tu học Phật, chư Tăng Đại thừa đã chọn các ngày trong tháng như mùng 1, 8, 14, 15, 18, 23, 24, 28, 29 và 30 để tiêu chuẩn hoá các ngày ăn chay tuỳ theo sự phát tâm của mỗi người, 2 ngày, 4, 6, hoặc 10 ngày. Theo truyền thống của cả Nam truyền và Bắc truyền, vào ngày đầu tháng (mùng một) và ngày trăng tròn (rằm) chư Tăng của hai truyền thống đều tụ họp lại tại một trú xứ nào đó gần nhất để lắng nghe vị cao đức trùng tuyên giới luật và để phát lồ sám-hối những điều sai lầm mà đã lỡ tạo. Đây là truyền thống có từ thời Phật còn tại thế. Do đó, việc chư tăng hội họp lại vào ngày đầu tháng và rằm để kiểm thảo, nhắc nhở lẫn nhau, hai ngày này trở thành ngày hội của chư Tăng lúc bấy giờ. Và cũng từ đó, hai ngày này có ý nghĩa quan trọng trong Phật giáo không những cho hàng xuất gia mà cả cho hàng cư sĩ tại gia. Sau này các bậc Tổ sư đã giới thiệu 2 ngày (mùng một và rằm) hàng Phật tử tại gia không nên dùng huyết nhục của loài động vật và cũng để nuôi lớn lòng bi mẫn đối với chúng sanh.

Như vậy Phật tử MH có thể đặt vấn đề tiếp: tại sao Đức Phật không chọn ngày khác mà lại chọn vào ngày đầu tháng và giữa tháng âm lịch ?

Việc thành lập truyền thống tụng giới của Tăng đoàn đức Phật là vì nhu cầu chung. Đức Phật không bao giờ đặt ra một đạo luật, giới điều để thiết chế tăng đoàn khi sự kiện đó chưa xảy ra. Ngày Bố-tát (Uposatha// Observance day) cũng tương tự, không phải do Đức Phật tự đặt ra, mà do vua Seniya Bimbisāra (Tần-bà-sa-la) thưa với Đức Phật truyền thống tổ chức tốt đẹp của các giáo phái khác, họ biết quy tụ vào ngày mùng 8, 14, 15 của nửa tháng đầu, tương tự tụ họp vào ngày 23, 29 và 30 cho nửa tháng sau ở tại một nơi để thuyết giảng giáo thuyết của họ cho tín đồ. Đức Phật đã lắng nghe lời thưa của vua Seniya Bimbisàra và đã dạy bảo các vị Tỳ-kheo cũng tụ họp lại vào những ngày giống như truyền thống của các tôn giáo khác để kiểm thảo và tụng Giới bổn (Pāimokkha). Câu chuyện này được ghi lại trong Đại Phẩm (Mahavagga) thuộc Luật Tạng (The Book of Discipline, vol. IV tr. by I.B. Honer, Oxfort: The Pali Text Society, 1993, pp. 130f). Cũng theo câu chuyện trên, Đức Phật không rập khuôn với những truyền thống khác mà chỉ cho phép các vị Tỳ-kheo tụng giới và kiểm thảo vào ngày 14 hoặc ngày 15, và tương tự cho nửa tháng sau là cuối tháng hoặc đầu tháng tới. Đó là nguyên nhân Phật giáo có ngày hội họp vào 14, hoặc 15, cũng như 30 cuối tháng hoặc đầu tháng (mùng một) của mỗi tháng.

Chưa hết, sẽ có vị tiếp tục đặt câu hỏi: như vậy thì tại sao khi các Phật tử phát tâm ăn chay một tháng 4 ngày, 6 ngày, hoặc 10 ngày thì lại chọn một vài ngày khác như là mùng 8, 14, 23, 24, 28 và 29 ?

Câu trả lời đơn giản là các ngày đó được phân bố đều các tuần của tháng để nhắc nhở Phật tử thường xuyên tu tập tâm từ bi đến với các loài động vật mà không nỡ giết để làm thực phẩm cho mình, và đấy cũng là phương pháp gieo nhân lành, tránh nghiệp sát để kiếp sau khỏi phải trả nợ máu cho chúng sanh. Truyền thống này đã được các Phật tử tại Ấn Độ thời đó thực hiện qua tu tập Bát Quan Trai Giới (thọ trì 8 giới, tập tu giống như một vị xuất gia trong một ngày) ngay khi Phật còn tại thế được kể trong nhiều câu chuyện về Chuyện Tiền Thân của Đức Phật (Jātaka).

Theo ý của Thầy, vì để tổ chức hoá thời gian nên ăn chay cũng như đến chùa lễ Phật, tụng kinh, tu thiền, làm các việc phúc lợi xã hội, các bậc Tổ Sư, Thánh triết sau này đã chọn ngày đầu tháng thay vì ngày 30 để nhắc nhở hàng Phật tử một tháng đã đi qua, hôm nay là ngày khởi điểm của một tháng mới, nên sống như thế nào để có ý nghĩa trong tháng này.

Hơn nữa, chúng ta thấy dân tộc Trung Hoa rất chú trọng đến ngày mới của một năm, một mùa hoặc một tháng, thậm chí giờ mới của một ngày, đó cũng là lý do tại sao các vị Tổ Sư lại chọn ngày mùng một không chọn ngày 30. Còn ngày rằm cũng vậy, gần như các nước trên thế giới, khi nền khoa học điện quang chưa phát triển, họ đều lấy ngày ấy như là ngày vui chơi, lễ hội, những ngày trao đổi tình duyên, v.v... Các bậc Thánh thời xưa đã khéo chọn ngày ấy để khuyên nhân dân làm lành, tu nhân tích đức. Thay vì họ tổ chức các lễ hội (có thể lành mạnh hoặc không lành mạnh) để mua vui, thì Phật giáo cũng có những tổ chức lễ hội để làm đẹp cuộc sống bằng chất liệu của chân, thiện và mỹ.

2) Nhìn từ góc độ vũ trụ học

Nếu câu trả lời dừng lại ở trên, chắc chắn độc giả chưa hài lòng vì những giải đáp đơn giản như vậy. Ở đây, xin đưa ra cách giải thích khác, đó là cách lý giải dựa theo nhịp sinh học của vũ trụ. Cách lý giải này, cách đây khoảng 5 năm, có một bài viết ngắn đăng trên Bán nguyệt san Giác Ngộ cũng đặt vấn đề tại sao Phật tử phải đi chùa vào ngày mùng một và ngày rằm âm lịch? Tác giả bài báo đó cũng trình bày vài điểm khá độc đáo do dựa theo chu kỳ của vũ trụ. Ở đây, Thầy cũng tán đồng quan điểm đó.

Cũng cần nên lưu ý, Đức Phật đặt căn bản giáo lý của Ngài trên nền tảng của tu tập đạo đức, tu tập tâm thức và hướng đến giải thoát, giác ngộ tối thượng, chứ không hướng mục đích giáo pháp của Ngài đến những vấn đề triết lý siêu hình hay giải thích về những hiện tượng đa phức của vũ trụ. Nhưng những khoa học gia phương Tây ngày nay và các Thần y lừng danh Trung Hoa đã khám phá ra rằng tất cả những gì Đức Phật giảng dạy cho đệ tử Ngài đặc biệt về ăn, uống, ngủ nghỉ, các tư thế đi, đứng, ngồi, nằm không những phù hợp với những thành tựu khoa học ngày nay mà còn đi trước những thành tựu khoa học và khoa học còn phải tiếp tục khám phá nhiều hơn nữa mới hy vọng bắt kịp với hệ thống triết học nhân sinh của Phật giáo.

Đức Phật dạy, con người do các duyên mà thành, thế giới vạn hữu này cũng do các duyên mà thành, tất cả đều cộng trụ tương sanh và tương diệt. Sự hiện hữu của cái này cũng là sự hiện hữu của cái kia, sự vắng mặt của cái này cũng là sự vắng mặt của cái khác, đây là định lý “duyên khởi pháp”. Mọi sự vật hiện tượng đều tác động và chịu ảnh hưởng lẫn nhau.

Các nhà đại thần y Trung Hoa xa xưa đã đưa ra lý thuyết sự vận hành các nhâm mạch của con người cũng như sự vận hành 4 mùa của Trời Đất (Xuân sinh, Hạ trưởng, Thu liễm, Đông tàn) để vận dụng trong cách trị liệu của mình và khuyên con người nên sống đúng theo vận hành trời đất để tăng thêm tuổi thọ và làm đẹp cuộc đời. Ngày nay các nhà y khoa phương Tây đã tính ra được nhịp sinh học của mỗi người, vào giờ nào con người có thể hưng phấn nhất trong một ngày, tương tự giờ nào có thể xuất hiện những âm tính như quạu, cáu, gắt, khó chịu, buồn, giận, v.v... nhiều nhất.

Tương tự, nhịp sinh học của trái đất, của mặt trăng và mặt trời, nói chung là các thiên thể cũng có những chu kỳ nhất định. Hiện tượng trăng tròn và trăng khuyết có ảnh hưởng đến thuỷ triều và các con nước ròng của các con sông hay những sóng ngầm dưới lòng đất. Không những các hành tinh xa lắc xa lơ đó tác động mạnh đến các yếu tố môi trường chung quanh của con người mà ngay cả chi phối, điều động cả con người. Ta có thể lấy một ví dụ bệnh phong cùi, hen, suyễn, đều chịu ảnh hưởng rất lớn của các biến động trời đất, như trăng tròn và khuyết và sự thay đổi bốn mùa! Cho nên triết học vũ trụ quan của người Trung Hoa rất nhấn mạnh mối liên hệ hỗ tương giữa các Thiên thể, hành tinh của chúng ta và con người (thiên địa nhân tương ứng).

Theo các nhà thống kê về tội phạm và tai nạn giao thông (rất tiếc là không có con số và thông tin cụ thể ở đây!), phần lớn các tội phạm và tai nạn thường xảy ra nhiều nhất vào những ngày đầu tháng, cuối tháng và những ngày trăng tròn. Nếu chúng ta quan sát kỹ thì chính dòng máu của chúng ta cũng bị chi phối bởi hiện tượng tròn khuyết của mặt trăng, và những tánh tình kỳ cục nhất cũng thường xảy ra vào những ngày ấy.

Do đó, thật là kỳ diệu, các vị Thánh triết thời cổ đại đã chọn những ngày như vậy để khuyên mọi người nên tu nhân tích đức. Truyền thống Phật giáo hay tổ chức lễ hội vào ngày đầu tháng và ngày rằm và khuyên mọi người nên ăn chay để tránh được tối đa những hội chứng tâm lý bất thiện có thể phát sinh.

Để hiểu triệt để những vấn đề huyền bí trên, chúng ta không thể giới hạn trong những tác phẩm thuộc Ấn Độ học mà phải mò mẫm trong các tác phẩm cổ điển Trung Hoa về y dược và Dịch học cũng như những phát minh của khoa học về mối liên hệ mật thiết giữa thiên nhiên và con người. Nhưng vấn đề khó ở đây, muốn hiểu triệt để những vấn đề trên, đòi hỏi người nghiên cứu phải có vốn ngôn ngữ và chuyên ngành về lãnh vực đó, mới hy vọng có thể hiểu vấn đề kha khá được. Tuy nhiên, các tác phẩm có chủ đề trên, hiện nay tại Việt Nam cũng có một vài đã được dịch sang Việt ngữ, và với số lượng sách tiếng Anh khổng lồ tại các thư viện ở Mỹ, hy vọng Phật tử Mỹ Hằng tìm đọc thêm để có thể lý giải những vấn đề bí ẩn của con người và vũ trụ.

Một trong số tài liệu tham khảo tổng quát bằng tiếng Việt về các vấn đề huyền bí của vũ trụ, ngày giờ, tương sinh tương khắc,… có thể đưa ra kết luận được, đó là bài khảo cứu của tác giả Nguyễn Hoàng Điệp, cũng là thư ký biên soạn cuốn gần như bách khoa: Almanach Những Nền Văn Minh Thế Giới (Hà Nội, Nhà Xuất Bản Văn Hoá – Thông Tin, 1996, từ trang 520 đến 529). Thầy trích lại những đoạn khá độc đáo sau:

Trong vũ trụ, mặt trời cùng với môi trường bao quanh nó liên tục truyền cái trật tự của mình tới tất cả những gì trên Trái đất, Mặt trăng, một vật thể gần Trái đất nhất, cũng gây ảnh hưởng tới Trái đất. Mọi sinh vật và cả những đồ vật vô tri vô giác đều “hưởng ứng” với nó và thay đổi cùng với nó. Các con sông thay đổi theo dòng cùng ánh sáng Mặt trăng, các đại dương thay đổi các đợt sóng triều theo sự mọc và lặn của Mặt trăng. Các đợt “triều lên” không chỉ bao gồm nước của biển và đại dương mà còn cả lớp không khí của Trái đất, và lớp vỏ cứng (mặt đất) cũng có hiện tượng “triều lên -xuống”, hiện tượng “triều lên xuống” cũng diễn ra ngay trong sinh thể của con người và tất cả sinh vật nói chung.

Các nhà vật lý, y - sinh học và nhiều ngành khoa học đã phát hiện ngày một nhiều những nhịp điệu có chu kỳ khác nhau diễn ra trong cơ thể của con người: chu kỳ ngắn nhất có thể từ vài phần giây đến vài giây, như tần số của những dòng điện sinh học, nhịp tim, nhịp thở, nhu động đường ruột, sóng điện não (chừng xấp xỉ một giây). Nhưng nhịp điệu này có thể thay đổi theo thời gian trong ngày, theo thời tiết và môi trường. Có chu kỳ kéo dài từ vài chục phút tới vài giờ, như chức năng của thận, của máu, và hoạt động trí óc...

...Có những nhịp điệu dài hơn 24 giờ, như nhịp điệu tháng, năm... được chi phối bởi ảnh hưởng của Mặt trời và Mặt trăng. Mặt trời quay xung quanh trục của nó trung bình là 27,3 ngày. Còn Mặt trăng quay xung quanh Trái đất là 29,5 ngày. Điều đó cho ta tới chu kỳ hoạt động sinh vật trên Trái đất, điển hình là chu kỳ rụng trứng, chu kỳ kinh nguyệt của phụ nữ, nhịp điệu sinh lý - thụ thai ở con người, và chu kỳ động hớn của động vật... đều có liên quan với chu kỳ chuyển động của Mặt trăng nhiều hơn. Chính vì thế, thời cổ xưa đã cho rằng Mặt trăng là thần của ái tình, thần của dục khí, thần của tâm hồn... như vậy hiện tượng này đã được phát hiện từ rất xưa.

Dưới tác dụng sức hút của Mặt trăng, trong con người cũng diễn ra thuỷ triều học . Sự i-on hoá của khí quyển, hoặc sự biến động về từ trường của Trái đất đều lệ thuộc vào các pha của Mặt trăng. Theo các quan sát này, đối chiếu với số thống kê cho thấy, con số các rối loạn về tâm lý, trạng thái sinh lý mạnh mẽ đều tăng vọt vào đầu tuần trăng và giữa tuần trăng trong khi những biểu hiện về trạng thái thần kinh não, tim mạch lại chịu tác động mạnh mẽ với vòng quay (chu kỳ) của Mặt trời, và xuất hiện những tai biến đối với con người, xã hội cũng gia tăng khác thường.

Như vậy, nhịp sinh học trên Trái đất nói chung, nhịp điệu sinh học của con người nói riêng có nguồn gốc từ nhịp điệu của vũ trụ, những ảnh hưởng của Mặt trời và Mặt trăng là yếu tố chính, chủ yếu, trực tiếp.

Có thể nói Con Người và Vũ trụ tuy hai nhưng mà một, tuy là một nhưng vẫn là hai. Đó là định lý thuận - nghịch, là mối quan hệ sinh biến tương đồng với nhịp điệu vũ trụ. Ít có nhịp điệu nào của vũ trụ bỏ qua con người và đời người. Phải chăng khoa học đương thời đã gặp lại những trí tuệ mà một thời từng huy hoàng ở phương Đông?

***

Qua đó, chúng ta thấy lời Đức Phật dạy “trùng trùng duyên khởi”, “hữu hoá duyên sanh” của các pháp trong Kinh Hoa nghiêm, vạn pháp nương nhau mà tạo thành, nương nhau mà biến hoại trong hệ thống duyên khởi (Paticasamuppada) của hệ Nikàya mà Đức Phật đã lập đi lập lại không biết bao nhiêu lần trong suốt cuộc đời giảng dạy của Ngài. Đến đây chúng ta cũng có thể hiểu tại sao các nhà khoa học gia nổi tiếng của thế kỷ XX như Albert Einstein (1879 – 1955) đã tìm đến với Phật giáo và không ngớt lời ca ngợi đạo Phật như là một tôn giáo của khoa học trong thế kỷ XXI này: “Nếu có một Tôn giáo nào đương đầu với những nhu cầu khoa học hiện đại tân tiến, thì đó là Phật giáo” (If there is religion that would cope with modern scientific needs it would be Buddhism).

Trong khả năng có hạn, Thầy chỉ giới thiệu vài cách lý giải mang tính gợi ý, để người thực hiện essay của mình có thể phát huy tối đa về sức độc sáng trong nghiên cứu và hoàn thành một bài luận ăn chay liên hệ khá sâu sắc đến chủ đề Vũ trụ học trong Phật giáo. Bản thân Thầy cũng chưa hài lòng khi chưa có những con số thống kê, hoặc chưa giới thiệu sách nào cụ thể để độc giả có thêm tư liệu. Hy vọng bài luận của Phật tử Mỹ Hằng sẽ đem đến cho độc giả một nguồn cảm hứng thật sự, một bài essay có tính nghiên cứu cao có thể đóng góp vào học giới, và cũng là nền tảng để Phật tử Mỹ Hằng tiếp tục nghiên cứu rộng sâu hơn sau này.

Quý Thầy Cô trong Ban phụ trách hộp thư Phật học mến chúc Phật tử Mỹ Hằng luôn có tinh thần học hỏi như vậy, và dồi dào nghị lực để tiếp cận được giáo pháp cao siêu, nhiệm mầu của Đức Điều Ngự, làm đẹp cuộc đời cho mình và cho xã hội nhân sinh.

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết:

Các bài viết liên quan