CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !

Giá trị của BIẾT trong Kinh Bố Dụ

Tấm vải dơ bẩn nhuộm màu

Màu nào cũng xấu, ôi chao khó nhìn

Cũng vậy tâm ý tánh tình

Nhiễm ô phiền não thì sinh cõi hèn.

Tấm vải không còn lấm lem

Nhuộm màu đẹp đẽ đáng khen dễ nhìn

Cũng vậy tâm ý tánh tình

Không còn phiền não thì sinh cõi hiền.

Cõi người như cõi thượng thiên

Cõi trần mà cũng cõi thiền ngay đây.

Bài kinh Bố Dụ (Ví dụ tấm vải) mở đề nhanh gọn và ngay sau đó liệt kê 16 trạng thái của một con người làm cho dơ bẩn "tâm ý tánh tình" đó là:

1. Tham (covetousness)

2. Sân (ill-will)

3. Giận (anger)

4. Thù (revenge)

5. Tà ác (fraud)

6. Kiêu ỷ (domineering attitude)

7. Tật đố (envy)

8. Xan tham (avarice)

9. Man trá (deceit)

10. Khinh thị (contempt)

11. Ngoan cố (obstinacy)

12. Cấp tháo (presumption)

13. Ngã mạn (arrogance)

14. Cao ngạo (conceit)

15. Kiêu căng (vanity)

16. Phóng dật (negligence)

Trong Đại Tạng Kinh Việt Nam (ĐTKVN)  ấn bản năm 1992, trạng thái tâm lý đầu tiên được nêu lên là, tham dục và tà tham (covetousness and unrighteous greed) ở bài này chỉ nêu ngắn gọn là tham. Mười lăm trạng thái tâm lý còn lại cơ bản là tương tự với ĐTKVN. Tất cả 16 trạng thái tâm lý này của con người đều bị đức Phật xem là những thứ làm cho tâm hồn dơ bẩn, ô uế. Sở dĩ tâm hồn con người không còn trong sáng vì bị một hay nhiều những trạng thái trên đây chi phối, che mờ. Trong thực tế những trạng thái trên đã từng che mờ lương tri của nhiều người, từ những người nghèo khó (khố rách áo ôm) đến những vị cao sang (ngất ngưỡng trên ngôi cao của tiền bạc và địa vị), từ những người ít học (chữ đựng trong lá mít) đến những vị bác lãm (có cả một vài bồ chữ trong bộ nhớ). Những tâm hồn thiếu trong sáng đó đã, đang và sẽ gây nên bao nhiêu oan khiên của gia đình, xã hội và thế giới.

Thật ra, những cái thô thiển đã biểu lộ ra bên ngoài như chiến tranh, trộm cướp, giết hại, tước đoạt đều có ngọn nguồn từ những diễn biến tâm lý âm thầm và lẩn khuất trong tâm hồn con người. Đạo Phật chủ trương nhận ra ngay những trạng thái tâm lý dơ bẩn này từ trong trứng nước, tức là nhận diện được chúng ngay khi chúng còn là những "máy động" nho nhỏ trong tâm hồn. Một chút giận hờn bị khỏa lấp một cách âm thầm và tự động, một chút ganh ghét bị cho qua một cách âm thầm và tự động, một chút tham đắm được cho qua (“là con người mà”) một cách âm thầm và tự động. Vấn đề không phải ở chỗ cho qua mà ở chỗ cho qua một cách âm thầm và tự động. Âm thầm và tự động đến nỗi là chính bản thân không hề ý thức được sự có mặt của những cái chút chút đó, không hề nhận biết nó đã khởi lên như thế nào, nó hiện diện như thế nào và nó đi qua như thế nào. Thuật ngữ nhà Phật không gọi là âm thầm và tự động mà gọi là thiếu chánh niệm hay thiếu tỉnh giác. Những cái gọi là uế nhiễm hay dơ bẩn trong tâm hồn con người nếu cứ mãi là những chút chút như vậy thì “trông cũng dễ thương” và chẳng có thể làm ảnh hưởng gì đến nền hòa bình của thế giới. Khổ nỗi, chúng lại có khuynh hướng âm thầm tự động leo thang, âm thầm tự động tự nhân đôi và nhân rộng, và tự động trở thành chủ nhân điều hành cuộc sống của một con người cụ thể thiếu tỉnh táo nào đó, âm thầm và tự động điều khiển từ hậu trường sân khấu tâm hồn của những tổ chức, những tập thể con người, tùy theo mức độ lớn nhỏ mà gây nên khổ nạn nhiều hay ít. Vì vậy, yếu tố tỉnh giác hay chánh niệm cần phải thường xuyên có mặt trong tâm hồn, để chúng dù một mình hay kết bè kết cánh luôn luôn được soi sáng và luôn luôn dễ thương.

Tiến trình chuyển hóa trong bài kinh được trình bày theo một phong cách rất tự nhiên như là kể lại một câu chuyện đời xưa, câu chuyện “tai nghe mắt thấy”. Điều khác biệt là bài kinh không kể lại chuyện xảy ra bên ngoài mà là những diễn biến bên trong.

Này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo biết được: “Tham dục tà tham là cấu uế của tâm”, tham dục tà tham cấu uế của tâm được diệt trừ.

Câu kinh trên có hai động từ chính là “biết” và “diệt”. Biết ở đây là biết được “một hay nhiều trạng thái trong 16 trạng thái tâm lý” đang có mặt. Cụm từ “một hay nhiều trạng thái trong 16 trạng thái tâm lý” xin được tỉnh lược là “nó” cho gọn nhẹ.  Như vậy biết là biết bên trong tâm hồn, và diệt là diệt bên trong tâm hồn. Biết có thể hiểu đơn giản là nhận ra, nhận thấy, nhận diện là “nó” đang xuất hiện. Nếu "nó" xuất hiện rồi đi qua như hình ảnh người lính cầm loa trong cây đèn kéo quân thì không hề gì, nhiều khi còn làm cho đời sống nội tâm linh động phong phú hơn nhưng nếu “nó” ở đấy dây dưa lâu hơn bình thường thì có nghĩa là “nó” đang muốn phình đại và trương phồng (đang luyện hấp tinh đại pháp để mưu đồ nghiệp bá). Chỉ cần nhận ra là "nó" đang xuất hiện, chỉ cần biết như vậy mà thôi thì nó mất thế âm thầm và tự động. Rất tiếc, con người đến khi lên cơn sốt ác tính của sân giận hay tham lam rồi thường không hề nhận thấy bản thân đang như vậy, trái lại trong lúc ấy chỉ nhận thấy cái con người quái đản kia thật là quá đáng, thật là ngược ngạo, và còn những cái “thực là” khác nữa. Rõ ràng, trong cơn sốt ác tính của sân giận, con người này chỉ thấy con người kia mà thôi, chỉ thấy những cái trái khuấy của con người kia mà thôi. Tương tợ, trong cơn “bờ lơ mê” say thuốc của tham ái, con người này chỉ thấy con người kia sao mà dễ thương quá đỗi, sao mà cao đẹp quá đỗi, và còn những cái “sao mà” khác nữa. Rõ ràng, trong cơn “bờ lơ mê” say thuốc của tham ái, con người này chỉ nhận thấy con người kia mà thôi, chỉ nhận thấy những cái tuyệt vời của con người kia mà thôi.

Trong cả hai trường hợp con người này không hề thấy mình là ai, thấy mình đang làm gì, thấy trạng thái tâm lý của mình đang ra sao, tâm hồn của mình đang như thế nào rồi, có “nó” hay cái gì khác trong đó hay không. Đạo Phật dạy chúng ta hãy nhận ra, nhận thấy, nhận diện “nó”. Hóa giải tư thế âm thầm và tự động của nó, bài kinh dùng một động từ đơn giản là “biết”. Hãy tô đậm và viết hoa chữ BIẾT này. Chữ “biết” này là chìa khóa của cái cửa ngõ đưa con người từ bờ mê đến bến giác. Chìa khoá này có khả năng từng bước đưa tâm hồn con người từ chỗ cùn mằn tủn mủn, chỉ thấy cây mà không thấy rừng, đến cảnh giới thong dong vô ngại, hoà vào làm một với không gian và thời gian, với càn khôn vũ trụ. Người mới tu tập có thể chỉ biết lơ mơ rằng hình như mình đang giận, đang tham, khi cái giận cái tham đã hiện rõ trong mắt của mọi người chung quanh đang chứng kiến. Người có bề dày tu tập có thể biết cái giận, cái tham của mình xuất hiện và “đang lên cơn làm tình làm tội” rõ như mọi người chung quanh đang thấy. Người dày dạn tu tập có thể biết cái giận cái tham của mình khi chúng chỉ nhỏ bằng vài hạt muối tiêu trong tâm hồn, nhận thấy “nó” một cách rõ ràng trong khi những người chung quanh chưa nhận thấy gì cả. Khi đạt được năng lực biết như vậy thì kết quả thật là tự nhiên, biết “nó” thì “nó” bị diệt trừ như lời kinh khẳng định.

Này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo biết được: “Tham dục tà tham là cấu uế của tâm, tham dục tà tham cấu uế của tâm được diệt trừ”.

Như vậy trong đạo Phật, người tu không cần phải dùng (kềm búa, dao mác, dụng cụ nhổ răng…) bạo lực nhổ tận gốc rễ của “nó” ra khỏi tâm hồn mình mà chỉ dùng động từ biết (to know) là cơ bản giải quyết được vấn đề ô uế này. “Nó” mạnh mẽ và khuynh loát tâm hồn là do chúng ta. Bởi vì trong khi "nó" đang có mặt và hoành hành, thì chúng ta chỉ biết lờ mờ. “Nó” mỏng như bọt xà bông và yếu như con cà khiêu cũng là do chúng ta. Bởi vì trong khi "nó" đang có mặt, chúng ta biết một cách sâu sắc, tỏ tường rằng "nó" đang có mặt. Nếu có thể hãy thường xuyên mở một cái đèn cao áp trong tâm hồn để thường xuyên thấy biết sâu sắc tỏ tường. Thiền định là một trong những phương pháp hữu hiệu để mở cái đèn này.

Để định tính cho giáo pháp, bài kinh Bố Dụ và nhiều bài kinh khác dùng ý niệm: “Đến để mà thấy”. Tức là thấy được ân phước mà đức Phật ban cho người có lòng tu tập hành trì, cụ thể là thấy được sự lợi lạc vi diệu, thấy được năng lực kỳ diệu của giáo pháp tỉnh thức, giáo pháp của động từ biết. Nhờ biết mà bao nhiêu phiền não dơ bẩn của tâm được tẩy sạch. Khi đó tâm hồn thanh thoát thảnh hơi. Niềm vui tràn đầy phủ kín. Hạnh phúc thấm đẫm và lâu dài, một trăm lẻ chín lần hơn những hạnh phúc tạm thời chóng vánh của niềm vui trần thế. Đến để mà thấy, mà tỉnh táo nhận ra chân giá trị, chứ không phải đến để lơ mơ tin càng. Chúng ta thấy quá trình như sau: Tin sơ khởi để mà đến, đến học hỏi tu tập để mà thấy, thấy lợi lạc hạnh phúc để có lòng tin tuyệt đối.

Cần nhận rõ là, tin để mà đến với giáo pháp là dạng lòng tin sơ khởi bước đầu. Bước kế, đến để mà thấy qua việc học hỏi, việc thực tập, và nhận ra sự tuyệt vời của kết quả mà sự thực tập giáo pháp mang lại. Sau cùng, nhờ thể nghiệm được kết quả nên có lòng tin bất động và tuyệt đối. Nói gọn, có hai dạng lòng tin: Tin sơ khởi và tin tuyệt đối. Tin sơ khởi là tin trong giai đoạn ban đầu mới tiếp cận, tin tuyệt đối là niềm tin khi mọi chuyện đã có hiện thực bảo chứng. Như vậy trong đạo Phật không hề có dạng niềm tin bán mạng ngay từ ban đầu khi tự thân chưa nhận thức rõ, chưa biết rõ. Đạo Phật không khích lệ chuyện nói sao là tin liền như vậy mà không cần hỏi lại. Thấy cái hào nhoáng thích mắt là tin liền không cần hỏi lại. Nghe những lời bay bổng chín từng mây vừa lỗ tai là tin liền không cần hỏi lại. Đạo Phật không hề khích lệ chuyện phó thác linh hồn cho tiếng sét niềm tin. Đạo Phật khích lệ thực hành. Niềm tin sẽ gắn bó và cùng song song tăng trưởng với việc thực hành. Đó là lý do mà đạo Phật tránh được tình trạng cuồng tín và tình trạng lợi dụng sự cuồng tín khá phổ biến trên thế giới, xưa cũng như nay.

Bài kinh kể tiếp, sau đó vị Tỷ-kheo thiền tập về Tứ vô lượng tâm thuần thục rồi biết được: “Có cái này, có cái hạ liệt, có cái cao thượng, có sự giải thoát vượt qua các tưởng”. Do biết như vậy vị Tỷ-kheo chứng quả A-la-hán. Bài kinh nối tiếp bằng câu chuyện nói lên sự vô ích của việc dùng nước sông để rửa sạch tội lỗi. Tu tập thuần thục Tứ vô lượng tâm rồi chứng quả A-la-hán, vị Tỷ-kheo ấy xứng đáng với lời khẳng định: “Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là Tỷ-kheo đã được tắm rửa với sự tắm rửa nội tâm." Quả thật, vị ấy nên là mẫu mực, là lý tưởng, là "thần tượng" của tăng ni xuất gia trẻ tuổi, là nơi đáng để ca tụng, kính lễ, cúng dường của nam (thanh) nữ (tú) còn ở thế gian. Vị ấy đã sống:

"Cõi người như cõi thượng thiên,

Cõi trần mà cũng cõi thiền ngay đây".

Kết thúc bài kinh là câu chuyện Bà-la-môn Sundarikabharadvaja tán thán Thế Tôn, rồi xuất gia, thọ giới, tu tập, và chứng quả vị A-la-hán. Lời tán thán của  Bà-la-môn Sundarikabharadvaja gồm những câu đã định hình như sau: Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối, để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày. Nay con quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y Tăng...

Quả thật đại phúc cho người ca tụng nơi đáng ca tụng, kính lễ những nơi đáng kính lễ, và nương tựa nơi đáng nương tựa.

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết: