CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !

Chân đế đích thực của việc xuất gia

Nói về việc xuất gia, mà xuất gia Chân Đế là để phân biệt với việc xuất gia Tục Đế. Mà xuất gia Chân Đế và xuất gia Tục Đế là sao? Chúng tôi tham cứu trong tạng luật Phật giáo thì thấy bộ Luật Đại Phẩm có dạy về việc xuất gia Chân Đế và Tục Đế như sau.

Trong Luật Đại Phẩm nói: Có tám hạng xuất gia:

1. Xuất gia của người dốt nát

2. Xuất gia của người hay giận

3. Xuất gia của người chơi giỡn

4. Xuất gia để nuôi sống

5. Xuất gia để cải thiện cuộc sống

6. Xuất gia của người thu gom tài sản

7. Xuất gia của người muốn thoát khổ

8 . Xuất gia do động tâm

Luật Đại Phẩm còn nêu ra vài lý do xuất gia khác như: xuất gia để tránh chiến trận, trốn lính, trốn tù tội, trốn khổ, trốn nợ,… Nhưng những lý do trên chỉ tạm thời và bất định. Nói chung, ý chính muốn nói ở đây là: “Thoát ra khỏi những bức bách trong cuộc sống nên xuất gia”. Trong tám hạng xuất gia, bậc xuất gia với ý muốn thoát khổ được gọi là bậc xuất gia chân chánh (khổ ở đây chỉ cho nỗi khổ Luân Hồi).

1. Xuất gia của người dốt nát: Là xuất gia của người không hiểu rõ mục đích của xuất gia là gì? Sự xuất gia này thường do gia tộc chọn cho. Như những bé trai được cha mẹ gởi vô chùa làm giới tử, khi đủ duyên lành được xuất gia thành Sa di. Bản thân vị Sa di ấy không hiểu rõ mục đích đi tu để làm gì? Có chăng chỉ là: “Đi tu cho có phước” thế thôi. Hay xuất gia để giữ chùa nhà theo kiểu cha truyền con nối.

2. Xuất gia của người hay giận: Đây là hạng người giận người nhà hoặc buồn phiền gia đình, buồn phiền tình cảm nên bỏ đi xuất gia.

3. Xuất gia của người chơi giỡn: Đây là hạng xuất gia không phải do mục đích tầm cầu sự giải thoát mà xuất gia với mục đích riêng nào đó và phẩm mạo xuất gia chỉ là hình thức hóa trang để che dấu hình tướng thật, như chạy trốn tội ác bị công quyền truy nã. Hạng người xuất gia chơi giỡn nầy họ xem nhẹ phẩm mạo của bậc xuất gia. Có lần, vua Pasenadi nước Kosola thú thật với Đức Phật rằng ông cho các trinh thám giả làm bậc xuất gia để trinh sát một nước làng giềng rồi trở về báo tin tức thu thập được. Sau đó, những người trinh thám này thọ dụng ngũ dục.

4. Xuất gia để nuôi sống: Có lần, Đức Ananda thấy một cậu bé mặc chiếc khố rách, cầm bát đi xin ăn, Ngài hỏi: “sao con sống lang thang như thế làm gì? Xuất gia chẳng là cao thượng hơn không?” “Bạch Ngài, ai sẽ cho con xuất gia?” “Ta sẽ cho con xuất gia”. Và cậu bé được xuất gia, lớn lên thọ giới Tỳ Khưu có tên là Pilotika (khố rách). Về sau, tự dạy tâm mình qua chiếc khố rách, Tỳ Khưu Pilotika chứng đạt thánh quả A-la-hán. Nhân đó, Đức Phật dạy rằng: “Thật khó tìm ở đời / Người biết thẹn tự chế / Biết né tránh chỉ trích / Như ngựa hiền tránh roi”. “Như ngựa hiền chạm roi / Hãy nhiệt tâm hăng hái / Với tín, giới, tinh tấn / Thiền định cùng trạch pháp / Minh hạnh đủ, chánh niệm / Đoạn khổ này vô lượng”. (PC. 143, 144)

5. Xuất gia để cải thiện cuộc sống: nghĩa là “Xuất gia để thoát ra khỏi những bức bách trong cuộc sống”.

6. Xuất gia của người thu gom tài sản: Đây là hạng người xuất gia tệ hại nhất.

7. Xuất gia của người muốn thoát khổ: Đây là hạng người xuất gia đáng tán thán, đáng kính trọng. Cho dù do nguyên nhân nào đi nữa khi xuất gia rồi hiểu rõ ý nghĩa xuất gia, tinh tấn hành đạo, vẫn trở thành bậc xuất gia tốt đẹp. Có những trường hợp động lực xuất gia là “muốn thoát khỏi sinh tử luân hồi nhưng nửa đoạn đường lại gẫy gánh trở về với đời sống thế tục thì cũng không tán thán lắm”.

8. Xuất gia do động tâm: Sự động tâm này phát sinh do thấy hoặc nghe. Bậc đại trí thì tiềm ẩn cơ duyên trong tâm. Khi gặp một sự kiện nào đó có liên quan đến bất ổn của đời sống, các ngài tìm cách thoát ra những hiểm họa đang chực chờ, và phương án các ngài chọn là “bỏ nhà, sống không nhà”. Có hai sự động tâm:

a). Động tâm do thấy: Chúng ta có thể tìm thấy mẩu mực này qua nhiều câu chuyện như: Tiền thân Đức Phật là Bồ-tát Makkhàdeva làm quan đại thần trong triều đại của một vị vua. Khi thấy sợi tóc bạc trên đầu, Ngài động tâm từ bỏ vương quyền, sống đời sống ly gia, tu tập tứ vô lượng tâm. Khi mệnh chung, Ngài sinh về phạm thiên giới. Như Bồ-tát Siddhattha nhìn thấy người già, người bệnh, người chết, Ngài chợt nghĩ đến hiểm họa này sẽ xảy đến cho mình trong tương lai. Bồ-tát muốn thoát ly hiểm họa ấy nhưng chưa định được phương hướng. Thế rối hình ảnh vị tu sĩ xuất hiện, Bồ-tát hỏi Xa phu Channa (Xa-nặc) và được Xa phu Channa giải thích “Đây là bậc lìa bỏ nhà, sống không nhà, là người đi tìm chân lý và giải thích những bí ẩn của đời sống”. Lời giải thích của Xa phu Channa như đánh thức và chỉ ra phương án tầm cầu pháp tối thượng. Và Đức Phật đã xác nhận sự tầm cầu tối thượng, thánh thiện qua hình thức xuất gia như sau: “Ở đây, này Aggivessana, trước khi Ta giác ngộ, chưa chứng Chánh Đẳng Giác, khi còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau: “Đời sống gia đình bị gò bó, con đường đầy những bụi đời. Đời sống xuất gia như sống giữa hư không”. Lại nữa, khi Bồ-tát thấy sự già, Ngài đã trừ diệt “Kiêu mạn về tuổi trẻ trong tâm”; thấy sự bịnh, Ngài đã trừ diệt “Kiêu mạn về sức khỏe trong tâm”; thấy sự chết, Ngài đã trừ diệt “Kiêu mạn về sự sống trong tâm”. Này các Tỳ Kheo, có ba kiêu hãnh. Thế nào là ba? “ Kiêu hãnh về tuổi trẻ, kiêu hãnh về không bịnh, kiêu hãnh về sự sống”. Trong bài kinh kiêu mạn và kinh được nuôi dưỡng tế nhị, Đức Phật mô tả, khi ngài còn là Bồ-tát, Ngài sống trong ba tòa lâu đài của ba mùa. Một cho mùa lạnh, một cho mùa nóng và một cho mùa mưa. Ngài được nuôi dưỡng chu đáo tế nhị trong ba tòa lâu đài ấy và Ngài suy nghĩ như sau: “Ta cũng bị già, không thể vượt qua thoát sự già, vì sao ta lại bực phiền, bất mãn, ghê tởm khi thấy người già?” Và sự kiêu hãnh của Bồ-tát được trừ diệt hoàn toàn. Vì sao Ngài có được những ý nghĩ ấy? Vì ngài đã thấy ba hiện tượng “già, bịnh, chết”.

b). Động tâm do nghe: Là nhờ nghe pháp, hiểu được bản chất mong manh của cuộc sống nên sinh khởi ý tưởng xuất gia. Thời Đức Phật, Thiện nam tử Ratthapàla khi nghe Đức Phật thuyết pháp, đã suy nghĩ: “Như ta hiểu được pháp do Đức Thế Tôn giảng, thì sống ở gia đình không dễ gì thực hành phạm hạnh hoàn toàn trong sạch như vỏ ốc trắng bóng. Vậy ta hãy cạo bỏ tóc râu, đắp áo cà sa, xuất gia bỏ nhà sống không nhà”. Sau khi xuất gia, Ngài Ratthapàla thành tựu quả vị A-la-hán. Ngài được Đức Thế Tôn ban cho địa vị tối thắng về hạnh “xuất gia do niềm tin. Trong các nguyên nhân xuất gia, xuất gia do động tâm là nguyên nhân tốt đẹp nhất, nó giúp ích bậc xuất gia rất nhiều trong đời sống tu tập.

Kinh vị Sát Đế Ly, Phật dạy phẩm sáu chi. Khattiyasutt Bà-la-môn Sànussoni có bạch hỏi Đức Phật: “Thưa tôn giả Gotama, đối với bậc Sa-môn, cái gì là quyết ý, cái gì là đặc biệt đến gần, cái gì là điểm tựa, cái gì là khuynh hướng, cái gì là thành tựu sau cùng”.

Đức Phật dạy rằng: “Này Bà-la-môn, đối với Sa-môn, nhẫn nại và nhu hòa là quyết ý, trí huệ là đặc biệt đến gần, giới hạnh là điểm tựa, không sở hữu là khuynh hướng, Niết-bàn giải thoát là thành tựu sau cùng”.

Có thể trước đó không phải vì những pháp này mà xuất gia, nhưng sau khi xuất gia lại thực hành những pháp này thì vẫn là bậc cao quí.

NGŨ CHỦNG TĂNG (trích trong Hiển Tông Luận)

1. Vô Sĩ Tăng: Những người hủy phạm cấm giới chẳng giữ chơn phong giải thoát của đạo quả vô thượng. Hình dạng tuy dự vào Tăng lưu mà hành vi làm theo thế tục. Đấy là thuộc về hạng Vô Sĩ Tăng.

2. Á Dương Tăng: Trong ba tạng Thánh giáo, không một mảy may hiểu biết, giống như con dê câm, không biết rành rẽ những phương tiện ứng dụng trong Phật pháp nên gọi là Á Dương Tăng.

3. Bằng Đảng Tăng: Tức là những người chỉ ưa dạo chơi du lịch, phí bỏ thì giờ quí báu, cả đời chỉ ưa tranh đua phải quấy hơn thua, toan tính âm mưu, kết phe lập đảng nên gọi là Bằng Đảng Tăng.

4. Thế Tục Tăng: Những người này tuy mang danh xuất gia nhưng thật là mờ mịt bổn phận xuất gia, luống sống qua ngày, ngơ ngơ qua thời, lòng chỉ ham ưa sung sướng, thân hay gây tạo duyên đời nên gọi là Thế Tục Tăng.

5. Thắng Nghĩa Tăng: Những bậc này thuộc về hàng hữu chí hữu tâm, trí huệ có dư, giới hạnh khẳm đủ, tài biện thuyết rành rẽ, không bị ngăn ngại, tùy cơ diễn nói, tiếp vật lợi sanh. Cuộc đời của bậc này thật là lòng gấm miệng hoa, xứng đáng là bậc khuôn vàng thước ngọc nên gọi là Thắng Nghĩa Tăng.

Mỗi con người chúng ta sanh ra đời đều có hai gia đình: Một là gia đình huyết thống; hai là gia đình Ngũ uẩn. Hai gia đình nầy giam cầm chúng sanh trong ngục tù, ái dục, mãi mãi ngàn đời trong luân hồi.

A. Gia đình huyết thống: Gia đình là nơi quan trọng của đời người. Từ lúc sanh cho đến lúc trưởng thành, dựng vợ gả chồng, thành một gia đình khác, thì “mái ấm gia đình” là nơi tiếp nối của đời sống; là cơ sở dưỡng thành quan niệm giá trị, điều hòa giữa thân và tâm của một con người; là đơn vị cơ bản cấu thành xã hội; cũng là lực lượng chủ yếu làm cho quốc gia xã tắc ổn định. Nhưng đối với sự tiến hóa của đạo giải thoát thì gia đình là sự trói buộc chúng sanh trong cõi đời nầy mãi mãi.

Long Thơ Tịnh Độ nói: “ Người sinh ở đời luôn luôn mê muội cố chấp nào cha mẹ, vợ con, nhà cửa, ruộng vườn, cơ xưởng, cho đến áo quần thân thể đều là của mình. Kho lẫm đã đầy vẫn chưa đủ, vàng bạc gấm vóc đã nhiều vẫn còn muốn thêm… Nhưng khi vô thường đến, tất cả bỏ lại cho đời, thân nầy không giữ được, huống gì vật ở ngoài thân”.

Trong kinh Tứ Thập Nhị Chương, Đức Phật dạy: “Con người ái luyến ràng buộc vào vợ con, nhà cửa thì còn hơn lao ngục. Lao ngục còn có kỳ hạn phóng thích, còn đối với vợ con không có ý xa rời. Khi đã luyến sắc dục thì đâu ngại gì theo đuổi. Dù gặp tai họa nơi miệng cọp lòng vẫn cam chịu. Tự đắm mình nơi chốn bùn lầy gọi là kẻ phàm phu, vượt thoát cửa ấy là bậc A-la-hán”.

“Đức Phật muốn hết thảy chúng sanh xả chấp mà thấy được con đường vào giác ngộ, mau nên chánh giác. Nhưng chúng sanh bản tâm mê muội, cố chấp vào cái thân thể vật chất của mình mà bỏ gốc tìm ngọn, chẳng thức tỉnh, hiểu biết, mê muội, cái nguyên nhân chính lăn lộn chìm đắm trong 6 đường sống chết như bầy kiến chạy quanh đến bao giờ mới giải thoát”.

Trong kinh Tâm Địa Quán, Phật dạy bảo Bồ-tát Trí Quang: “Nhà thế gian ví như bể cả dung nhận mọi dòng sông, vẫn không đầy đủ; tâm tham cầu, tích tụ của chúng sanh cũng thế. Nhà thế gian cũng như đá lửa, chỉ một chút lửa đốt cháy hết thảy; tâm tham cầu, không tri túc của chúng sanh, sinh lửa phiền não, đốt cháy thiện công đức. Nhà thế gian như kho báu hang sâu, người ham của thiệt mạng; chúng sanh ở đời không gắng tu thiện căn, vô thường vụt đến, tùy nghiệp chịu báo, chôn mất hết cả. Nhà thế gian như món ngon lẫn độc, cấp thời cứu chữa; chúng sanh nhận thấy thân quyến đắm chìm trong sanh tử, vội phát tâm đồng thể đại bi, cầu Bồ đề cứu độ. Nhà thế gian như gió lớn, thổi mãi không ngừng; vọng tưởng điên đảo của chúng sanh, gây nhân, cảm quả trong năm đường không dứt,chỉ có tu tập “Vô tướng chính quán” mới diệt trừ được. Nhà thế gian là chỗ sinh ra phiền não, chúng sanh do “chấp ngã, ngã sở” sinh ra phiền não đau khổ “Thân là gốc khổ”. Nhà thế gian như ông Trưởng giả trong một nước lớn, có nhiều của báu lửa cháy tiêu tan, chúng sanh mê muội không theo làm thiện, tạo nhiều nghiệp ác, phải sa đọa chịu nhiều khổ não. Nhà thế gian ví như đại mộng. Trong sanh tử hữu vi, chưa được phận vị chân giác, chỉ là ở trong chiêm bao hư vọng của sinh, lão, bệnh, tử. Nhà thế gian như qua bể Tẫn Mã cầu mong khỏi cháy, chúng sanh trong nhà lửa thân cận chư Phật, bạn lành sẽ được tới chốn thanh lương”. (Bể Tẩn Mã: Tên của một cửa bể xưa. Theo ngài Thái Hư thời xưa thì bể này thuộc Hồng Hải, là hải đảo từ Viễn Đông qua châu Phi sang châu Âu).

Trong kinh Xuất Gia Công Đức, Phật dạy: “Này Anan, nếu ông bỏ trăm năm để hỏi Như Lai về nghĩa công đức của người xuất gia và người hộ trì xuất gia, vấn đề này Như Lai phải dùng trí huệ vô tận (trừ khi thọ thực) suốt trăm năm ròng rã thuyết minh về công đức này cũng chưa hết”.

“Này Anan, nếu có người theo pháp Sa-môn xuất gia và có người giúp đỡ phương tiện cho người xuất gia, dù người giúp đỡ phương tiện kia chưa xuất gia nhưng họ ở trong thế gian này, họ thường lãnh thọ an lạc rất lớn. Lại nữa, nếu có người ở các phương khác xuất gia thanh tịnh giới luật trăm năm nhưng nếu có kẻ ở cõi diêm phù nầy phát tâm xuất gia thanh tịnh giới pháp chỉ trong một ngày đêm thì công đức so với người cõi kia không bằng 1 phần 16 công đức”. Qua phần dẫn chứng trên cho thấy xuất gia là điều kiện, là phương tiện, là pháp duyên thù thắng đưa hành giả đến giải thoát khổ đau.

CHÍN SỰ CỐ CHẤP

Chín điều cố chấp nầy là chín điều phiền não hệ lụy tinh thần, trói buộc chúng sanh trong đường sanh tử. Vì nó khiến cho chúng sanh gây nhiều tội lỗi, gọi là Cửu Kiết.

1 - Tham chấp, Ái kiết: Sự ái luyến, sự say đắm Ngũ dục, làm cho con người thành cố chấp, không thấy lẽ vô thường, sanh tử, để thoát ly

2 - Sân chấp, Nhuế kiết: Sự oán hận, thù hằn, giận dữ, làm cho người thành cố chấp.

3 - Si chấp, Vô minh kiết: Sự ngu dốt , ngu si mờ tối, u ám đối với lẽ chánh, làm cho người thành cố chấp.

4 - Mạn chấp, Mạn kiết: Sự kêu căng, ngã mạn, làm cho con người u tối, thành ra làm cho người cố chấp.

5 - Kiến chấp, Kiến kết: Tà kiến không tin nhân quả, làm cho con người ngu tối cố chấp.

6 - Thủ chấp, Thủ kiết: Cố chấp sự hiểu biết không chân chính, và giới pháp sai lầm, làm cho người thành cố chấp.

7 - Nghi chấp, Nghi kiết: Do sự không tin chân lý, không tu hành theo hạnh chân chánh.

8 - Tật chấp, Tật kiết: Ghen ghét những ai hơn mình, ghen ghét những bậc hiền đức.

9 - Xan chấp, Xan kiết: Keo lẫn không bố thí từ thiện, làm cho người thành cố chấp làm nhiều điều ác. Chín điều nầy ràng buộc, trói chặt chúng sanh trong đường sanh tử. Vì nó khiến chúng sanh gây nhiều tội lỗi.

Không nghĩ tới sự chết.

“Ta cứ ngỡ trần gian là cõi thật

Thế cho nên mới tất bật suốt đời.

Nào ngờ đâu trần gian là cõi tạm.

Danh lợi tình, nó giam hãm suốt đời ta”.

B. Gia đình Ngũ uẩn.

Trí Huy Thiền sư dạy:

“Ta có một căn nhà

Xây lợp bởi mẹ cha

Tám mươi năm lui tới

Gần đây rõ sắp hoại

Sớm liệu dời nơi khác

Nào có chuyện ghét thương

Đợi lúc kia sập nát

Đây kia không ngăn ngại”.

- Chết là một cuộc dời nhà: Con người mới sanh ra đời cũng như một người dọn qua căn nhà mới. Tài sản gồm những đồ vật bên nhà cũ mang sang. Giàu sang hay nghèo hèn chỉ có bấy nhiêu. Nay người nầy phải tự lực tạo dựng làm cho tốt đẹp thêm lên, hay tệ hại hơn là do ở hiện tại nầy. Nếu chỉ lo ăn chơi, tiêu dùng chẳng chịu khó làm lụng cho có thêm những thứ tốt ắt sẽ có ngày khánh kiệt. Căn mệnh của con người cũng như vậy. Tài sản, mang theo qua kiếp sống mới nầy là toàn bộ nghiệp quả trong tiền kiếp. Không ai làm gì khác được, cái thực tại là như vậy. Sanh ra trong gia cảnh giàu sang hay nghèo khổ, bẩm chất thông minh hay khù khờ, đã có ngay trước mắt. Thọ mạng hay yểu mạng cũng thể hiện rõ ràng. Vì thế, người phương Đông thường mời những bậc minh triết đến xem căn số cho đứa trẻ vừa sanh ra đời. Chẳng khác gì người dọn căn nhà mới là tự khắc biết thực chất người đó giàu hay nghèo vậy.

- Dù bẩm sinh thọ mạng có dài lâu nhưng không biết bồi đắp thêm mà lại phung phí qua các việc xấu ác, tâm hồn luôn luôn bị tình tiền, danh lợi, sân hận, oán thù thôi thúc, thì thọ mạng cũng chuyển thành yểu mạng. Phung phí sức lực như củi đốt lò tham dục, hết củi rồi thì lò cũng bỏ đi. Nếu chẳng có luân hồi, nếu chẳng có kiếp sau thì con người hiện tại dù có khổ đau gì đi nữa khi chết là hết, chẳng có chuyện gì phải lo nữa, Đức Phật không phải nhọc công dạy đạo tu hành chi cho mệt nhọc suốt 45 năm. Nếu chẳng có gì sau cái chết thì Phật nhọc lòng chi mà giảng dạy cực khổ cho chúng sanh giác ngộ? Chỉ cần một chút suy nghĩ là ta thấy rõ Đức Phật từ bỏ ngai vàng và độ La Hầu La, đứa con duy nhất của mình, rời bỏ ngai vàng điện ngọc, theo mình xuất gia. Không thật có luân hồi sanh tử, tái sanh, nhân quả báo ứng khốn khổ như vậy thì không ai ngu dại để con mình rời bỏ ngai vàng điện ngọc, gấm nhung bao phủ cuộc đời, để sống một đời sống người khất sĩ dưới cội cây, bữa đói bữa no, sương gió, ấm lạnh tình đời.

Trong kinh Tâm Địa Quán, Phật dạy: Thân năm uẩn của chúng sanh trong thế gian như căn nhà, tâm thức của chúng sanh là chủ nhà. Người trí tuệ không ai lại thích cái gia đình hữu vi ấy. Chúng sanh nhận thấy thân quyến đắm chìm trong sanh tử, vội phát tâm đồng thể đại bi, cầu Bồ đề cứu độ”. Và Đức phật liền nói kệ:

Bồ-tát xuất gia hơn tại gia

Tính toán thí dụ không sánh kịp

Tại gia bức bách như lao ngục

Muốn cầu giải thoát rất là khổ

Xuất gia thư thái hư không

Tự tại vô vi khỏi ràng buộc

Tịnh tín nam nữ những mai sau

Muốn độ cha mẹ và quyến thuộc

Được vào thành cam lồ vô vi

Mong cầu xuất gia tu diệu đạo

Tu học dần dần thành chánh giác

Sẽ chuyển vô thượng đại pháp luân.

Thiền sư Viên Chiếu chùa Cát Tường (kinh đô Thăng Long). Sư họ Mai tên Trực, người Long Đàm, Phúc Đường là con anh bà Thái hậu Linh Cảm nhà Lý. Vào một ngày tháng 9 năm Canh Ngọ, Quảng Hựu thứ sáu (1090), Sư không bệnh, gọi chúng đến dạy: “Trong thân ta đây, thịt xương gân mạch, bốn đại tạm hợp, đều có vô thường, ví như ngôi nhà khi đổ thì cột kèo đều rơi, nay ta cùng các con giã từ, hãy nghe bài kệ của ta:

Thân như tường vách đổ xiêu rồi

Thiên hạ bồn chồn xót dạ thôi

Nếu rõ tâm không, không sắc tướng

Sắc không ẩn hiện mặc xoay dời”.

***

Giả tá tứ đại, dĩ vi thân

(Tạm mượn bốn chất là thân) và

Tứ đại vi không thức trụ kỳ trung.

(Bốn chất hợp lại bên trong trống rỗng, thức nằm ở đấy)

***

Tổ sư Minh Đăng Quang dạy về Thân như sau:

THÂN

“Thân này chưa biết ra chi,

Của kia lại có chắc gì mà ham?

Bao nhiêu cho thỏa lòng tham,

Càng thâu càng đắm, càng làm càng say.

Tiếc cho tháng rộng năm dài,

Chung qui hoang phí về tay thần tiền.

Được thua, thua được liền liền,

Hả hê mới đó ưu phiền đâu đây.

Đem thân làm kẻ tội đày,

Cho bao vật chất nó cai trị mình.

Để tâm làm vật hy sinh,

Suốt đời theo lịnh dục tình dắt lôi.

Cái tham bao thuở cho rồi

Cái không may đến một hồi là xong.

Dã tràng xe cát biển Đông.

Vô tình lượn sóng cướp công nhọc nhằn.

Tuồng đời ai biết cho chăng?

Như mây tan hiệp, như trăng khuyết tròn

Đêm tàn tim lụn, dầu mòn,

Cái đi mờ mịt, cái còn mỏng manh.

Chắc chi bọt nước đầu gành,

Chắc chi sương đọng trên cành ban mai.

Bọt kia làn gió nhẹ lay,

Sương kia mặt nhựt chiếu ngay xong đời

Mênh mông trong khoảng đất trời

Thân ta biết gởi về nơi chốn nào?

Tử thần tay dắt làm sao?

Gần xa mấy nẻo, thấp cao mấy từng?

Vả như phước thưởng, tội trừng?

Biết công hay nợ, biết mừng hay lo?

Thử theo công hóa mà so,

Tội dồn muôn kiếp biết to thế nào?

Phước gom nghĩ được là bao,

Nếu đem trừ cấn biết sao thiếu thừa?

Dặc dài kiếp cũ, căn xưa,

Biết bao oan nợ mà chưa trả đền?

Tiền cừu, hậu hận há quên,

Một bên đi trả, một bên đến đòi.

Lung tung trong cạm luân hồi,

Day qua trở lại biết đời nào ra?

Mấy ai suy kỹ nghĩ xa,

Rảo chân sấn bước cho qua khoản này,

Chán chê mộng cảnh đọa đày,

Đưa tay trí tuệ thâu dây dục tình.

Đoạn trừ cái hoặc vô minh,

Tâm chơn trở lại, tánh linh đem về.

Gieo lan hột giống Bồ đề,

Xinh tươi nhành lá, xum xuê cội tàng.

Nước dương rưới khắp trần hoàn,

Diệt trừ phiền não, tiêu tan tội tình

Gay chèo thuyền giác độ sinh,

Bến mê phút chốc biến thành ao sen.

Khi Bồ-tát Sĩ Đạt Ta thành Phật, Ngài thấy rõ nguyên nhân sanh tử luân hồi của Ngài và chúng sanh. Ngài liền thốt lên bài kệ chứng đạo như sau:

Lang thang bao kiếp sống

Ta tìm nhưng chẳng gặp,

Người xây dựng nhà này,

Khổ thay phải tái sanh.

Ôi! Người làm nhà kia (tham ái)

Nay ta đã thấy ngươi!

Người không làm nhà nữa.

Đòn tay (thân) ngươi bị gãy,

Kèo cột (phiền não) ngươi bị tan

Tâm ta đạt tịch diệt,

Tham ái thảy tiêu vong.

(Kinh Pháp Cú, kệ 153,154)

Khi Phật dạy về Khổ Thánh Đế, Ngài nói đến năm uẩn; Ngài muốn cho chúng ta biết và thấy năm uẩn. Thế giới loài người của chúng ta là sự hiện hữu của năm uẩn, trừ phi chúng ta biết và thấy được năm uẩn này, bằng không chúng ta không thể hiểu rõ lời dạy của đức Phật.

Có đến 5 loại Ngũ uẩn sanh ra:

1 - Ngũ uẩn nhập thai: Con người sau khi chết, nhục thể đã chết, linh hồn xuất ra, gọi là trung ấm (lấy nghiệp làm chủ), kỳ hạn có 7 ngày. Trong kỳ hạn 7 ngày ấy, phiêu bạt mênh mang, chuyển nhập vào một đường trong các đường người, quỷ, súc sanh. Tuy nhiên kỳ hạn cũng có thể kéo dài, nhưng chỉ tối đa không quá 49 ngày. Trung ấm đầu sanh chín mùi, thấy nam nữ giao hợp, khởi một tâm ái dục. Ái dục làm nhân, yêu thích thân mạng làm quả. Nhân là xem thấy giao hợp, quả là nhập thai. Tâm dục nặng thì thành nữ, nhẹ thì thành nam (theo kinh Đại Bát Niết Bàn). Lấy Ngũ uẩn mà nói thì thấy nam nữ giao hợp là sắc, thấy giao hợp liền in ấn vào não cân là thọ, khởi tâm ái dục là tưởng, nghĩ muốn gia nhập là hành, nhập vào thai là thức.

Cổ Đức dạy:

Vừa thoát thai lại nhập thai

Thánh nhơn trông thấy lại bi ai

Huyễn thân xét thấy toàn nhơ nhớp

Tránh phá mau về tánh bản lai.

2- Ngũ uẩn trụ thai: Người tại thai mẹ, ở trong bụng thành hình cũng có Ngũ uẩn. Thai ở trong bụng cùng với ở nhà không khác nhau. Ví như thai tưởng tượng ăn đồ vật là sắc, trong tâm in ấn thêm là thọ, thích là tưởng, được đến là hành, ăn là thức. Phàm người nữ sau khi có thai, tưởng ăn các vật phẩm, phần nhiều chẳng phải là các món mình ham thích xưa kia, hoặc sau khi có thai ăn hơi nhiều, đó tức là Ngũ uẩn nhập vào thai mà khiến cho như thế (tức cái thai ăn vậy).

3- Ngũ uẩn xuất thai: Người sau khi ra khỏi thai cũng có Ngũ uẩn. Ví như thấy được một sự vật là sắc, in ấn trong não là thọ, cần mua là tưởng, đi mua là hành, mua đủ là thức.

4- Ngũ uẩn trụ thế: Bước đường trải qua thuở thơ ấu của con người in ấn giấu trong não, hiện tại hồi tưởng trở lại là Ngũ uẩn từ bên trong xuất ra, sự việc hiện tại in dấu ở trong não là Ngũ uẩn từ cảnh giới bên ngoài đến, đều là Ngũ uẩn trụ thế. Nằm mộng là ban đêm phát hiện Ngũ uẩn ban ngày, trong ấy có mộng thấy ngâm thơ làm văn, cưỡi trên không, vượt qua vách, đó đều là Ngũ uẩn đời đã qua tiềm ẩn ở bên trong não mà lúc nào đó vọt ra vậy.

5- Ngũ uẩn sanh ra đã có: Tức mà cái mà Ngạn ngữ cho rằng: “Núi sông dễ biến đổi, bên trong tánh nết khó chuyển dời vậy”. Cái này cũng là Ngũ uẩn, đời đã qua nán lại ở bên trong mà sanh ra tính tình kỳ quặc vậy. Như vậy Ngũ uẩn là Thân xác và Tâm thức của con người. Ngũ uẩn tiếng phạn là Parĩca Skandha, tức là Sắc uẩn, Thọ uẩn, Tưởng uẩn, Hành uẩn và Thức uẩn. Uẩn nghĩa là sự tụ tập, tích tập, nhóm hợp theo từng loại. Cùng với tính chất giống nhau, nhóm lại một nhóm gọi là Uẩn. Ngũ uẩn còn dịch là Ấm, dịch Ấm là dịch ý, tức lấy tính cách của năm uẫn mà dịch. Năm thứ đó nó ngăn che làm cho người ta không đạt được thực tánh bình đẳng của vạn pháp, cho nên dịch là Ấm. Như vậy Ấm có nghĩa là che, ngăn lại, làm cho tối đi, mù đi nên dịch là Ấm.

Một trường hợp khác, trong kinh Nikaya, chữ Ngũ uẩn còn có một giải thích khác. Một là Trọng đởm (là cái gánh nặng), hai là Sanh y, cả hai từ đó đều chỉ cho Ngũ uẩn. Như vậy, nhóm từ Ngũ uẩn là từ của Hán tạng, còn Nikaya dịch là Trọng đởm, là Sanh y.

Ngũ uẩn cũng gọi là Sanh y. Chữ Sanh y trong Pali nói tức là năm uẩn, là cái căn cứ cho một đời sống khác, là chỗ y cứ cho một cuộc đời, cho một sự sống, nên gọi là Sanh y. Đó là một chữ mới mà kinh Nikaya đã nói Sanh y, tức chỉ cho năm uẩn, chính năm uẩn này làm căn bản cho đời sống khác.

- Ý nghĩa cụm từ “Gánh nặng” được giải thích trong kinh Tương Ưng Bộ tập 3 như sau:

Năm uẩn là gánh nặng,

Kẻ gánh nặng là người,

Cầm lấy gánh nặng lên,

Chính là khổ ở đời.

Còn đặt gánh nặng xuống,

Tức là lạc không khổ,

Gánh nặng đặt xuống xong,

Không mang thêm gánh khác,

Nếu nhổ khát Ái lên,

Tận cùng đến gốc rễ,

Không còn đói và khát,

Được giải thoát tịnh lạc”.

Toàn bộ bài kệ trên nói Ngũ uẩn chính là gánh nặng, cho nên những ai chưa bỏ được gánh nặng xuống thì chưa được thành A-la-hán. Trong kinh Nikaya định nghĩa A-la-hán như sau: “Việc cần làm đã làm xong, đã bỏ gánh nặng xuống, Phạm hạnh đã lập, không còn tái sanh nữa”, gọi là A-la-hán.

Con người chúng ta là Ngũ uẩn, tập hợp của năm thành tố:

- Sắc chỉ cho xác thân và sáu giác quan là Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân và Ý.

- Thọ là các cảm xúc, cảm nhận, cảm giác, là sự thọ lãnh và nhận biết khổ não, vui buồn, mừng, giận, do nhân duyên hòa hợp mà sanh ra. Vì lệ thuộc cảm xúc, con người thích ăn ngon, mặc đẹp, ham giàu sang, do đó đua chen, tự tạo phiền não và gây nghiệp (khi tiếp xúc với các sự vật, đối tượng).

- Tưởng thuộc tri giác, là sự nhận biết những cảm giác của giác quan ở mức cao hơn và đầy đủ hơn, vì tri giác gồm khả năng phân biệt các hiện tượng màu sắc và hình thể vật chất của sự vật hiện tại và những cái đã nhận biết trong quá khứ để so sánh và suy tưởng. Ví dụ như: Mắt thấy một vật, tâm bèn nghĩ đến những vật cùng loại đã thấy trước đó để so sánh. Mũi ngửi được mùi, tâm tưởng đến những mùi đã ngửi và biết trước đó để so sánh, đối chiếu.

- Hành là sự hoạt động của tâm lý con người trong giai đoạn cảm tính của tri giác xen lẫn với cảm xúc của giác quan. Hai thứ ấy đồng bị tác động khi tiếp xúc với sự việc hay sự việc bên ngoài. Do sự chuyển động của tâm lý mà nảy sinh lòng ưa thích, ham muốn, chê khen, ghét giận, mà nghĩ ra điều lành hay điều ác, và do đó tạo nên nghiệp quả. Hành được xem là bước khởi đầu của một ý định, một chủ tâm, một dự mưu, có thể dẫn tới một hành động của thân, miệng, ý. Hành bao gồm tất cả các chủ quan trước khi một hành động được tiến hành. Vì vậy, không có hành thì không có nghiệp.

- Thức là ý thức, là khả năng nhận biết và phân biệt sự vật do hoạt động của tâm lý sau khi giác quan tiếp xúc với đối tượng thì thức sanh ra. Con người là duyên khởi, cụ thể là tập hợp của ngũ uẩn. Con người sở dĩ tự nhận mình có ngã là do thói quen từ vô thỉ, thói quen chấp trước, phân biệt, cho rằng cái tập hợp ngũ uẩn là ngã.

Soi Thấy Ngũ Uẩn Đều Không

Trên thế giới, tất cả mọi sự nghiệp thiện ác đều phải kinh qua quá trình của ngũ uẩn mà hoàn thành. Tất cả thân tâm, tánh mạng, phiền não, hoan lạc đều phải kinh qua quá trình của 5 thứ nầy mà thành tựu, cho nên phàm phu ngộ nhận cho là tự nơi “Tâm”. Kỳ thực, ngũ uẩn lấy vọng tâm vô minh, lấy ba độc mười nghiệp làm dụng, lấy ba đời và sáu nẻo làm nương gá phát huy qua lại, tạo nghiệt (tạo oán), tác phước (tạo phước) lưu chuyển trong sanh tử không có kỳ hạn liễu thoát. Vì vậy, kinh Hoa Nghiêm nói:

Tất cả cõi chúng sanh

Đều ở trong ba đời

Ba đời các chúng sanh

Tất trụ trong ngũ uẩn

Các uẩn nghiệp là gốc

Các nghiệp tâm là gốc.

Tâm Kinh Bát-nhã dạy: “Quán Tự Tại Bồ-tát, hành thâm Bát-nhã Ba-la-mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách”. Quán tự tại là nơi pháp không thủ, không xả, nơi căn trần cảnh thức không chướng, không ngại, được đại tự tại vậy.

Thiền sư Tư Không Bổn Tịnh có bài kệ rằng:

Kiến văn giác tri không chướng ngại

Thanh, hương, xúc thường tam muội

Như chim trên không bay vậy thôi

Không thủ, không xả, thương ghét ai

Nếu biết ứng xử vốn vô tâm

Thì mới đáng gọi Quán tự tại.

Bát-nhã có 3 loại:

1- Văn tự hay Phương tiện Bát-nhã

2- Quán chiếu Bát-nhã

3- Thực tướng Bát-nhã

Văn tự hay Phương tiện Bát-nhã là Dụng. Quán chiếu là Trí, Thực tướng là Thể. Thể là Phật tánh tức là Pháp thân, Trí là tư tưởng tức là báo thân của kiến văn giác tri. Dụng là lục căn (tức là ứng thân của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý ). Duy chỉ có chứng được thực tướng Bát-nhã mới gọi là “hành thâm Bát-nhã ” thời soi thấy ngũ uẩn giai không rỗng lặng, cùng với bản thể của Phật tánh không khác nhau. Ngũ uẩn đã không thì hết thảy mọi khổ ách không đợi diệt mà tự diệt vậy. Lúc chúng sanh chưa chứng Thực tướng, Bát-nhã, Pháp thân, Phật tánh thì tất cả đều do Vô thủy, Vô minh, Ngũ uẫn làm chủ, cho nên phiêu bạt lưu chuyển ở trong sanh tử; như thuyền nhỏ mỏng manh mất bánh lái, trồi hụp trên lớp sóng kinh hoàng, nhào lộn nơi đợt mồi dữ dội, điên đảo lưu chuyển, không biết làm thế nào kiềm giữ ngay lại, tự mình mảy may làm chủ không được. Lúc chúng sanh đã thấy Phật tánh thì lên bờ bên kia an toàn, không có sợ hãi, không có vướng ngại, an nhàn tự tại, tất cả hiện thành; quay lại nhìn về chỗ sóng to mồi dữ trước kia lúc lưu chuyển trong sanh tử giống như là giấc mộng vậy. Nói sau khi hiển thị Phật tánh thì giác chiếu trùm khắp viên mãn, bản thể của ngũ uẩn tức trở thành bản thể của chân như. Còn cái “Không” ấy là hư rỗng, là tướng hư vọng không chân thực của ngũ uẩn mà thôi. Diệu lý của tự tánh vốn từ xưa đến nay không thể là hư rỗng.

Cổ Đức có bài kệ rằng:

Từ si mê phải diệt sắc tướng

Đại viên kính trí được hiển hiện

Thọ uẩn tiêu diệt, ngã mạn không

Bình đẳng tánh trí khắp dung thông

Cần trừ sân nghiệp, diệt tưởng uẩn

Diệu quán sát trí không dấu ma

Hành uẩn tiêu diệt, ghen ghét trừ

Thành sở tác trí khởi đại dụng

Thức uẩn tiêu diệt, tâm sân trừ

Pháp giới thể tánh, trí trùm khắp.

Đức Phật đã nói nhiều đến Ngũ uẩn. Nhưng Ngài nói để làm gì, có ích lợi gì mà Ngài nói, sao Ngài không nói cái gì khác? Ngài thuyết ngũ uẩn là vì thương chúng sanh, muốn diệt trừ sự đau khổ cho chúng sanh. Tại sao Phật không đau khổ mà chúng sanh đau khổ? Vì tham Ái nên chúng sanh đau khổ. Vì chấp thủ nên chúng sanh đau khổ. Thế vì sao lại chấp Thủ? Vì sao mà có tham Ái? Là vì chấp có cái Ta cho nên sinh tham Ái. Nếu không có cái Ta thì tham Ái sẽ không có mặt. Cho nên Phật thuyết pháp là căn cứ nơi hiện thực, chỉ rõ hiện thực tính đó, để cho chúng sanh thấy, vì chúng sanh hay chấp ngã. Nhưng chấp cái gì làm ngã? Chấp Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức làm ngã. Nếu không có Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức thì không có chúng sanh, không có con người. Vì vậy, không có Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức thì cũng không được.

Nói tóm lại, không có Sắc, Thọ, Tưởng Hành, Thức thì không thành một chúng sanh. Khi có Sắc là mắt, tai, mũi, lưỡi mà không biết khổ vui; như đụng không biết đau; cho ăn không biết mừng; quạt không biết mát thì có ra con người không? Vì vậy phải có “Thọ” mới ra con người. Nhưng nếu chỉ có thọ không thôi, thì có thành con người không? Vì vậy phải có “Tưởng”. Tưởng cái nọ qua cái kia, so sánh đủ thứ; như so sánh cái nầy là khổ, cái kia là vui cho nên mới có “Tưởng”. Khi đã có “Tưởng” không thôi, ví dụ như tưởng mình có thỏi vàng, mình đi xe hơi, máy bay, đủ thứ… nhưng chỉ tưởng và ngồi một chỗ thì không thành vấn đề. Nếu mà hành động, như lấy trộm của người mới có tội, còn không thì thôi, vì vậy nên có “Hành”. Do đó, nếu thiếu “Hành” cũng không thành con người. Nhưng tất cả Sắc, Thọ, Tưởng, Hành phải y cứ vào đâu? Phải y cứ vào nơi “Thức”. Như vậy, “Thức” là nhân tố cần yếu, cùng với Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, cấu thành con người, thành ra con người là một giả tướng của năm uẩn. Thế nhưng, từ năm uẩn đó kết hợp lại được thành con người được là vì có Vô minh. Do không hiểu rõ năm uẩn là sự kết hợp lại thành một cái giả tướng, cứ lầm tưởng mà chấp đó là một cái ngã hay một cái ta, chính vì khư khư theo cái ngã đó cho nên cứ tham Ái, cứ chấp Thủ, và cứ thế Ái, Thủ, Hữu… như vậy mà tiếp tục mãi trong vòng sanh tử luân hồi. Muốn phá trừ gốc rễ của sự luân hồi ấy, Phật dạy chúng ta phải đoạn gốc rễ chấp ngã. Nhưng gốc rễ chấp ngã trong mỗi chúng sanh nó bám chặt vào Ngũ uẩn mà chấp thủ. Nó chấp thủ nơi Sắc thân làm ta, chấp thủ nơi Thọ làm ta, chấp thủ nơi Tưởng là ta… như vậy cứ dựa vào năm thứ đó mà chấp ngã. Năm thứ đó không phải là ngã mà chấp là ngã tức là Vô minh, là gốc của đau khổ. Phật muốn nhổ cái gốc đau khổ (chính là cái Ta) đó bằng cách chỉ cho chúng ta thấy rõ là trong Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức không có cái ngã nào trong đó cả. Do vậy, Phật thuyết giảng lý vô ngã. Và Phật cũng chỉ cho thấy có hai pháp mà Phật căn cứ vào đó để chỉ lý vô ngã rõ nhất, đó chính là Thập nhị nhân duyên và Ngũ uẩn. Khi Phật lấy lý Nhân duyên để nói con người chẳng có gì khác, là do các duyên hợp lại mà thành và mười hai nhân duyên đó chẳng có cái gì là Ta cả. Có khi Ngài nói Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức kết hợp lại thành con người, nhưng Ngài nói Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức đó chẳng có cái gì là Ta hết. Thành thử muốn nhổ cái gốc vô minh đau khổ cho chúng sanh thì Ngài chỉ phải nhổ tận gốc chấp ngã với hai phương pháp Thập nhị nhân duyên và Ngũ uẩn là vậy!

- Xưa có một vị Tổ sư bị té què chân, cho nên đi đứng nằm ngồi đều bị chướng ngại, khổ sở vô cùng, nhất là phải di chuyển để tụng kinh, hành thiền. Mọi sự sinh hoạt đều bị lệ thuộc vào cái chân què, và làm gì cũng đi sau người ta cả. Nhưng đến khi phải chuẩn bị cho ngày thị tịch, Ngài muốn ngồi kiết già nhập Thiền mà đi luôn. Nhưng cái chân què có chịu theo ý Ngài đâu! Nó làm trở ngại Ngài hoài, như người qua sông phải luỵ đò nên Ngài đành phải chìu nó. Một hôm, Ngài quyết định muốn nhập diệt, vừa mới đưa cái chân lên, chân đau quá, Ngài quyết tâm lấy tay nắm cái chân què lên và nhủ thầm: “Mấy lâu nay Ta theo mi, chìu mi đủ thứ, nay mi phải dứt khoát theo ta”. Khi ấy, Ngài không kể đau đớn gì cả, cố bắt chân ngồi kiết già, thế là nó phải theo và ngồi yên.

- Nếu chúng ta có một sự tự tại đối với Sắc, đối với Thọ, đối với Tưởng, đối với Hành, đối với Thức thì chúng ta mới giải thoát được. Phật dạy, người tu phải biết quán vô thường, vô ngã, nhưng đồng thời cũng phải biết nương theo cái thân này để vượt qua bờ bên kia, cũng như thấy xác chết ở giữa biển cả mênh mông, mừng quá chụp lấy để đáng lẽ nương nó đưa vào, đàng này lại cứ ham lo tô điểm cho xác chết, không chịu vào bờ. Người khôn phải biết nương thân Ngũ uẩn như nương thây chết nổi trên biển cả để làm phương tiện vào bờ, nhưng không lụy vào nó, mà cũng đừng ruồng rẫy nó, vì không có nó không được.

Trong kinh Bách Dụ số 60, Phật dạy: “Thuở xưa có một chàng ngốc đi dạo đến một con sông lớn. Anh chợt thấy lấp loáng ánh sáng gì trong nước tựa như vàng. Anh ta hét lên: “Có vàng!” Rồi nhảy tùm xuống nước, khuấy bùn lên để tìm. Kiếm một hồi mệt nhoài nhưng chẳng được gì, anh ta leo lên bờ ngồi nghỉ mệt. Đợi đến lúc bùn lắng, nước trong, chàng ta lại thấy sắc vàng hiện lên nên lại lặn xuống khuấy bùn để tìm nhưng cũng không tìm được gì. Lúc đó, người cha đi tìm con. Đến bờ sông, gặp anh ta, ông liền hỏi: “Con làm gì mà sao vẻ mệt nhọc thế?” Anh ta thưa với cha:Trong nước có vàng nên nãy giờ con lặn xuống khuấy bùn để tìm. Tìm kiếm đã mệt nhoài nhưng vẫn không được gì”. Người cha nhìn bóng vàng trong nước, đoán biết có vàng ở trên cây nên bóng của nó mới hiện xuống dòng nước. Ông liền bảo:Chắc hẳn có con chim nào ngậm vàng rồi để lại trên tàng cây kia”. Người con theo lời cha, leo lên cây tìm, quả nhiên nhặt được vàng.

Chuyện nầy tỉ dụ: Kẻ phàm phu ám muội Vô trí, cũng như trên Thân năm ấm là vô thường, vô ngã lại lầm tưởng là ngã thân. Như người trông bóng vàng trong nước, tưởng là vàng thật, lao khổ phí sức tham cầu, chẳng nên công. Kẻ phàm phu đều ở trong thế pháp hư vọng không vững bền, như hoa trong gương, trăng dưới nước, đem cho kiến thức sai lầm cho là chơn thật. Vọng chấp có ngã chơn thường còn, không biết trở lại cầu nơi bản tâm tínhmình, cứ mãi theo cảnh trôi lăn, xoay vần trong biển khổ, bỏ gốc theo ngọn, luống nhọc tinh thần mà không ích lợi chi cả”. Qua câu chuyện này, chúng ta có thể chứng minh tất cả sự vật ở thế gian quý ở chỗ biếtkhông biết. Có người mê muội không biết. Có người cố chấp quan điểm tự làm hại mình. Có người không biết tự cho mình biết, chỉ vì chuộng sĩ diện. Cho nên, thế gian có những loại tà kiến. Suốt đời con người chạy theo tài, sắc, danh, thực, thùy, giống như chạy theo ảo ảnh mà không biết nó là huyễn. Sau khi nghe Phật pháp nói mới biết tất cả sự vật đều là không thật. Nhưng nhu cầu cho sắc thân năm uẩn phải có những thứ này. Chúng ta phải biết sắc thân năm uẩn này cũng là không. Nếu chúng ta không biết thân này là không thì lao nhọc cả đời; giống như chú bé trong câu chuyện tìm vàng dưới đáy nước. Cái gì gọi là chân? Là bản tính của chúng ta, từ quá khứ đến vị lai, vô thỉ vô chung. Chúng ta muốn tìm bản tính của mình, phải tu tập tâm. Tâm là báu vật vô hạn, giá trị như các thành nối liền nhau, kẻ đánh chiếm không lấy hết được, lương thực không bao giờ cạn. Vì sao lại muốn ở thế gian huyễn mộng để lao tâm khổ tứ? Cái nào là chân? Cái nào là giả? có liên quan hiểu biết sâu cạn của mỗi người, cũng có liên quan đến tri kiến, tà kiến của mỗi người. Chúng ta lấy tri kiến của Phật làm tri kiến, nếu như mọi người có kiến giải khác nhau, cũng là việc không có biện pháp. Việc này giống như mỗi người đi đường Dương Quan của mình. Đức Phật mong muốn chúng ta giải thoát sinh tử, nên Ngài dạy đạo giải thoát; Ngài mong cho chúng ta thành Phật, nên nói hành đạo Bồ-tát; cho đến cõi trời, cõi người, ba đường ác, mỗi người đi theo con đường của mình. Nếu như chúng ta muốn đi vào ba đường ác thì dù có Đức Phật còn ở đời cũng không có cách gì cứu được.

- Thân ngũ uẩn của chúng ta nằm trong quy luật sinh lão bệnh tử. Vạn vật bên ngoài bị theo sự Sinh, Trụ, Dị, Diệt. Tất cả các pháp đều như ảo ảnh, mộng huyễn; huống gì nằm mộng thấy mộng? Nhưng người bình thường sống trong ảo ảnh này vẫn không biết. Hằng ngày, họ tìm cầu cơm ăn áo mặc, chỗ ở, phương tiện đi lại cho đầy đủ mà không ngừng tính toán chiếm đoạt tài sắc, danh lợi. Đến khi sắp trút hơi thở cuối cùng vẫn khư khư cố chấp ảo ảnh không chịu buông bỏ, không biết mình bị ảo ảnh lừa gạt cả một đời, ôm nhiều uẩn khúc vĩnh biệt trần gian. Có người chạy theo tài, sắc, danh, thực, thùy giống như sư tử vớt trăng dưới nước; chẳng những uổng phí công sức mà thân còn tạo tội nghiệp. Người ngu thấy vàng in dưới nước cho là vàng thật, uổng công ra sức vớt, khác nào như vớt trăng trong nước.

Mỗi Tông phái nói về Chân tâm có khác: Thiền tông gọi là: “Bản lai diện mục” “Chánh pháp nhãn tạng”. Tịnh Độ gọi là: “Tự tánh Di Đà”. Nho giáo gọi là: “Thiên Lý”. Đạo giáo gọi là: Đạo. Chân tâm ấy, các Tổ sư Phật giáo nói gọn có mấy câu là:

Hữu vật tiên thiên địa

Vô hình bản tịch liêu

Năng vi vạn tượng chủ

Bất trục tứ thời điêu.

Bốn câu nầy là tả Chân tâm. Chân tâm là tánh Giác sáng suốt. Tự tánh chúng sanh là Giác, không phải vô tri, ngu muội như cây như đá, như thú vật ngu si. Tánh Giác ấy của chúng sanh có sẵn chớ chẳng phải chờ đến thành Thánh, thành Phật mới có, nhưng vì mình đã làm nó mất tính sáng suốt chiếu soi linh quang, linh diệu vì nhập thai.

Bồ-tát còn mê khi cách ấm

Thinh Văn còn muội lúc ra thai.

Vào thai thì hữu sinh máu huyết, giảm sáng suốt vì âm huyết của mẹ, trọc khí của cha, nên Chân tâm mất sự sáng suốt linh diệu của tâm. Đến khi sinh ra ngoài thì lục trần, ngũ dục làm giảm đi nữa, cho nên phải chịu đau khổ triền miên trong vòng sanh tử luân hồi. Vì thế, Phật phải thuyết pháp dạy phản vọng qui chơn.

Luận Kim Cang nói:

Mọi chúng sanh đều có Phật tánh

Nhưng hiện thời bị quấn chặt bởi vô minh

Khi nhiễm ô bị đoạn trừ, chúng là Phật.

Trong Trung Hoa Đại Tạng có câu:

Một áng mây trôi ngang qua cửa động

Bao nhiêu chim chóc quên đường về.

Bị áng mây che phủ làm cho chim chóc không nhớ tới cửa động, hang ổ chỗ nào để mà trở về. Những đám mây danh lợi, đám mây chấp ái, chấp thủ, các sự tham muốn đã làm nên đám mây che khuất bản tâm thanh tịnh. Tâm niệm ban đầu thì rất mạnh nhưng lần hồi rồi buông xuôi, và rồi có những lúc gần giống như người thường, đó là sự quan tâm của người tu.

Các bậc Thánh đức dạy: Ẩn sau mỗi một con người đều tồn tại hai con người: Một con người xác thịt mù lòa và một con người Tâm linh tinh tường, sáng suốt.

1 - Con người thứ nhất là ăn uống, lao động, nghỉ ngơi, tình ái,… con người nầy bận rộn, bận bịu cả đời với những thứ đó.

2 - Con người thứ hai là con người sáng suốt, chẳng làm gì cả. Người nầy chỉ biểu thị sự tán đồng hoặc không tán đồng đối với những hành động của con người xác thịt mà thôi. Chính con người sáng suốt ấy là Phật tâm, tánh Giác sáng suốt, là Lương tri. Trong khi con người xác thịt thì đi lạc hướng.

Nghe Lương tri chỉ dạy, lên tiếng, thì người biết tu, vâng lời tu sửa. Người ngu si thì không thèm nghe Lương tri, ngoảnh mặt làm ngơ, đàn áp nó … vô ích. Phật tâm là ánh sáng của Trí tuệ nhận định sáng suốt mọi vấn đề, không mê lầm nhân quả. Lương tri là ánh sáng thông minh để phân biệt những điều hay dở. Người mà không có Phật tánh, Lương tâm, Lương tri, cái biết Lương thiện này thì cuộc đời họ sẽ bi thảm vô cùng vì tạo nghiệp dữ cho mình, rồi luân hồi Nhân quả trả vay mãi mãi.

Con người là tổ hợp giữa Con và Người nên chưa đạt đến cái trình độ là sinh vật thuần lý. Con là phần vật, là những hoạt động bản năng mãnh liệt mờ tối, có sự nối tiếp ngàn đời, đó là ngã tính của con người. Còn Người là phần lý, là thứ ánh sáng soi đường, vươn lên từng ngày. Chính những mâu thuẫn thường trực giữa con người là bản năng và lý trí, tạo nên nhiều bi kịch cho những con người trong xã hội. Đó là sự đối đầu giữa ác và thiện, giữa xấu và tốt, giữa cái lý muốn làm những điều phải với cái manh động của những dục vọng thấp hèn. Như thế phải có một sự cưỡng chế răn đe bằng nhiều áp lực đối với phần Con thì cái phần Người mới thanh thoát được.

Trời Ở Đâu? Con người cứ mê muội tạo nghiệp ác, theo sự thôi thúc của nghiệp dục vô minh, của lòng tham ác, xan tham, giận thù, để rồi chịu lấy quả khổ. Khi quả khổ đến thì lại trách đời mắng trời, nhưng trời ở đâu mà mắng chứ? Trời ở đâu? Đức Khổng Tử nói:

Thiên thính tịch vô âm

Thương thương hà xứ tầm

Phi cao diệc phi viễn

Đô chỉ tại nhơn tâm”.

Trời! Nếu lấy tai mà nghe thì chẳng nghe được gì, lấy mắt mà nhìn thì cũng chẳng thấy được gì, chỉ thấy màu xanh xanh mãi mà không tìm đâu ra trời. Mà trời gần hay xa là ở tại lòng ta. Đó là cái nhìn của đức Thánh Khổng.

Còn Đức Phật của chúng ta thì tuyệt vời hơn. Phật dạy “Nhất thiết duy tâm tạo”. Tất cả đều do tâm tạo ra cả. Nếu tâm mê thì sẽ thường luân chuyển ở lục phàm, còn nếu giác ngộ, tỉnh giác thì sẽ lên tứ Thánh. Nói chung là một tâm này mà tạo ra đủ mười pháp giới: Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh, A-tu-la, Người, Trời (Lục phàm), Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát, Phật ( Tứ Thánh ). Như vậy, tất cả mọi việc trên cõi đời đều do con người tạo ra cả. Con người là chủ nhân ông của cuộc sống, mỗi người là một kiến trúc sư tự kiến tạo lấy đời mình, chứ không do một ai mang đến cho chúng ta cả. Như vậy, qua cái nhìn của người tu Phật, đời không gì cả, không khổ cũng không vui. Mà khổ hay vui là do con người tự tạo lấy.

Tổ Linh Hựu, Ngài thường sách tấn đại chúng: “Kim sanh tiện tu quyết đoán, tưởng liệu bất do biệt nhơn”. Nghĩa là đời nay tự quyết đoán, xét ra không do ai khác. Chính ta định đoạt lấy số phận của chính ta, và ta cũng có đủ khả năng để chuyển hóa số phận của ta. Tu học phải thâm nhập kinh pháp để có Trí Huệ thấm nhuần chánh pháp và hãy nhìn đời bằng cái nhìn như thị “Như thị tri, Như thị kiến, Như thị quán bất sanh tín giải” thì không còn than trách đời sao đáng chán nữa.

Thiền sư Vạn Hạnh là người làng Cổ Pháp (nay là Đình Bảng, Từ sơn, Bắc Ninh), xuất thân từ một gia đình nhiều đời thờ Phật. Ông là một con người thông minh trác tuyệt, một nhân cách cao thượng. Ngày 15 tháng 5 năm Thuận Thiên (1025), Thiền sư Vạn Hạnh không bệnh mà thoát hóa. Trước khi thoát hóa, Ngài đã trình bày sự chứng đạo của mình bằng một bài kệ lưu truyền, như đã thâu tóm được Tinh hoa đạo học vô cùng sâu lắng này.

Thân như điện ảnh hữu hoàn vô

Vạn vật xuân vinh thu hựu khô

Nhậm vận thịnh suy vô bố uý

Thịnh suy như lộ thảo dầu phô.

Thiền sư Mật Thể dịch như sau:

Thân như bóng chớp chiều tà

Cỏ xuân tươi tốt, thu qua rụng rời

Sá chi suy thịnh cuộc đời

Thạnh suy như hạt sương rơi đầu cành.

Bài thơ Đường có hai vế: Vế thứ nhất trình bày thiền bằng lý thuyết của hành động; Vế thứ hai trình bày thiền bằng tư tưởng hành động.

1- Lý thuyết của hành động:

Thân như bóng chớp chiều tà

Cỏ xuân tươi tốt, thu qua rụng rời

Thân con người chỉ là một tia chớp mong manh, có đấy mà cũng là không đấy. Thân dễ tưởng nhầm mình là vĩnh viễn. Thật ra, thân là biện chứng tồn tại của “”và “không”. Hãy nhìn vào vạn vật thì Thân sẽ ngộ, vạn vật cũng biến đổi theo mùa: Cây cối vào mùa xuân thì tươi tốt; thu đến thì héo khô não nùng. Màu sắc xanh tươi trong tiết xuân cũng như màu sắc vàng úa trong tiết thu của cỏ cây đều nằm trong cõi hiện tượng mông lung. Đó là cõi Huyễn Tượng, là hiện tượng của quy luật tự nhiên, nó diễn biến nơi cõi hình hài.

Thân chìm trong vô minh, cho nên phật dạy: Nguồn khổ là vô minh. Đường khổ là tập. Thân chìm trong sự chấp ngã, đòi liên kết với bản thể tuyệt đối bằng tự ngã. Gọi Thân lại, Thiền sư Vạn Hạnh nói: Thân chỉ là một bóng chớp mong manh, đừng nghĩ nó là có thật và mãi mãi còn. Thân là vô thường.

2- Tư tưởng hành động:

Con người đang bị cầm tù trong cái Thân dễ để tinh thần của mình vui, buồn, lo âu, sợ hãi… theo cái thăng trầm của cõi hình hài sắc tướng ấy. Trong câu kết luận, Vạn Hạnh Thiền sư đã dạy:

Sá chi suy thịnh việc đời

Thịnh suy như hạt sương rơi đầu cành.

Đây là lời khuyên chân thành của một Thức giả đã đạt độ viên mãn. Lời khuyên vạch ra con đường, biện pháp đưa con người vào Giác ngộ. Thật ra, sự vật trong cõi đời là vô thường, sự vật chỉ là giả tướng. Chưa nhận ra cái giả tướng ấy vì thân đang dính liền với sắc, thọ, tưởng, hành, thức (hệ ngũ uẩn - Skandha). Hạt sương mong manh vô thường. Sáng sớm, sương đọng óng ánh trên đầu ngọn cỏ. Mặt trời lên, ánh sáng chiếu rọi, sương khô từ từ rồi tan mất. Tất cả cái được, cái có hiện giờ theo thời gian rồi sẽ mất không lâu dài, không bền chắc. Thế mà chúng ta hễ gặp thạnh thì vui, gặp suy thì buồn khổ. Cuộc đời vốn là vậy. Thạnh hay suy tùy theo duyên chẳng có gì đáng vui hay buồn. Vì giá trị của cuộc đời là con người chớ không phải là cảnh vật.

Con người là chủ, có tri giác khôn ngoan là quan trọng. Thế mà chủ (thân) giữ còn không được huống gì cảnh vật còn mất làm sao giữ? Thân tự cầm tù mình trong những dục vọng, trong những thói quen đã tích lũy sai lạc từ hàng ngàn kiếp. Thói quen nguy hiểm nhất là thói quen trong suy nghĩ. Thân nghĩ rằng sự vật là vĩnh cửu, là có thường nên mới đau khổ vì không có nó, hoặc phải rời xa nó.

Vì Thân, con người đã buộc mình vào cõi tương đối của thịnh suy, vì tưởng Thân là cái thật. Con người chìm trong Tham, Sân, Si, nên con người sợ hãi, lo âu, đau khổ. Thoát ra ngoài vòng sợ hãi thịnh suy. Ý tưởng Thân là vô thường thì con người cũng thoát vòng sợ hãi thịnh suy. Lúc ấy, con người nhìn thịnh suy mong manh như một giọt sương đang đọng trên ngọn cỏ. Và con người đã sống bằng cái tự thể liên kết với Bản thể tuyệt đối vô ngã, vô thường. Đó là cõi Tịch lặng Giải thoát. Có nhiều người khi bịnh nặng sắp chết, cứ nhớ tiền của còn hay mất, nhớ của hơn nhớ mình cứ lo tiền của, sự nghiệp mà không nhớ lo bản thân mình, thậm chí có nhiều người đem thân liều chết để được tiền của. Không giác ngộ cuộc đời từ Thân cho đến cảnh vật là vô thường, đổi dời biến chuyển, có lúc Thạnh lúc Suy, không dừng trụ, không cố định một chỗ chỉ là lẽ thường của cuộc đời thì mình cũng xử sự theo cái thường không buồn lo, sợ hãi.

Tu Tâm được như vậy thì Tâm được an lạc hạnh phúc. Còn tâm lo sợ xử sự không bình thường, lúc nào cũng lo cho cái thân già bệnh chết nầy, lo cho cảnh vật của cải vật chất tiền bạc còn mất … cứ thế mà lo mãi cho đến chết.

Thiền sư Huyền Giác có dạy:

Thân ngũ uẩn là phù vân tụ tán

Hợp rồi tan trong vũ trụ bao la

Sự diệt sinh, sinh diệt vô cùng

Nó hiện hữu với thời gian vô tận.

Trong bài thơ Tương Thệ Tịch, Chân Không Thiền sư đã vẽ ra cõi Tịch lặng ấy như sau:

Diệu bản hư vô nhật nhật khoa

Hòa phong xuy khởi biến sa bà

Nhân nhân tận thức vô vi lạc

Nhược đắc vô vi thủy thị gia.

Ngô Tất Tố dịch là:

Sắp tới cõi im lặng

Hư vô lẽ ấy rất sâu xa

Thổi dịu nơi nơi ngọn gió hòa

Cảnh cõi “Không Làm” gì cũng mến

Được lên chốn ấy mới là nhà.

Con người ở trọ trong cái thân nên phải khổ với nó. Con người khi nào thoát khỏi vòng điều hành của thân thì sẽ đến được cõi Tịch lặng mới ổn, cố như chính là nhà ta vậy.

Cảnh giới Thiền chỉ ra tất cả sự vật mà chúng ta có thể nhìn thấy, tiếp xúc trong thế gian này đều là hư tướng của sinh mệnh, mà chúng ta là những người đang mê đắm trong những hư tướng đó, thấy giả thành thật. Sở dĩ hư tướng được gọi là “” vì tất cả đều tuân theo quy luật sanh diệt, không tồn tại tự tính vĩnh hằng, nhưng chúng ta lại xem chúng là những thứ có thực tướng vĩnh hằng, khiến sinh mệnh trở thành những làn sóng tư duy trôi chảy không ngừng. Mọi vật sinh ra rồi bị tiêu diệt, đó là chân lý của sự sống. Con người mê đắm trong tình cảm, ham muốn vĩnh hằng, nên phải rơi vào khổ đau vô hạn.

Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng đều tùy duyên sanh diệt, cũng đều không có tự tính vĩnh hằng bất biến. Sự sống chỉ là một quá trình vận động không ngừng. Nếu đã khai ngộ, ta phải siêu việt trên nó, thưởng thức và bao dung nó, chứ không phải lao vào để rồi bị nhận chìm trong vòng xoáy của nó. Bấy giờ tâm của ta là “sinh” vậy. Kinh Kim Cang nói “Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm”, chân lý bèn thông ngộ. Thiền định là Phật mẫu, Phật mẫu sinh Phật nên được gọi là vạn trí. Chỉ trong cảnh giới thanh tịnh, trí tuệ con người mới được xuất hiện. Do vậy, Phật giáo cho rằng, dụi tắt vạn niệm, buông bỏ tất cả, tĩnh tọa, để cho sóng tâm trôi nổi giữa cõi tĩnh mặc, trong cảnh giới ấy, hành giả rất dễ nhìn thấu trí tuệ siêu nhiên của mình, đồng thời có thể triệt ngộ dòng chảy sinh mệnh. Nhân sinh là gì ? Phật cũng từng nói: “Nhân sinh tựa như một người bị hổ rượt đuổi, chạy đến vách đá, nhìn thấy rễ cây, bèn leo xuống dưới, nhưng rồi lại thấy bên dưới vách đá có một con hổ khác, đang há miệng nhe nanh. Con hổ ở trên chính là hôm qua, con hổ bên dưới là ngày mai vậy. Con người sống ở hôm nay, tay nắm lấy rễ cây đứt, chứa đầy nỗi lo của hôm qua và ngày mai, hiện tại trước mắt, bên vách đá có trồng một loại linh chi ngon nhất trần gian, cũng không còn tâm trí thưởng thức nó. Nếu con người ngộ được cảnh ấy, sao còn màng đến hôm qua, bận tâm đến ngày mai để làm gì, sống cho hiện tại, nhàn nhã thưởng thức hương vị linh chi diệu quả, tuy có con chuột đang cắn rễ cây, cũng chỉ là chuyện của ngày mai mà thôi”.

Sống ngay hiện tại là một tâm pháp giải thoát cho nhân sinh đang bị trói buộc quá nhiều bởi gông xiềng của hôm qua và ngày mai. Con người dựa vào kinh nghiệm để luận định mọi thứ, quá chú trọng ngày mai phải được cái gì, nào ai biết hôm nay đã không còn nữa. Con người đang bị phong tỏa trong vòng lao dịch, thân tâm trói buộc trong sợi dây mê, không thể tìm ra chính mình, bị dòng biển sinh mệnh cuốn vào vòng xoáy, nhấn chìm trong tuyệt vọng. Phiền não là căn nguyên khiến sinh mệnh lao vào vòng xoáy sinh tử. Phải dám chết đi, để rồi “chết mà lại sống”, tựa như hình ảnh Nhị Tổ Thần Quang chặt tay cầu pháp. Con người không chết thì không biết đến pháp thoát ly thống khổ. Người xuất gia xứng đáng được gọi là “đại trượng phu”, là người có đủ can đảm chống chọi để vượt lên dòng xoáy của sinh mệnh. Đó không phải là chuyện mà một người bình thường có thể thực hiện, phải có dũng khí rất lớn vậy. Đương nhiên, rất nhiều người không xuất gia vì mục đích này, nhưng Chân Đế đích thực của việc xuất gia nhất quyết phải là như vậy.

Trong bài có tham khảo các website sau:

http://www.budsas.org/uni/u-chanhminh/xld01.htm

http://www.thientam.vn/index.php?nv=News&at=article&sid=2010

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết: