CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !

Khuyên Phát Tâm Bồ Đề phổ thơ - Phần 1

 Thật Hiền ở chùa Phạm Thiên,

Hàng Châu đất Thánh anh linh nhiệm mầu.

Thật Hiền đảnh lễ cúi đầu,

Khóc than lệ máu ngõ hầu nói ra.

Tăng Ni, Thiện tín gần xa,

Cúi mong quý vị tiến và lướt lên.

Tu hành lập hạnh đầu tiên,

Phát tâm giác ngộ bền kiên vững vàng.

Nguyện trên thành Phật dễ dàng,

Dưới thì độ hết nhân gian muôn loài.

Phát tâm lập nguyện bổn hoài,

Bồ-đề ruộng tốt sanh ra quả lành.

Nếu quên phát nguyện chí thành,

Cũng như nấu cát, mong thành có cơm.

Tu trì khổ nhọc luống công,

Bồ-đề quên mất nguyện không thể thành.

Hoa Nghiêm kinh dạy rõ rành,

Quên tâm giác ngộ tu hành nghiệp ma.

Mỗi người học đạo Như Lai,

Phát nguyền rộng lớn sớm mai tinh cần.

Bồ-đề tám thứ rõ ràng,

là số một luôn ham mong cầu.

Hư danh lợi dưỡng làm đầu,

Hoặc ham dục lạc đời sau não phiền.

Tự tâm không biết tham thiền,

Tu theo sự tướng đó thành tâm.

Khen chê lợi dưỡng không màng,

Không ham dục lạc thế gian cõi trần.

Chỉ mong thoát khỏi tử sanh,

Bồ Đề chứng đắc đó thành CHÁNH tâm.

Nguyện trên thành Phật hoá thân,

Đưa tay cứu vớt chúng sanh muôn loài.

Con đường thành Phật lâu xa,

Cũng không thối chí quyết mà độ sanh.

Chúng sanh khó độ vô vàn,

Cũng không chán nản lòng càng cố lên.

Quyết trèo lên tận núi cao,

Như leo vạn trượng chẳng nao núng lòng.

Trèo lên tháp lớn chín tầng,

Cố lên tột nóc lòng càng vui thay.

Thân an, tâm tịnh hằng ngày,

Phát tâm như vậy gọi là CHÂN tâm.

Nếu không sám hối lỗi lầm,

Ngoài thanh, trong trược tội làm nhiễm ô.

Trước siêng, sau biếng nhập vào,

Lợi danh xen lẫn như lao ngục hình.

Dù tu thiện pháp muôn nghìn,

Phát tâm như vậy gọi thành NGUỴ tâm.

Đại nguyền độ hết chúng sanh,

Bồ-đề viên mãn nguyện thành mới thôi.

Giong thuyền Bát Nhã độ đời,

Phát tâm rộng lớn gọi người ĐẠI tâm.

Tư duy đi, đứng, ngồi, nằm,

Xét xem ba cõi trong vòng trầm luân.

Không lòng cứu vớt chúng sanh,

Luân hồi nhiều kiếp tử sanh xoay vần.

Tự tu ra khỏi cõi trần,

Mặc người đau khổ muôn phần thảm thương.

Lòng không bi cảm xót thương,

Phát tâm như vậy gọi rằng TIỂU tâm.

Ngoài tâm thấy có chúng sanh,

Công phu không xả thường hành một bên.

Trên đường công hạnh chẳng quên,

Sự nghe, thấy, biết lệch nên sai lầm.

Bồ-đề tự tánh xa dần,

Phát tâm như vậy đó thành THIÊN tâm.

Chúng sanh tự tánh nguyện thành,

Tánh là Phật đạo viên thành công phu.

Có tu mà chẳng thấy tu,

Chúng sanh được độ cũng như bình thường.

Chúng sanh tự tánh hư không,

Tâm nguyền độ hết VIÊN thành là đây.

Bồ-đề tám tướng khác nhau,

Tà, Thiên, Tiểu, Nguỵ bỏ ngay không màng.

Chánh, Chân, Viên, Đại rõ ràng,

Hằng ngày ứng dụng trên đàng hoá duyên.

Du phương độ chúng khắp miền,

Phát tâm giác ngộ gọi Hiền Sĩ nhân.

Đủ duyên mới phát nguyện lành,

VUA trong các pháp lành xưa nay.

Nhân duyên nay được nói ra,

Mười điều nên biết niệm mà nhớ ơn.

Một ơn Đức Phật - Thái Sơn,

Hai là Cha Mẹ công ơn không lường.

Ba ơn Sư Trưởng tình thương,

Bốn ơn Thí Chủ hằng thường cúng dâng.

Năm là nhớ tưởng Chúng Sanh,

Sáu là nhớ Khổ Tử - Sanh nhiều đời.

Bảy là Linh Tánh trong người,

Tám là Sám Hối nhiều đời oan khiên.

Chín sanh Tịnh Độ xứ hiền,

Mười nguyền Chánh Pháp hoằng truyền dài lâu

Vì sao ơn Phật cao sâu?

Vì thương muôn loại đớn đau vô vàn.

Hạnh nguyền Bồ Tát muôn ngàn,

Phật dùng phương tiện chỉ đàng thoát ra.

Làm người trong cõi Ta-bà,

Sáu đường lên xuống lại qua thường thường.

Phật càng thấy vậy xót thương,

Chỉ ta phát nguyện gieo trồng thiện căn.

Đời đời, kiếp kiếp hằng gần,

Lòng không tạm bỏ một lần sát-na.

Khi Ngài bỏ thế xuất gia,

Ta ham dục lạc Ta-bà trầm luân.

Đến khi ta được huyễn thân,

Thì Ngài nhập diệt, đâu gần Thế Tôn.

Hằng ngày sám hối tội mòn,

Nghiệp gì không thấy kim thân đức Ngài?

Phước gì lại được xuất gia?

Cung nghinh xá lợi đức Ngài cúng dâng.

Nhiều đời gieo tạo thiện căn,

Thọ ân Đức Phật sánh bằng Tu Di.

Phát tâm quảng đại tu trì,

Hành Bồ-tát đạo cũng vì chúng sanh.

Dù cho thịt nát xương tan,

Tâm nguyền độ hết vô vàn chúng sanh.

Một lòng, một dạ chí thành,

Nhân duyên thứ nhất phát tâm bo-đề.

Thương thay cha mẹ sanh ta,

Mang thai mười tháng mong ta chào đời.

Ba năm bú mớm không rời,

Nhường khô, nằm ướt ơn người nuôi ta.

Công lao sâu nặng bao la,

Thâm ân cha mẹ khó mà đáp ơn.

Nuôi con khổ cực không sờn,

Mong ta tiếp nối tông phong gia đường.

Lo phần tế tự, cúng dường,

Thế mà con chẳng hiểu tường song thân.

Nay con làm bậc Sa-môn,

Lạm xưng Thích tử con dòng Thích Ca.

Món ngon không dưỡng mẹ cha,

Cửu huyền thất tổ chẳng hề cúng dâng.

Mẹ cha còn sống cõi trần,

Cũng không nuôi dưỡng đáp ân song đường.

Đến khi cha mẹ qua đời,

Tâm linh không thể tiếp người vãng sanh.

Thế gian tổn lớn bội phần,

Xuất gia cũng chẳng đền ơn nghĩa gì.

Hai đường tổn thất tội ghi,

Ngày đêm suy nghĩ phát nguyền lo tu.

Trăm đời ngàn kiếp công phu,

Thường hành Phật đạo ngõ hầu độ sanh.

Nhiều đời, nhiều kiếp song thân,

Người người đều được siêu thăng Liên Đài.

Đó là nhân duyên thứ hai,

Bồ-đề phát nguyện chẳng sai tấc lòng.

Nhớ ơn Sư Trưởng dày công,

Dạy khuyên hướng dẫn thoát đường tử sinh.

Mẹ cha sanh dưỡng thân hình,

Nếu không Sư Trưởng tận tình dạy răn.

Thì không biết lễ thế gian,

Cũng như Phật Pháp vô vàn cao siêu.

Hằng ngày thấm nhuận giới điều,

Ca-sa thân đắp tạo nhiều phước duyên.

Nhớ ơn Sư Trưởng thường xuyên,

Phát tâm rộng lớn phổ nguyền độ sanh.

Lợi mình, lợi chúng lòng thành,

Thế gian, xuất thế thực hành từ bi.

Nhân duyên thứ ba cũng vì,

Bồ-đề tâm lớn mãi ghi ân Thầy.

Nhớ ơn thí chủ hằng ngày,

Bốn mùa vật dụng cần dùng điều dâng.

Gian nan cực khổ không cần,

Mong rằng Tăng chúng có phần thảnh thơi.

An vui tu học suốt đời,

Trang nghiêm phước huệ tuỳ thời độ sanh.

Vậy nên ta gắng thực hành,

Từ, Bi, Hỷ, Xả phước dành trả ân.

Nếu không phát nguyện tu hành,

Chỉ là hạt gạo, cọng hành, lá rau.

Có phần trả nợ với nhau,

Đền ơn thí chủ kiếp sau khổ phiền.

Làm trâu, bò, ngựa kéo khiên,

Đàn-na nặng lắm phát nguyền rán tu.

Đó là nhân duyên thứ tư,

Bồ Đề tâm phát khư khư dặn lòng.

Chúng sanh tâm tưởng sạch trong,

Từ vô lượng kiếp mênh mông đến giờ.

Làm cha, làm mẹ hiện đời,

Đây cha, đó mẹ nhiều đời với nhau.

Làm sao suy nghĩ ra mau,

Xuống lên nhiều kiếp, xưa nay xoay vần.

Thay cha đổi mẹ không chừng,

Bà con nhiều kiếp nhưng thường lạ xa.

Ấu thơ lìa bỏ mẹ cha,

Đến khi khôn lớn con đà hẳn quên.

Huống gì địa ngục xuống lên,

Thay hình, đổi dạng kêu rên thét gào.

Họ mong cầu cứu làm sao,

Thoát lìa khổ cảnh, được vào tự do.

Nơi kinh đức Phật chỉ cho,

Còn người tà kiến làm sao hiểu gì.

Cho nên Bồ-tát nghĩ suy,

Mẹ cha nhiều kiếp cũng vì thương con.

Quán xem quá khứ vị lai,

Nghĩ thường nhiều cách trả ơn khôn cùng.

Đó là nhân duyên thứ năm.

Bồ-đề tâm phát ngàn năm nhớ hoài.

Đời người khổ luỵ bi ai,

Từ vô lượng kiếp kéo dài đến nay.

Mãi trong bể khổ vần xoay,

Luân hồi sanh tử chưa hồi thoát ly.

Loài người, thiên giới mãi đi,

Ra vào đủ cách, xuống lên liền liền.

Làm trời thoáng chốc làm người,

Rơi vào địa ngục, hoặc loài súc sanh.

Cửa đen, chiều sáng đành rành,

Tạm lìa ra khỏi, chốc sanh bước vào.

Núi đao thân thể không còn,

Mảnh da nguyên vẹn, tim gan cắt lìa.

Ruột gan, cháy nát kia kìa,

Nước đồng sôi sục uống vào xương tan.

Xẻ thân, cắt dọc, cắt ngang,

Có luồng gió lạ thổi vào sống ngay.

Trong thành lửa dữ gớm thay,

Thét gào thảm thiết chân tay rụng rời.

Âm thanh thống thiết khổ thời,

Tuyết băng đông lại, thịt rời rã ra.

Máu như sen đỏ nở hoa,

Ở trong địa ngục thiệt là xót thương.

Ngày đêm sống chết vạn lần,

Buổi mà chịu khổ như trăm ngàn đời,

Mãi làm Ngục Tốt mệt nhoài,

Diêm Vương khuyên bảo cũng hoài luống công

Khổ đau mới biết tỉnh lòng,

Ăn năn hối hận mong rằng thoát ly.

                                                   (Còn tiếp)

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết: