CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Ngũ Uẩn

Chơn lý số 2.                                              

                   NGŨ UẨN

I. NGŨ UẨN HAY NGŨ ẤM.

Ngũ uẩn là tên gọi chung,

Của năm pháp cái, tựu trung năm phần.

Trong vũ trụ mọi duyên nhân,

Có hình, không tướng, thuộc phần năm chi.

Còn có tên ngũ ấm vì,

Nghĩa là che đậy, phủ vây bao trùm.

Sắc uẩn, hình thể sắc thân,

Thọ uẩn, cảm xúc do trần tiếp căn.

Tưởng uẩn, tư tưởng có dần,

Sự nhớ tưởng biết tăng dần nhiều năm.

Hành uẩn, hành vi của thân,

Thức uẩn, thức trí biệt phân lâu đời.

Chữ uẩn súc tích, gọi mời,

Gom kết, chứa nhóm, cảm vời các duyên.

Ngũ ấm tích tập tăng thêm,

Ấm là che lấp, nhận chìm khổ đau.

Các pháp nương sanh lấy nhau,

Tứ đại dung hợp đón chào các duyên.

Ấm là yếu tố đầu tiên,

Giúp cho các pháp hữu duyên hiển bày.

Có nước bột, có bánh ngay,

Uẩn, nước, bột, bánh, không ngoài lẽ chung.

Các pháp duyên hợp trùng trùng,

Sanh nảy, thành tựu duyên cùng với nhau.

Thế gian, vũ trụ đâu đâu,

Từ năm pháp cái gồm thâu tác thành.

Cái thể rộng lớn bao trùm,

Súc tích, chứa nhóm, gom chung các loài.

II. NHÂN DUYÊN CỦA SẮC UẨN

Mọi vật thô tế trong ngoài,

Thế gian gồm đủ vạn loài chúng sanh.

Tứ đại dung hợp tác thành,

Ấm duyên cảm hóa biến sanh địa cầu.

Hỏi: Sắc uẩn có từ đâu ?

Sắc uẩn cái có không đầu, không đuôi.

Tự nhiên như vậy mà thôi,

Địa cầu tứ đại từ nơi không thành.

Tứ đại nguồn gốc thọ sanh,

Nhơn duyên thành hoại vận hành trước sau.

Có tứ đại, có địa cầu,

Vạn vật hình sắc khởi đầu là không.

III. TỪ SẮC UẨN ĐẾN THỌ UẨN.

Từ không kỳ diệu lạ lùng,

Đất, nước, lửa, gió hợp chung biến thành.

Nhựa chỉ, mồ hôi phát sanh,

Rể cây, cỏ, thú, nước sanh rong bèo.

Cỏ cây, cảm thọ dần theo,

Sinh ra cây lớn sống nhiều năm hơn.

Cây lâu năm cảm thọ dần,

Cây to hay có thọ thần hiển linh.

IV.THỌ UẨN ĐẾN TƯỞNG UẨN.

Cây sống nhiều năm cộng sinh,

Thọ cảm cứng vững hóa sinh thú cầm.

Tư tưởng mạnh nên tượng hình,

Các loài động vật biến sinh các loài.

Tư tưởng tăng trưởng tháng ngày,

Lâu ngày già giặn có ngay linh hồn.

V. TƯỞNG UẨN ĐẾN HÀNH UẨN.

Thú sống nhiều năm khéo khôn,

Tư tưởng già giặn linh hồn nhập thai.

Bằng hành uẩn tạo hình hài,

Thành người khôn khéo, kéo dài tuổi sanh.

Hành vi kinh nghiệm trưởng thành,

Linh hồn vững chắc trở thành khôn ngoan.

Mặc dù sống giữa thế gian,

Lâu ngày nhiều kiếp khôn ngoan vô cùng.

VI. HÀNH UẨN ĐẾN THỨC UẨN.

Loài người nhiều năm sống chung,

Cái biết già giặn theo cùng thời gian.

Từ kinh nghiệm của việc làm,

Lần sanh thức trí ngày càng khéo khôn.

Từ thường nhơn đến siêu nhơn,

Trải qua một khoảng thời gian lâu dài.

Chẳng phải một kiếp một đời,

Ngàn vạn ức kiếp thành trời thiện nhơn.

VII. THỨC UẨN ĐẾN GIÁC CHƠN.

Trời sống rất lâu thiện hơn,

Thông minh thức trí, giác chơn hiển lần.

Tâm chơn tỏ ngộ thoát trần,

Toàn đức, toàn trí, toàn nhân hoàn toàn.

Sau khi phận sự làm tròn,

Công viên quả mãn, Phật người toàn năng.

VIII. NGŨ UẨN HAY NGŨ ĐẠO.

Thân đứa trẻ mới tượng sanh,

Trong thai mẹ, Sắc là danh xưng từ.

Sanh ra là Thọ huyển hư,

Đến Tưởng sáu tuổi, biết từ từ sanh.

Đến mười hai tuổi là Hành,

Khi ba mươi tuổi Thức sanh vững bền.

Bốn mươi tám tuổi giác chơn,

Chơn giác, chơn ngã, chơn thường, toàn chơn.

 a -  Địa ngục.

Đứa trẻ ngồi trong thai bào,

Bụng mẹ như đất vun vào thêm duyên.

Trong ấy nhờ ấm tượng nên,

Có thân cái biết tăng lên lần lần.

Xao động bên ngoài là nhân,

Tác động đến thức biết tầm đường ra.

Đến ngày nở nhụy khai hoa,

Bỏ vô minh, thức tìm ra cuộc đời.

b – Ngạ quỷ.

Trẻ nhỏ sanh ra khóc đòi,

Đòi ăn, đòi bú gốc từ tham lam.

c -  Súc sanh.

Trẻ con vọc đất chơi bùn,

Ưa lùm thích buội, dữ hung chơi đùa.

Ham gây gốc sân hận xưa,

Phá phách, nghịch ngợm, lối đưa vào đời.

Sống bằng xấu quấy vui chơi,

Sống trong cái ác khổ đời không hay.

Như đất nước sanh cỏ cây,

Cỏ cây sống, đất nước nầy làm thân.

Mượn máu thịt mẹ tượng thân,

Sinh ra con trẻ nhờ phần sữa thơm.

Nhờ bú sữa mẹ lớn khôn,

Thèm đòi, khóc quấy tích tồn theo duyên.

Lớn lên hết giết mẹ hiền,

Đến tuổi phá phách lụy phiền ông cha.

Ấy bởi sắc thân quấy tà,

Thọ cảm ngạ quỷ, tưởng là súc sanh.

Không ai trách, trẻ chưa lành,

Từng lớp tiến hóa, phải hành vậy thôi.

Như ta nay đã lớn rồi,

Đã từng trãi nghiệm, qua rồi lối xưa.

Sắc thai bào, nghiệp đón đưa,

Thọ ngạ quỷ, biết sao vừa đói tham.

Tưởng súc sanh, rất tinh ranh,

Lần lượt hành đến thiện thanh lớp người.

Thức trời, biết giúp mọi người,

Ta người tương trợ, chuyển dời giúp nhau.

Ai cũng nhờ nương lúc đầu,

Cha mẹ, gốc vốn mới hầu có thân.

Về sau biết tự lo lần,

Tiến hơn lại biết hiếu thân song đường.

d-  Nhơn (người).

Đến tuổi mười hai biết thương,

Từ bỏ ác quấy, tập đường thiện nhơn.

Lúc nhỏ biết thương tự thân,

Lớn hơn biết tập thương lần mẹ cha.

Lần thương quyến thuộc gần xa,

Tập ăn chay, tập giảm tha thú cầm.

Con đường sống tiến triển lần,

Ham mê vật chất, lo thân mình nhiều.

Người nhỏ chỉ biết bấy nhiêu,

Tập bỏ cái ác, tập điều thiện nhơn.

e – Thiên (trời).

Tuổi ba mươi, biết sống hơn,

Nói làm việc lớn, lòng thương muôn loài.

Quên mình giúp đở mọi người,

Giao du khắp xứ, ta người giúp nhau

 Là trời quảng đại thanh cao,

 Vợ chồng như bạn cùng nhau tu hành.

 Hiểu lẽ trắng, biết điều lành,

 Có thức trí, biết phóng sanh tu hiền.

 Lòng người rộng lớn là thiên,

Thiên trời ban rãi đức hiền khắp nơi.

f -  Phật.

Trên bốn tám tuổi sống đời,

Sáu căn trong sạch, trụ nơi tịnh nhàn.

Tuổi giác ngộ, biết vô thường,

Từ bi trí huệ, dẫn đường chúng sanh.

Sống không ta, chuyên dạy lành,

Trang nghiêm đức hạnh, không tranh với đời.

Ngày ăn một bửa thảnh thơi.

Không tiền bạc, ai thỉnh mời kết duyên.

Dạy đạo lý, khuyến tu hiền,

Thuận theo lẽ một, vô phiền vô ưu.

Trên sáu mươi, tuổi nghĩ hưu,

Trí đầy tâm đủ, chơn như niết bàn.

Như sen khô cứng hạt vàng,

Trường sanh bất diệt, dưỡng an đời đời.

IX. TỪ NGŨ UẨN ĐẾN GIÁC CHƠN.

Sắc là thân phàm (địa ngục)  

Thọ (ngạ quỷ)

Tưởng (súc sanh)  là tâm phàm vọng.

Hành (nhơn loại)

Thức là trí phàm (thiên đường). (nguyên văn Chơn lý)

Chót hết giác tánh tâm chơn,

Tánh chơn chư Phật mười phương ba đời.

Giác chứa sẳn, năm ấm rồi,

Mỗi ấm ảnh hưởng đủ rồi các duyên.

Cái giác cũng luôn hiện tiền,

Dừa non nhỏ có thịt, cơm, mộng hồn.

Như vậy trong vỏ đương ngầm,

Thịt cơm, mộng, hột âm thầm tượng sinh.

Hột mộng thể chất cây sanh,

Thịt, cơm, nước, vỏ ẩn thành tùy duyên.

Cho nên tánh Phật diệu huyền,

Từ chúng sanh tánh, có duyên tu hành.

Nếu hột giống, không gieo trồng,

Thì không kết quả, đem trồng thì lên.

Phân chia ngũ uẩn đặt tên,

Từng giới hạn, để biện phân rõ ràng.

Giác là gì ? Có để chi ?

Sự thật năm pháp, cái gì trước sau ?

Thân, tâm, trí, tánh thế nào ?

Cái gì sanh trước, ra sao luận bàn.

Duyên tiến hóa, theo thời gian,

Từ thân đến tánh, con đàng chúng sanh.

Từ thấp đến cao rõ ràng,

Từ địa ngục, đến niết bàn vô sanh.

Từ vô động, đến động sanh,

Cho đến cái biết hoàn thành nghĩ ngơi.

Tồn tại hột giống để đời,

Chơn như chắc thiệt vui chơi cảnh thiền.

X. NGŨ UẨN QUÁ THẠNH CHÚNG SANH KHỔ

Cõi đời hiện tại các duyên,

Mọi vật quyến rủ ta yên được nào.

Kìa như dinh thự lầu cao,

Gấm vóc tốt đẹp, ôi sao mịn màng.

Cao lương mỹ vị bỉ bàng,

Thức ăn, mặc, ở như càng cuốn lôi.

Như thúc giục, như gọi mời,

Có thân sao cưởng được hồi muốn ham.

Huống chi kết quả việc làm,

Khiến cho nhân loại tham lam tột cùng.

Vật chất rực rỡ kỳ công,

Quyến rủ thôi thúc vào vòng mê tham.

Với bao vật sắc hữu hình,

Thọ cảm ưa chịu, tưởng tình muốn ham.

Muốn chiếm hữu, nên phải làm (hành),

Vọng thức sai khiến phải cam nhọc nhằn.

Khi chưa được, khổ vì tham  

Đang có cũng khổ, phải làm Ô sin.

Khi mất chịu khổ cực hình,

Ba thời đều khổ tâm tình đảo điên

Ngũ uẩn nguồn gốc phát sinh,

Sự tham, sự khổ điêu linh kiếp người.

Chủ quan, khách quan hai ngôi,

Đoạn trên chỉ nói đến hồi khách quan.

Bên ngoài vật chất, việc làm,

Xâm nhập tư tưởng nên làm khổ thân,

Bên trong cũng có chủ nhân,

Vui vẽ đón tiếp kết thân trong ngoài.

Vọng tâm tiếp nhận hình hài,

Mới sanh thọ, tưởng từ ngay nơi lòng.

Hành vi, thức trí kỳ công,

Cũng vì vọng thức nên lòng vọng sanh,

Làm việc, ham muốn cạnh tranh,

Vui trong cảm thọ, tâm sanh thỏa tình.

Đã sống trong kiếp phù sinh,

Vướng vào guồng máy năm tình lăn xoay.

Chịu khổ năm tháng miệt mài,

Ngũ uẩn, ngũ ấm kéo dài kiếp sinh.

Như nay muốn dứt khổ hình,

Diệt ngũ uẩn, đoạn năm tình đều không.

Hết mê vọng, thảnh thơi lòng,

Tánh chơn giác hiện thoát vòng trầm luân.

XI. PHÁP DIỆT NGŨ UẨN

Mỗi người bởi có sắc thân,

Lâu ngày thọ cảm lần lần phát sanh.

Thọ cảm nối kết tưởng sanh,

Bởi có tư tưởng, mới hành khéo hay,

Việc làm kinh nghiệm lâu ngày,

Thức trí tích lủy, lâu ngày giác chơn.

Đến giác, thức trí không còn,

Theo tuần tự, thọ tưởng hành cũng không.

Không năm uẩn, giác chơn không,

Giác chơn cũng tức lý không cuộc đời.

Không còn vọng cảnh vẻ vời,

Không ý chí, khổ không nơi gá vào.

Muốn nuôi chơn giác tối cao,

Diệt thức trí, bỏ hành mau, tưởng cần.

Dứt thọ cảm, không sắc thân,

Đến đây tất cả cảnh trần đều không.

Nghĩa là coi nhẹ sắc thân,

Xem thân như chết, khổ trần dứt luôn,

Đường luân hồi bặt dứt tăm,

Giác chơn cao viễn vô sanh niết bàn.

Ngũ uẩn cũng là nấc thang,

Trình độ, lớp học, con đàng đi lên,

Trong cái khổ, gió làm duyên,

Bài học kinh nghiệm tiến thêm dần dần,

Từ vật chất, đến tinh thần,

Từ thân sắc đến giác chân trọn hiền.

XII. NGŨ UẨN NẾU MẤT CHÚNG SANH ĐIÊN

Nếu nói ngũ uẩn là duyên,

Tứ đại, kết hợp cao trên người trời.

Phật là giác chơn cao vời,

Nên ví ngũ uẩn như người có thân.

Mình đầu năm thể làm nhân,

Thân hình trọn đủ của thân nhu cầu.

Về thân ba thứ khác nhau,

Biểu thị trình độ nhân nào quả theo.

Năm uẩn ác, thân hình đen,

Ví như địa ngục tâm toàn bất lương.

Năm uẩn thiện, là thiên đường,

Thân hình thuần thiện, sáng gương thiện lành.

Năm uẩn trong sạch tịnh thanh,

Thân hình trong trắng tinh anh niết bàn.

Xuất gia, giải thoát trần gian,

Thanh tịnh, giác ngộ  con đàng chơn như.

Lại nữa năm ấm ví như,

Thân nóc, hành vách, sắc như nền nhà,

Tưởng đồ vật, thọ lẩm kho,

Giác là người chủ tự do ra vào.

Mê thì khổ não biết bao,

Thiên đường địa ngục ra vào tối tăm.

Giác ra khỏi chốn bụi hồng,

Niết bàn tỉnh lặng thong dong khỏe nhàn.

Luân hồi là kẻ còn đang,

Học sau, mệt nhọc, vào trường đang thi.

Ta hiểu để biết đường đi,

Nếu ở lớp thấp kiên trì bước lên.

Lâu hay mau tùy chí bền,

Quyết tâm kiên định ắt nên đạo mầu.

Niết bàn cảnh giới cao sâu

Không phải một bước tới đâu, mơ màng.

Làm người sống giữa trần gian

Năm ấm, tứ đại giác quan sống đời,

Cái biết sáng thì nhẹ vui,

Hơn là không biết khổ đời trầm luân.

Vui đạo lý vững tinh thần,

Gốc khổ tai họa, ngàn lần thương đau.

Vậy nên ta hãy mau mau,

Đạp ác là đất nâng cao thiện lành,

Con đường chơn lý vui thanh,

Noi theo gương Phật chắc thành tựu nên.

Niết bàn vĩnh viễn cao trên,

Sống vui, sống thiện, sống yên tinh thần.

Trái lại.

Địa ngục vô gián hành thân,

Cảnh giới điên đảo muôn phần thảm thương.

Khổ mất trí, khổ cùng đường,

Mất luôn thọ cảm hết đường tiến thân.

Ban đầu thức trí mất dần,

Trẻ nhỏ mê muội chơi thân thú cầm,

Hành vi không thể biệt phân,

Đến tư tưởng mất, sống gần cỏ cây,

Sau rốt thọ cảm si ngây,

Bốn đại tan rã, thân nầy mất luôn.

Mất ngũ uẩn, thân không còn,

Do nơi gốc ác ăn mòn thức tri,

Cái sống biết, bị diệt đi,

Do nơi cái khổ làm suy tinh thần.

Biết được cái khổ là nhân,

Mau lo sửa chửa, diệt lần quấy tham,

Nuôi cây thiện, ấy việc làm,

Ác là bệnh độc, thiện làm thuốc hay.

Muốn lo sắc thân thiện nầy,

Coi như không có, như mây ảo huyền,

Thân không, thọ cảm vui yên,

Thọ yên, tư tưởng được huyền bí sâu.

Tư tưởng huyền bí, đạo mầu,

Hành vi như được nhuốm màu thần thông.

Hành vi thông, thức trí đồng,

Huệ chơn sáng tỏ, linh thông diệu huyền.

Con đường giác ngộ hiện tiền,

Chơn như an định, cảnh thiền tự tâm.

Sắc thân ác,  bởi mê lầm,

Coi thân là có trăm năm vững bền.

Nào hay thân có nối liền,

Thọ cảm rối khổ, vui yên đặng nào.

Không an định, tưởng lao xao,

Tưởng không sáng suốt, lao vào đường mê.

Nói làm vô định, đi về,

Thức trí mờ mịt thảm thê cuộc đời.

Mê lầm không biết đầu đuôi,

Chánh tà, chơn vọng, buông xuôi, đánh liều.

Mặc cho ý dục liêu xiêu,

Đưa chơn nhắm mắt, thủy triều trôi lăn.

Nhục vinh, lợi hại, khổ thân,

Khổ vui làm gió, tâm thần đảo điên.

Rồi thì sống chết liên miên,

Có không, còn mất, không yên chút nào.

Ngàn đời, trăm kiếp, ra vào,

Con đường sanh tử  làm sao thoát vòng.

Con đường tiến hóa không thông,

Luân hồi quanh quẩn, khó trông hồi đầu.

XIII. PHÁP NUÔI NGŨ UẨN

Từ khi một quả địa cầu,

Nổ xẹt tắt lửa về lâu chỉ còn,

Lớp dầy lợn cợn không hơn,

Lâu ngày chất nặng lóng nền đất sanh,

Trên là nước lỏng lưu hành,

Còn là hơi gió chuyển vần trên cao.

Đất nặng dẽ đặc về sau,

Nóng phát nhiệt, lửa bốc cao vận hành.

Nước đất cuốn lại tạo thành,

Như bọt bóng nước xoay quanh lâu ngày.

Càng lúc đất nước đổi thay,

Đất nổi lên, nước lỏng rày ẩn sâu,

Gọi tên là quả địa cầu,

Một hành tinh nhỏ trong bầu không gian

Không cùng cái nổi, cái tan,

Không biết được, số lượng trong địa cầu.

Vô minh hay cái không đâu,

Võ trụ cảnh giới một mầu tối đen,

Có địa cầu, có tinh quang,

Nhật nguyệt sáng tối như đèn soi chung.

Bằng không thì cũng âm thầm,

Bao la im lặng, có không diệu kỳ.

Chơn lý tương đối chi li,

Có không, sanh hóa, chu kỳ tự nhiên,

Tự nhiên trong cảnh diệu huyền,

Tự nhiên chứa sẳn các duyên bao đời.

Ngũ uẩn vốn có từ nơi,

Tứ đại trước mặt, xa vời luận chi.

Sự sống trong võ trụ thì,

Địa cầu là uẩn khác gì thân ta.

Một thể sống trong tinh hà,

Tuy khác lớn nhỏ nhưng mà đủ năm,

Sắc, thọ, tưởng, thức trí, hành,

Những điều ác thiện, xoay quanh cuộc đời.

Sắc ác sanh sát sanh rồi,

Thọ ác sanh trộm của đời phù du.

Tưởng ác sanh tà dâm hư,

Hành ác lời nói vọng từ  không chơn,

Thức ác uống rượu mê hồn,

Năm điều tai hại phải luôn ngăn ngừa.

Năm ác như duyên đẩy đưa,

Cây sanh sâu, sâu hại sầu chết cây.

Sát sanh thì sắc thân nầy,

Phải giảm tuổi thọ quả nầy chết thân.

Trộm cắp cảm thọ mất dần,

Không cảm xúc, khổ xa gần mặc ai.

Tà dâm tư tưởng chết ngay,

Bởi tư tưởng quấy ngày ngày đốt thiêu.

Vọng ngữ thì luôn đặt điều,

Nói làm không đúng ít nhiều hại thân.

Uống rượu thức trí chết dần,

Chiêu đủ năm ác, thì còn uẩn đâu.

Những ai hiểu biết đạo mầu,

Nuôi uẩn sanh giác, nhân đâu quả kề.

Sắc thiện nhân ái vẹn bề,

Nghĩa ân Thọ thiện xum xuê quả lành,

Tưởng thiện lễ phép phát sanh,

Hành thiện biết giữ tín thành cùng nhau,

Thức thiện sanh trí huệ cao,

Kết quả chơn giác một màu thiện lương.

Ác chết, thiện sống chơn thường,

Đó là nhơn quả vấn vương cuộc đời.

Nhân ái nuôi dưỡng thân người,

Nghĩa ân bồi đắp niềm vui tự lòng,

Lễ phép tư tưởng sạch trong,

Việc làm tín thiệt được lòng gần xa,

Trí huệ giúp thức thăng hoa,

Giác chơn ứng hiện, trụ tòa chơn như.

Chơn như kết quả hạnh tu,

Phải thường giác ngộ phù du cuộc đời.

Giác ngộ chơn như đi đôi,

Không bị tam độc kéo lôi dắt đường.

Không bị tam độc nhiễu nhương,

Dứt hết khổ não con đường vô sanh.

XIV. NGŨ UẨN CỦA THỜI CUỘC

Ngày nay ngũ uẩn thạnh hành,

Do người từ chỗ tịnh thanh an bình,

Tìm đến xứ sở văn minh,

Thấy được máy móc công trình tối tân,

Phát minh sáng chế lạ lùng,

Nhà cao ngất ngưỡng không trung gọi mời,

Thuyền không chèo vượt biển khơi,

Xe không đẩy vẫn tới nơi mình cần.

Người có thể bay lên không,

Lặn sâu đáy biển vô cùng hay ho,

Máy bay, tàu lặn giúp cho,

Cơ khí tinh xảo nên lo kiếm tìm.

Thọ ưa thích, tưởng tượng nên,

Thi hành tạo sắm thêm kinh nghiệm nhiều,

Thức trí phân biệt đủ điều,

Sanh tình vọng chấp oán cừu tạo nên,

Chiến tranh bùng nổ hai bên,

Lạm dụng cơ khí, gây nên bất hòa,

Cảnh khổ diễn khắp gần xa,

Tột cùng cái khổ ngộ ra mê lầm.

Mới thấy điều thiện là cần,

Con người được học, lần lần hiểu ra.

Kinh nghiệm dứt bỏ quấy tà,

Trau dồi cái giác đó là sự tu.

Giác chơn quý nhất tối ưu,

Mọi người biết được sự tu tối cần.

XV. CHƠN LÝ CỦA VŨ TRỤ

Về thuyết ngũ uẩn rất cần,

Để người tu tập biết lần nẽo chơn.

Lối tu tập rất tự nhiên,

Biết xấu từ bỏ, tu thêm đức lành.

Ngũ uẩn nhiều pháp khác danh,

Uẩn của võ trụ từ thành đến không.

Uẩn của đời người xoay vần,

Sanh già đau chết có không một đời.

Sắc thân có, vọng thức mời,

Vọng pháp chi phối mê đời trầm luân.

Ngũ uẩn chia hai: có không,

Ác thiện, mê giác, thân tâm, ta người.

Phân ra từng loại pháp thôi,

Nhưng tóm lại, pháp lý thời là chơn.

Khi người giác ngộ cao hơn,

Tìm ra lẽ sống chánh chơn không lầm.

Không còn khổ não vì thân,

Không còn cố chấp cõi trần thực hư.

Chơn lý hai chữ danh từ,

Chơn là không vọng, chơn như cội nguồn.

Lý là lẽ thật tự nhiên,

Tự nhiên, tự tại, không phiền, không ưu.

Giác ngộ ra, biết đủ điều,

Tự nhiên chơn thật tiêu diêu thoát trần.

Thiện chánh rồi cũng có phần,

Không tà, không ác cũng gần chơn như.

Ngộ ra tối sáng đều vui,

Niết bàn an lạc, luân hồi cũng xong.

Tự tánh chơn như sạch trong,

Tự tánh chơn thật cũng đồng tự nhiên.

Tóm lại.

Chúng sanh có do nhân duyên,

Bởi ấm tích tụ, nên chuyền nảy sanh,

Hợp tan, tụ tán, xoay vần,

Tứ đại chuyển, vạn vật lần hóa sanh.

Nhân duyên tích tụ sẳn dành,

Lâu lắm mới được tái sanh thân người.

Luân hồi gian khổ nhiều đời,

Khó lắm mới được thân người lịch xinh.

Ai mà biết sống trung bình,

Sống đúng chơn lý trọn tình thủy chung.

Sống an vui, sống sạch trong,

Niết bàn một kiếp thật không xa vời,

Chúng ta mau hãy đến nơi,

Giác chơn đạo lý cao vời chơn như./.                               

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết: